02623 852247 | daklak@nso.gov.vn

Thông cáo báo chí tình hình Kinh tế xã hội tỉnh Đắk Lắk năm 2025

06/01/2026 19:46

I. Những thuận lợi và khó khăn

Năm 2025, tình hình kinh tế thế giới và khu vực biến động phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt hơn; xung đột tại một số khu vực tiếp tục kéo dài; kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, tiềm ẩn nhiều rủi ro; thị trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động; khoa học công nghệ và các xu hướng mới nổi như: chip, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh tiếp tục phát triển mạnh; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn biến bất thường gây hậu quả nghiêm trọng. Ở trong nước, đây là năm đặc biệt quan trọng, thực hiện nhiều chủ trương, quyết sách mang tính nền tảng nhằm chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới 2026 - 2030 như: thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các dự án trọng điểm quốc gia đồng loạt triển khai tạo động lực tăng trưởng nền kinh tế. Tuy nhiên, những thuận lợi và thách thức đan xen, trong đó khó khăn lớn nhất là các yếu tố bất lợi từ bên ngoài và những hạn chế nội tại của nền kinh tế kéo dài nhiều năm.

Thuận lợi: Về phía tỉnh Đắk Lắk, với tinh thần quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt theo chủ đề “Kỷ cương trách nhiệm; chủ động kịp thời; tinh gọn hiệu quả; tăng tốc bứt phá”, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk năm 2025 tiếp tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) vẫn duy trì đà tăng trưởng. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, giá các sản phẩm nông nghiệp như: cà phê, hồ tiêu tiếp tục duy trì ở mức cao góp phần làm tăng thu nhập cho người dân. Sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, huy động vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ năm 2024. Nhiều sự kiện văn hóa, lễ hội, thể thao diễn ra sôi nổi, góp phần thu hút lượng lớn khách du lịch đến với tỉnh, thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng cao; tình hình thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc, nhiều dự án quy mô lớn, tạo động lực phát triển, sức lan tỏa cho địa phương. Bên cạnh đó, công tác an sinh xã hội, chăm sóc người có công, giảm nghèo tiếp tục được quan tâm, triển khai kịp thời. Quốc phòng được tăng cường; chủ quyền, lãnh thổ, an ninh biên giới được giữ vững.

Khó khăn: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn và tổng vốn đầu tư thực hiện năm 2025 không đạt kế hoạch đề ra; Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, số doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động, giải thể cao; Tiến độ triển khai các dự án còn chậm, tỷ lệ giải ngân đạt thấp so với bình quân cả nước; Việc tháo gỡ vướng mắc cho các dự án động lực còn chậm; Nguồn thu ngân sách nhà nước chưa bền vững, trong đó nguồn thu từ tiền sử dụng đất còn đạt thấp so với kế hoạch; Kinh tế nông nghiệp phát triển chưa bền vững; Các dịch vụ phục vụ du lịch còn hạn chế, chưa có sản phẩm mới, đặc trưng để thu hút khách du lịch; Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo ở một số địa phương còn cao; Dịch bệnh, thiên tai, cháy nổ và vi phạm an toàn giao thông vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương ít nhiều đã tác động không nhỏ đến đời sống của người dân.

II. Kết quả đạt được 

1. Tăng trưởng kinh tế: Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh (giá so sánh 2010) năm 2025 ước đạt 102.036 tỷ đồng, tăng 6,68% so với cùng kỳ[1], xếp vị thứ 30/34 tỉnh, thành phố. Trong đó, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 32.799,7 tỷ đồng, tăng 4,53% (KH tăng 5,56%), đóng góp 22,67% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng đạt 21.029 tỷ đồng, tăng 9,19% (KH tăng 11,62%), đóng góp 28,21%; Khu vực Dịch vụ đạt 44.291,9 tỷ đồng, tăng 7,48% (KH tăng 8,34%), đóng góp lớn nhất với 49,12% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế

Bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế tỉnh cho ta thấy Khu vực Dịch vụ chính là điểm sáng nhất với tốc độ tăng trưởng 7,48%, đóng góp lớn nhất 3,22 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Xét về mức độ đóng góp của các ngành trong Khu vực Dịch vụ cho thấy: ngành bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đóng góp lớn nhất là 0,77 điểm phần; tiếp theo là ngành hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm đóng góp là 0,4 điểm, tăng 7,86%; ngành hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị xã hội đóng góp 0,38 điểm, tăng 11,23%; dịch vụ lưu trú ăn uống đóng góp 0,27 điểm, tăng 7,35%; ngành thông tin và truyền thông đóng góp 0,26 điểm, tăng 5,33%; ngành vận tải kho bãi đóng góp 0,21 điểm, tăng 8,68% so với cùng kỳ năm trước...

Đứng ở vị trí thứ hai trong đóng góp vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế là Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đóng góp 1,85 điểm phần trăm, tăng 9,19%. Nổi bật trong khu vực này chính là ngành công nghiệp tăng 10,16% so với cùng kỳ và đóng góp 1,31 điểm phần trăm. Một số ngành có mức tăng trưởng tích cực trong ngành công nghiệp chính là: sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,86 điểm, tăng 12,53%; tiếp đến là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 0,49 điểm, tăng 7,14%. Ngành cung cấp nước, hoạt động xử lý rác thải đóng góp 0,04 điểm, tăng 9,96%. Riêng đối với ngành Xây dựng duy trì ổn định tăng 7,45%, đóng góp 0,54 điểm là do các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh đã và đang đưa vào thực hiện.

Đứng ở vị trí cuối cùng chính là Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,49 điểm phần trăm, tăng 4,53%. Tuy nhiên, cơn bão số 13 và đợt mưa lũ lịch sử từ ngày 15-21/11/2025 đã gây thiệt hại rất lớn cho khu vực này, làm giảm mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2025. Trong đó, Ngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo đóng góp 1,4 điểm, tăng 4,87%. Ngành lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì mức đóng góp ổn định.

Năm 2025, Thuế sản phẩm và trợ cấp sản phẩm đã tăng 2,99%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm, trong đó thuế giá trị gia tăng và các loại thuế sản phẩm khác còn lại đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2025 (theo giá hiện hành): Giá trị tổng sản phẩm ước đạt 229.549,7 tỷ đồng, đạt 99,52% KH năm. Trong đó: Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 88.318,7 tỷ đồng, vượt 5,00% kế hoạch, chiếm 38,47% trong giá trị tổng sản phẩm, tăng 0,14 điểm phần trăm so với tỷ trọng nền kinh tế năm 2024; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 40.551,5 tỷ đồng, đạt 90,67% so kế hoạch, chiếm 17,67%, tăng 0,11 điểm phần trăm; Khu vực Dịch vụ đạt 91.983,4 tỷ đồng đạt 99,18% kế hoạch, chiếm 40,07%, giảm 0,1 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 8.696,1 tỷ đồng, đạt 95,80% kế hoạch năm, chiếm 3,79%, giảm 0,15 điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm 2024.

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người (theo giá hiện hành) tăng khá, ước năm 2025 đạt 80,6 triệu đồng/người, tăng 13,25% so cùng kỳ năm trước[2]

Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP tỉnh năm 2025 là 7,67%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong năm 2025, ngành nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá (+4,53%), khẳng định vai trò trụ đỡ nền kinh tế của tỉnh. Tuy có những thuận lợi và thách thức đan xen, trong đó có yếu tố tác động của biến động thị trường, thời tiết, khí hậu, thiên tai song với sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, ngành nông nghiệp năm 2025 đã đạt được những kết quả nhất định.

a) Nông nghiệp: Ước năm 2025, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm của tỉnh đạt 458.279 ha, tăng 1,28% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lương thực có hạt đạt 1.818.757 tấn, tăng 2,67% (+47.231 tấn).

- Cây lúa: Diện tích lúa cả năm ước đạt 176.368 ha, tăng 2,18% (+3.771 ha), năng suất lúa ước đạt 72,35 tạ/ha, tăng 0,73% (+0,53 tạ/ha) và sản lượng lúa đạt 1.275.944 tấn, tăng 2,93% (+36.305 tấn) so cùng kỳ năm trước.

- Cây hàng năm khác: Diện tích ngô 82.255 ha, tăng 0,03%, sản lượng đạt 542.813 tấn, tăng 2,05%; khoai lang 5.967 ha, tăng 0,47%, sản lượng đạt 121.231 tấn, tăng 2,28%; sắn đạt 61.151 ha, giảm 7,29%, sản lượng đạt 1.464.324 tấn, giảm 7,35%; đậu tương 987 ha, giảm 9,28%, sản lượng đạt 1.755 tấn, giảm 1,24%; lạc 4.632 ha, giảm 15,37%, sản lượng đạt 9.295 tấn, giảm 10,38%; mía 46.583 ha, tăng 7,08%, sản lượng đạt 3.353.945 tấn, tăng 11,90%; rau các loại 22.424 ha, tăng 0,20%, sản lượng đạt 439.493 tấn, tăng 2,93%; đậu các loại 22.191 ha, giảm 1,33%, sản lượng đạt 26.762 tấn, tăng 0,03% so với cùng kỳ năm trước.

- Cây lâu năm: Sơ bộ năm 2025, tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm của tỉnh ước đạt 392.006 ha, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích cây ăn quả là 79.925 ha, tăng 2,96%[3]; cây công nghiệp lâu năm chủ yếu[4] là 306.020 ha, tăng 0,83%.

+ Cây ăn quả: Diện tích cây sầu riêng ước đạt 41.828 ha, tăng 5,77% so với cùng kỳ năm trước, diện tích cho sản phẩm là 26.011 ha, tăng 14,04%, sản lượng đạt 443.383 tấn, tăng 21,40%. Diện tích cây bơ toàn tỉnh ước đạt 3.764 ha, giảm 7,88%; diện tích cho sản phẩm 3.465 ha, giảm 4,62%; sản lượng bơ toàn tỉnh là 42.691 tấn, giảm 3,19%. Ước diện tích mắc ca toàn tỉnh đạt 7.562 ha, tăng 0,92%; diện tích cho sản phẩm là 4.009 ha, tăng 26,59%; sản lượng thu hoạch là 8.707 tấn, tăng 27,46%.

+ Cây công nghiệp lâu năm chủ yếu: Diện tích cây cà phê của tỉnh năm 2025 là 217.026 ha, tăng 1,29%, diện tích cho sản phẩm là 202.435 ha, tăng 0,33%; dự ước sản lượng cà phê năm nay đạt 582.113 tấn, tăng 3,17%; năng suất đạt khoảng 28,76 tạ/ha, tăng 2,84%. Trong những tháng cuối năm 2025, giá cà phê có nhiều biến động tăng/giảm, tuy nhiên vẫn tăng cao so với cùng kỳ năm trước và duy trì ở mức 95.000 – 96.000 đồng/1 kg, nguyên nhân do cầu lớn hơn cung. Diện tích cây cao su toàn tỉnh hiện nay là 33.782 ha, tăng 1,28%, diện tích cho sản phẩm ước đạt 24.874 ha, tăng 8,32%; sản lượng mủ cao su khai thác ước đạt 39.488 tấn quy khô, tăng 7,81%; năng suất ước đạt 15,88 tạ/ha, giảm 0,46%. Diện tích cây tiêu toàn tỉnh hiện nay là 28.804 ha, tăng 1,77%, diện tích cho sản phẩm là 25.354 ha, tăng 3,14%; sản lượng tiêu thu hoạch ước đạt 79.300 tấn, tăng 4,84%; năng suất ước đạt 31,28 tạ/ha, tăng 1,65%.

- Chăn nuôi: Năm 2025, đàn gia súc giảm, đàn gia cầm phát triển ổn định. Đàn lợn thịt có xu hướng phát triển theo mô hình chăn nuôi tập trung, hình thức nuôi công nghiệp, bán công nghiệp là chủ yếu. Sản lượng xuất chuồng gia súc, gia cầm quý IV/2025 giảm do ảnh hưởng của mưa bão đã tác động đến sản lượng xuất chuồng của tỉnh năm 2025. Dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm vẫn còn xảy ra ở một số địa phương đã ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người dân.

Quy mô đàn gia súc, gia cầm chủ yếu toàn tỉnh là 22.239,2 nghìn con, trong đó: Đàn trâu hiện có 30,39 nghìn con, giảm 1,56%; sản lượng thịt trâu xuất chuồng là 3.104 tấn, giảm 9,24%. Đàn bò hiện có 402,49 nghìn con, giảm 0,80%; sản lượng thịt bò xuất chuồng là 38.308 tấn, giảm 1,86%. Đàn lợn hiện có 1.088,29 nghìn con, tăng 5,29%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 224.104 tấn, tăng 0,95%. Đàn gia cầm hiện có 20.718 nghìn con, tăng 0,55%; Sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng là 111.755 tấn, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước.

b) Lâm nghiệp: Công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ và tái sinh rừng phát huy hiệu quả. Tình hình khai thác gỗ giữ nhịp ổn định, đảm bảo nguồn cung cho công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh. Số vụ phá rừng giảm so với cùng kỳ năm 2024 là nhờ công tác bảo vệ rừng luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chú trọng.

- Phát triển rừng: Sơ bộ năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã trồng được 11.898 ha rừng, giảm 4,28%, trong đó, diện tích rừng sản xuất trồng mới là 11.793 ha, giảm 4,32%; diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng trồng mới là 105 ha, ổn định.

- Khai thác lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 946.812 m3, tăng 0,15%, chủ yếu là gỗ nguyên liệu giấy. Sản lượng củi là 553.619 ste, tăng 6,83% là do nhu cầu sử dụng củi đốt của người dân trong nấu ăn, sưởi ấm, đặc biệt là vùng sâu vùng đồi núi của bà con người dân tộc thiểu số.

- Vi phạm lâm luật: Trên địa bàn tỉnh có 952 vụ vi phạm lâm luật, giảm 22,66%; trong đó có 702 vụ phá rừng, giảm 21,91% với diện tích bị phá là 184,46 ha, giảm 24,61%; diện tích rừng bị cháy là 7 ha; khai thác rừng trái phép 42 vụ; phương tiện tịch thu, tạm giữ bao gồm: ô tô, máy kéo, công nông 05 chiếc, xe máy 60 chiếc, máy móc các loại 46 chiếc, công cụ thường 72 chiếc. Gỗ tịch thu 426,478 m3 gỗ tròn, xẻ các loại. Tổng số tiền đã thu nộp ngân sách 3.125,9 triệu đồng.

c) Thủy sản: Năm 2025 là một năm khó khăn đối với ngành thủy sản. Mặc dù sản lượng tổng thể tăng nhưng các đợt thiên tai cuối năm (quý IV) đã gây tổn thất lớn cho hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản, nhất là khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk.

Diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh ước năm 2025 đạt 8.599 ha, giảm 0,07%, hình thức nuôi chủ yếu theo phương thức thâm canh và bán thâm canh.

        Sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 114.529,9 tấn, tăng 2,64%, trong đó sản lượng thủy sản khai thác là 73.750,4 tấn, tăng 3,58%; sản lượng thủy sản nuôi trồng (nuôi nước ngọt và nuôi lồng bè, bể bồn) là 40.779,5 tấn, tăng 0,99%.

        3. Sản xuất công nghiệp: Hoạt động sản xuất công nghiệp năm 2025 trên địa bàn tỉnh nhìn chung duy trì đà tăng trưởng khá, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong tháng 11/2025, đợt thiên tai lớn đã ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, vận chuyển nguyên liệu, thành phẩm và tiêu thụ sản phẩm của một số ngành công nghiệp, làm chậm nhịp tăng trưởng trong ngắn hạn. Mặc dù vậy, với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và các giải pháp điều hành kịp thời của chính quyền địa phương, sản xuất công nghiệp vẫn giữ được sự ổn định; các ngành công nghiệp cấp I đều ghi nhận xu hướng tăng, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành sản xuất, phân phối điện tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng chung của toàn ngành.

        Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2025 dự ước tăng 11,02% so với năm trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao phản ánh sự mở rộng về sản lượng sản xuất của các ngành công nghiệp chủ lực; tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơ cấu ngành và yếu tố giá, mức tăng giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp đạt thấp hơn so với mức tăng IIP.

        Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,62%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu của toàn ngành, với 15/21 ngành công nghiệp cấp II có mức tăng trưởng; một số ngành tăng cao như: sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 17,52%, sản xuất thiết bị điện tăng 11,97%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 6,73%. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,26%, góp phần cung cấp nguyên liệu cho xây dựng và sản xuất. Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,98%, bảo đảm cung ứng năng lượng phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt. Ngành cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,66%, trong đó hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu tăng 9,92%, góp phần duy trì các dịch vụ công ích thiết yếu trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất giảm so với năm trước như: sản xuất đồ uống giảm 1,61%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 2,07%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 16,31%, phản ánh những khó khăn về thị trường tiêu thụ và chi phí đầu vào trong năm.

        Về sản lượng sản phẩm công nghiệp chủ yếu, năm 2025 ghi nhận nhiều nhóm sản phẩm tăng so với năm trước, trong đó: nhóm năng lượng với sản lượng thủy điện và điện sinh khối đạt 7.108,4 triệu kWh, tăng 22,69%; nhóm công nghiệp chế biến nông sản như cà phê bột các loại đạt 58,3 nghìn tấn, tăng 28,72%, cá ngừ đóng hộp đạt 6.706,6 tấn, tăng 19,79%; nhóm công nghiệp nhẹ với quần áo da thuộc đạt 12,8 triệu cái, tăng 16,13%; nhóm vật liệu xây dựng với đá xây dựng khác đạt 2.083,9 nghìn m³, tăng 7,84%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm do nhu cầu thị trường suy giảm và khó khăn chung của nền kinh tế như: vỏ bào, dăm gỗ giảm 7,80%; bàn bằng gỗ các loại giảm 14,64%; cấu kiện thép và cột bằng sắt, thép giảm 33,92% so với cùng kỳ năm trước.

        Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2025 tăng 19,75% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, một số ngành có mức tăng cao như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 67,11%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 32,41%; sản xuất kim loại tăng 31,02%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 28,24%. Tuy nhiên, một số ngành giảm mạnh như: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 18,06%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 30,20% so với cùng kỳ năm trước.

        Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2025 giảm 2,65% so với thời điểm tháng trước và giảm 56,39% so với cùng thời điểm năm trước, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đã được cải thiện rõ rệt, phản ánh sự phục hồi của thị trường và hiệu quả điều chỉnh kế hoạch sản xuất của các doanh nghiệp.

        Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp năm 2025 tăng 11,34% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 38,44% do sắp xếp, kiện toàn tổ chức và bổ sung nhân lực tại một số đơn vị công ích, trong khi lao động khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 1,48% do doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất và thích ứng với điều kiện thị trường.

           4. Hoạt động của doanh nghiệp

Phát triển doanh nghiệp: Trong năm, ước toàn tỉnh có 3.168 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 85,90% so với kế hoạch, tăng 63,64% so với năm trước; tổng vốn đăng ký ước đạt 33.601 tỷ đồng, vượt 27,04% so với kế hoạch, gấp 2,54 lần so với năm trước; đồng thời có 626 doanh nghiệp tạm ngừng đã quay trở lại hoạt động kinh doanh, tăng 15,07%. Bên cạnh đó, toàn tỉnh ước có 548 doanh nghiệp giải thể, tăng 49,73% so với năm trước và 1.421 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 15,53%.

Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2025 cho thấy 40,43% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý III/2025; 34,04% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 25,53% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn. Dự kiến quý I/2026, có 34,04% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý IV/2025; 42,55% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 23,40% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

5. Thương mại và dịch vụ: Ngành Thương mại – dịch vụ của tỉnh Đắk Lắk trong năm 2025 tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu” của kinh tế địa phương, với tăng trưởng ổn định, đóng góp lớn vào tổng sản phẩm GRDP. Hoạt động bán lẻ, tiêu dùng nội địa duy trì đà tăng, trong khi dịch vụ du lịch, logistics và thương mại điện tử mở ra nhiều cơ hội phát triển.

Ước năm 2025, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 189.251,8 tỷ đồng, tăng 13,56% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 157.938,9 tỷ đồng, tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 83,45% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung, đó là mặt hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 62,91%; nhiên liệu khác tăng 24,0%; ô tô các loại tăng 32,21%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,15%;…Một số mặt hàng có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: hàng may mặc chỉ tăng 1,31%; hàng hoá khác tăng 1,26%; vật phẩm văn hoá giáo dục tăng 12,98%;…đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ;

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 20.379,3 tỷ đồng, tăng 16,08% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 10,77% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 2.171,6 tỷ đồng, tăng 21,98%; dịch vụ ăn uống đạt 18.207,6 tỷ đồng, tăng 15,41%.

Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch đạt 146,4 tỷ đồng, tăng 26,84%.

Dịch vụ khác đạt 10.787,2 tỷ đồng, tăng 14,93% so với cùng kỳ năm trước.

 Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 9.530,9 tỷ đồng, tăng 10,34% so cùng kỳ năm trước; Ước tính vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 30.754 ngàn lượt hành khách và 3.101 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,26% về khối lượng vận chuyển và tăng 22,72% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 16.489 ngàn tấn và 2.071 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,52% về khối lượng vận chuyển và tăng 5,49% về khối lượng luân chuyển hàng hóa.

Ước năm 2025, tổng số lượt khách phục vụ là 5.870.180 lượt, tăng 21,55% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lượt khách ngủ qua đêm là 4.197.148 lượt, tăng 24,16%, khách trong ngày là 1.673.032 lượt, tăng 15,47% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng số lượt khách du lịch theo tour là 32.319 lượt, tăng 82,92%, trong đó: khách đi trong nước là 29.835 lượt, tăng 104,07% so với cùng kỳ năm trước.

6. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm: Mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay ổn định và an toàn. Thu ngân sách nhà nước năm 2025 có kết quả tích cực hơn so với cùng kỳ năm 2024, tỷ lệ thực hiện so với dự toán tăng, trong đó tăng mạnh nhất ở thu nội địa. Chi NSNN đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả trong khả năng cân đối ngân sách tỉnh.

Tổng vốn huy động năm 2025 ước đạt khoảng 169.800 tỷ đồng, tăng 19,7% so với đầu năm, đạt 103,8% so với kế hoạch. Dư nợ cho vay ước đạt khoảng 256.300 tỷ đồng, tăng 14% so với đầu năm, đạt kế hoạch đề ra; nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng 0,89% trên tổng dư nợ, duy trì trong ngưỡng an toàn. Dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 14.080 tỷ đồng tăng 9,62% so với đầu năm, ước đạt 99,6% kế hoạch, đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo và các hộ có hoàn cảnh khó khăn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu an sinh xã hội tại địa phương.

Năm 2025, tổng thu NSNN ước đạt 17.833 tỷ đồng[5], tăng 27,86% so với cùng kỳ năm trước và vượt dự toán được giao. Chia ra: thu nội địa ước đạt 17.893,3 tỷ đồng, tăng 28,50% (trong đó: thu phí, lệ phí tăng 25,45%, thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng 23,05%...); Thu viện trợ là gần 34,0 tỷ đồng, giảm 7,88% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 42.090 tỷ đồng, tăng 24,10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển là 13.648,4 tỷ đồng, tăng 37,81% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 32,43% tổng chi; chi thường xuyên là 28.433,4 tỷ đồng, tăng 18,48%, chiếm 67,55%; chi khác gần 0,19 tỷ đồng, tăng 3,79% so với cùng kỳ năm trước; chi trả nợ lãi 3,7 tỷ đồng, tăng 12,76%...

Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ước năm 2025 đạt 7.695,6 tỷ đồng, đạt 100,0% kế hoạch (KH), tăng 7,07% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi từ BHXH, BHYT, BHTN là 7.695,6 tỷ đồng, vượt 6,76% KH, tăng 21,01%. Ước số người tham gia bảo hiểm y tế là 2.634.630 người, đạt 100,0% KH, tăng 1,07%;

7. Vốn đầu tư thực hiện: Năm 2025, các chính sách về miễn giảm, giãn, hoãn thuế tiếp tục được triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh đã thúc đẩy đầu tư mới và mở rộng sản xuất, tăng cường thu hút và thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh ước đạt 61.202,9 tỷ đồng, tăng 4,53% so với thực hiện năm 2024. Trong đó, vốn khu vực Nhà nước đạt 20.668,4 tỷ đồng, giảm 2,72%; vốn khu vực ngoài nhà nước (dân cư và tư nhân) đạt 39.545,1 tỷ đồng, tăng 12,68%; vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài 989,4 tỷ đồng, giảm 55,25% so với cùng kỳ năm trước. Vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh so với cùng kỳ chủ yếu vì các dự án điện gió được đầu tư thực hiện năm 2024, đến năm 2025 cơ bản đã hoàn thành nên khối lượng thấp so với năm trước.

Kế hoạch đầu tư công năm 2025 toàn tỉnh Đắk Lắk sau điều chỉnh và bổ sung nguồn vốn cấp huyện (cũ) chuyển về là 16.482,837 tỷ đồng (Bổ sung quỹ đo đạc: 260,3 tỷ đồng; hoàn ứng quỹ phát triển nhà đất: 50 tỷ đồng; Thực hiện dự án: 16.172,537 tỷ đồng), trong đó đã giao chi tiết đến để thực hiện dự án là 15.923,221 tỷ đồng. Tính đến hết ngày 24/12/2025, vốn đầu tư công đã giải ngân đạt 7.407,89 tỷ đồng, đạt 46,52% kế hoạch, trong đó: Ngân sách Trung ương giải ngân đạt 3.893,359 tỷ đồng, đạt 44,66% kế hoạch ; nguồn vốn ngân sách địa phương giải ngân đạt 3.514,531 tỷ đồng, đạt 48,78% kế hoạch.

8. Xuất nhập khẩu: Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng khá. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 3.662 triệu USD, tăng 19,9%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1.940 triệu USD, tăng 39,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 ước đạt 2.801 triệu USD, tăng 26,1% so với năm 2024, vượt 25,3% kế hoạch. Sản lượng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: cà phê tăng 3,1%; hạt điều tăng 4,1%, cao su giảm 11,3%, hàng rau quả tăng 90,8%; giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản duy trì ở mức cao, góp phần làm kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, vượt mục tiêu đề ra.

Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 861 triệu USD, tăng 3,7% so với năm 2024, vượt 12,4% kế hoạch. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.

9. Chỉ số giá:

Giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2025 biến động ở nhiều nhóm hàng, đặc biệt là tháng 11 và 12/2025 do ảnh hưởng bởi đợt mưa lũ. Bình quân năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,07%.

a) Chỉ số giá tiêu dùng:

Bình quân năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,07%. Có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 15,65%, trong đó dịch vụ y tế tăng 19,44% là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng…Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 13,07%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,36% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng; một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng; các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,85%, trong đó thực phẩm tăng 4,55%, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,67%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,20% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, tết. Tương tự, nhóm May mặc, giày dép và mũ nón tăng 3,70%. Nhóm giáo dục tăng 3,52%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,75%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,87%. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,52%. Có 02 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyền thông giảm 1,06%; nhóm giao thông giảm 1,52%. Những mặt hàng giảm giá này đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025.

 b) Chỉ số giá vàng, giá đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá đô la tăng là do Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) điều chỉnh lãi suất đồng Đô la Mỹ. Bình quân năm 2025, giá vàng tăng 46,34%; giá Đô la Mỹ tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước.

II. Tình hình xã hội

a) Tình hình dân số, lao động, việc làm và an sinh xã hội

- Dân số: Dân số trung bình tỉnh Đắk Lắk là 2.849.199 người, tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: dân số nam 1.440.435 người, chiếm 50,56% tổng dân số, tăng 0,74%; dân số nữ 1.408.764 người, chiếm 49,44% tổng dân số, tăng 0,53%. Dân số khu vực thành thị là 778.923 người, chiếm 27,34% tổng dân số, tăng 0,77%; dân số khu vực nông thôn là 2.070.276 người, chiếm 72,66%, tăng 0,58% so với cùng kỳ năm trước.

- Lao động: Thị trường lao động trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường; ngành nghề nông nghiệp phát triển tốt. Nhờ đó, lực lượng lao động và số lượng việc làm có xu hướng tăng, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, tình trạng thất nghiệp giảm và thu nhập của người lao động tiếp tục được cải thiện.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk năm 2025 dự ước 1.642,81 nghìn người, tăng 25,65 nghìn người (tăng 1,59%) so với năm trước. Chia ra: khu vực thành thị 422,75 nghìn người, chiếm 25,73%, khu vực nông thôn 1.220,06 nghìn người, chiếm 74,27%; lực lượng lao động nam 890,05 nghìn người, chiếm 54,18% và lực lượng lao động nữ 752,76 nghìn người, chiếm 45,82%; tỷ lệ thất nghiệp 1,83%; thu nhập bình quân tháng của người lao động làm công hưởng lương là 8.372 nghìn đồng, tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính năm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 55.950 người, đạt 100,27% kế hoạch đề ra (giảm 2,57% so với thực hiện năm 2024); xuất khẩu lao động khoảng 2.569 người, đạt 87,08% so với kế hoạch (tăng 22,28%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề khoảng 70% (tăng 3%), trong đó tỷ lệ có bằng cấp chứng chỉ khoảng 25% (tăng 2%).

- Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội: Đời sống dân cư tỉnh Đắk Lắk năm 2025 tiếp tục được cải thiện rõ rệt về mặt thu nhập, nhà ở và an sinh xã hội, đặc biệt thông qua các chương trình giảm nghèo và hỗ trợ cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức lớn ở các vùng sâu vùng xa, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số và trước các rủi ro thiên tai. Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được quan tâm thực hiện.

Dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, các cơ quan chức năng và tổ chức xã hội đã thăm, tặng 105.899 suất quà với tổng kinh phí hơn 37 tỷ đồng. Tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 30.124 suất quà, tổng kinh phí:15 tỷ đồng. Tặng cho các đối tượng chính sách người có công nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh, liệt sĩ với 54.897 suất quà, tổng kinh phí: 20 tỷ đồng…

Các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các hộ chính sách có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã nhận được hỗ trợ 8.842 tấn gạo từ các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức từ thiện trong và ngoài tỉnh vào dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025. Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường đối với thiên tai lũ lụt là 65 tấn lúa giống, khoảng 1.625 triệu đồng.

Toàn tỉnh đã hỗ trợ xây mới, sửa chữa và bàn giao đưa vào sử dụng 8.915 căn nhà, đạt 100% kế hoạch và đã tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh vào ngày 16/9/2025.

Về công tác hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai đến nay. Nguồn lực hỗ trợ từ Trung ương và các đơn vị, tổ chức khác với tổng kinh phí: 1.114,7 tỷ đồng[6]; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đơn vị liên quan đã tiếp nhận vào Quỹ cứu trợ tỉnh 234,7 tỷ đồng từ các địa phương, tổ chức, cá nhân ủng hộ khắc phục hậu quả lũ lụt. Tổng nguồn kinh phí tỉnh đã chi, phân bổ khoảng hơn 1.000 tỷ đồng.

 b) Giáo dục, Y tế, Văn hóa, thể thao và du lịch

- Về Giáo dục: Ngành giáo dục và đào tạo tỉnh đã hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm học 2024-2025.

Các cơ sở giáo dục duy trì nề nếp dạy và học nghiêm túc theo đúng kế hoạch, hoàn thành nhiệm vụ năm học 2024-2025; tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT bảo đảm an toàn, nghiêm túc, với kết quả 98,34% học sinh đỗ tốt nghiệp, trong đó học sinh dân tộc thiểu số đạt 97,22%. Chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh đạt nhiều kết quả nổi bật, đạt thành tích cao trong các kỳ thi quốc gia và khu vực[7]. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác giáo dục, đào tạo được quan tâm đầu tư, nguồn lực từ xã hội hoá được đẩy mạnh. Tại thời điểm đầu năm học 2025 – 2026, toàn tỉnh có 1.379 cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên với 708.428 học sinh; hiện có 59,29% trường đạt chuẩn quốc gia.

- Về công tác y tế: Ngành y tế tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường đầu tư trang thiết bị, giáo dục về y đức, củng cố nhân lực, nâng cao kỹ năng giao tiếp, giáo dục sức khỏe và chăm sóc bệnh nhân.

Tính đến ngày 31/12, toàn tỉnh đã ghi nhận bệnh tay chân miệng có 1.728 ca; bệnh sốt xuất huyết có 9.325 ca, 05 ca tử vong; bệnh sởi có 697 ca mắc, 01 ca tử vong; Covid-19 có 158 ca mắc; viêm não Nhật Bản 02 ca mắc; bệnh thủy đậu 110 ca mắc...

Đến cuối năm 2025, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi) giảm còn 13,6%; số giường bệnh/1 vạn dân (không tính giường của trạm y tế xã) ước đạt 29,8 giường/1 vạn dân; số bác sỹ trên một vạn dân ước đạt 8,6 bác sỹ/1 vạn dân; tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm Y tế ước đạt 95%.

Chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục được triển khai; đến nay tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin đạt 95%.

Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS: Số ca HIV/AIDS/tử vong do AIDS tích lũy năm 2025: 455/05/15

Tính đến ngày 31/12, toàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 40% so với cùng kỳ năm trước, với 84 người mắc và nhập viện, không có trường hợp tử vong.

- Công tác văn hóa, thể thao: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, rộng khắp, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc được chú trọng. Phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tiếp tục phát triển, thu hút đông đảo

Văn hoá: Các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của tỉnh được tổ chức đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, góp phần giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đặc biệt, tỉnh đã tổ chức thành công các sự kiện quy mô lớn như: Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắk Lắk, Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 9 năm 2025; kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng tỉnh Phú Yên; các sự kiện kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các hoạt động tuyên truyền Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng,...

Thể thao: Đã đăng ký tham gia thi đấu 81 giải thể thao, đạt 445 huy chương các loại (106 huy chương vàng, 121 huy chương bạc, 218 huy chương đồng). Toàn tỉnh có 119 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia (48 Kiện tướng, 71 cấp I), đặc biệt có 08 vận động viên được Cục Thể dục Thể thao triệu tập thi đấu quốc tế (đạt 04 HCV, 04 HCB, 01 HCĐ), có 04 VĐV được tập trung đội tuyển quốc gia tham dự SEA Games 33.

c) Tai nạn giao thông: Tai nạn giao thông có những tín hiệu tích cực khi giảm cả 03 tiêu chí về số vụ tai nạn giao thông, số người chết và số người bị thương.

Lũy kế từ 15/12/2024 đến ngày 14/12/2025, tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí so với cùng kỳ năm trước, xảy ra 572 vụ tai nạn giao thông (giảm 17,10% so với cùng kỳ năm trước), làm chết 397 người (giảm 4,8%), bị thương 355 người (giảm 26,20%), ước thiệt hại tài sản 5.628 triệu đồng.

d) Thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ: Thiên tai, ô nhiễm môi trường và cháy, nổ vẫn xảy ra ở một số địa phương, tác động không nhỏ tới cuộc sống của người dân.

Tính chung năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 đợt thiên tai. Tổng số người chết do mưa bão, lũ lụt là 116 người chết, 06 người bị mất tích, 16 người bị thương; 11.151 ha lúa, 46.031 ha hoa màu, 17.600 con gia súc và 1.260.000 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 571 ngôi nhà bị sập, bị cuốn trôi, 990 ngôi nhà bị hư hại và nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình công cộng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Giá trị thiệt hại ước tính trên 9.717,4 tỷ đồng.

Tính từ đầu năm đến ngày 25/12/2025 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 127 vụ vi phạm môi trường (giảm 12,41% so với năm trước), xử lý 104 vụ (tăng 11,83%), tổng số tiền xử phạt là 6.734,6 triệu đồng (tăng 12%). 

Tính từ đầu năm đến ngày 14/12/2025 toàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy (giảm 51,28% so với cùng kỳ năm trước), bị thương 01 người (tăng 01 người), thiệt hại tài sản khoảng 1.405 triệu đồng (giảm 74,31%)./.

THỐNG KÊ TỈNH ĐẮK LẮK


[1] Tốc độ tăng GRDP năm 2024: Phú Yên cũ tăng 6,01%, Đắk Lắk cũ 5,06%

[2] Số liệu dân số năm 2025 mới được CTK thông báo là 2.849.199 người;

[3] Trong đó diện tích xoài tăng 7,35%; sầu riêng tăng 5,77%; nhãn tăng 1,80%; vải tăng 7,09%

[4]  Bao gồm tiêu, điều, cà phê, cao su

[5] Tổng thu nhỏ hơn thu nội địa do Thu cân đối xuất nhập khẩu (đã hoàn thuế) âm

[6] Gồm: ngân sách Trung ương hỗ trợ kinh phí với tổng số tiền 1.000 tỷ đồng (trong đó: hỗ trợ kinh phí khắc phục hậu quả do cơn bão số 13 là 230 tỷ đồng, kinh phí hỗ trợ khẩn cấp khắc phục thiệt hại do mưa lũ gây ra là 650 tỷ đồng, 120 tỷ hỗ trợ xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các hộ gia đình có nhà ở bị thiệt hại do các đợt thiên tai vừa qua)

[7] Học sinh tỉnh Đắk Lắk (cũ) đạt 72 giải trong kì thi học sinh giỏi cấp quốc gia (02 giải Nhất môn Tin học, 13 giải Nhì, 18 giải Ba và 39 giải Khuyến khích); 02 giải Nhì và 01 giải Triển vọng Cuộc thi Khoa học kỹ thuật toàn quốc; 15/15 học sinh tiểu học tham gia,…Tỉnh Phú Yên (cũ) có 50 học sinh đạt giải trong kì thi học sinh giỏi cấp quốc gia với 01 giải Nhất, 04 giải Nhì, 22 giải Ba và 23 giải Khuyến khích; có 3/3 dự án dự thi đạt giải Cuộc thi Khoa học kỹ thuật toàn quốc tại (trong đó: 2 giải Ba và 01 giải Triển vọng),…