02623 852247 | daklak@nso.gov.vn
Báo cáo tình hình Kinh tế - xã hội tháng 12 và năm 2025
  •   07/01/2026 19:32

Năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực biến động phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt hơn; xung đột tại một số khu vực tiếp tục kéo dài; kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, tiềm ẩn nhiều rủi ro; thị trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động; khoa học công nghệ và các xu hớng mới nổi như: chip, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh tiếp tục phát triển mạnh; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn biến bất thường gây hậu quả nghiêm trọng.Ở trong nước, đây là năm đặc biệt quan trọng, thực hiện nhiều chủ trương, quyết sách mang tính nền tảng nhằm chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới 2026 - 2030 như: thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các dự án trọng điểm quốc gia đồng loạt triển khai tạo động lực tăng trưởng nền kinh tế. Tuy nhiên, những thuận lợi và thách thức đan xen, trong đó khó khăn lớn nhất là các yếu tố bất lợi từ bên ngoài và những hạn chế nội tại của nền kinh tế kéo dài nhiều năm.Về phía tỉnh Đắk Lắk, với tinh thần quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt theo chủ đề “Kỷ cương trách nhiệm; chủ động kịp thời; tinh gọn hiệu quả; tăng tốc bứt phá”, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk năm 2025 tiếp tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) vẫn duy trì đà tăng trưởng. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, giá các sản phẩm nông nghiệp như: cà phê, hồ tiêu tiếp tục duy trì ở mức cao góp phần làm tăng thu nhập cho người dân. Sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, huy động vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ năm 2024. Nhiều sự kiện văn hóa, lễ hội, thể thao diễn ra sôi nổi, góp phần thu hút lượng lớn khách du lịch đến với tỉnh, thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng cao; tình hình thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc, nhiều dự án quy mô lớn, tạo động lực phát triển, sức lan tỏa cho địa phương. Bên cạnh đó, công tác an sinh xã hội, chăm sóc người có công, giảm nghèo tiếp tục được quan tâm, triển khai kịp thời. Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát hoàn thành đảm bảo kế hoạch đề ra. Quá trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp được theo dõi, hỗ trợ kịp thời; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và xử lý các dự án tồn đọng, kéo dài. Quốc phòng được tăng cường; chủ quyền, lãnh thổ, an ninh biên giới được giữ vững.Bên cạnh đó, vẫn còn những tồn tại như: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn và tổng vốn đầu tư thực hiện năm 2025 không đạt kế hoạch đề ra; Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, số doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động, giải thể cao; Tiến độ triển khai các dự án còn chậm, tỷ lệ giải ngân đạt thấp so bình quân cả nước; Việc tháo gỡ vướng mắc cho các dự án động lực còn chậm; Nguồn thu ngân sách nhà nước chưa bền vững, trong đó nguồn thu từ tiền sử dụng đất còn đạt thấp so với kế hoạch; Kinh tế nông nghiệp phát triển chưa bền vững; Các dịch vụ phục vụ du lịch còn hạn chế, chưa có sản phẩm mới, đặc trưng để thu hút khách du lịch; Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo ở một số địa phương còn cao; Dịch bệnh, thiên tai, cháy nổ và vi phạm an toàn giao thông vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương ít nhiều đã tác động không nhỏ đến đời sống của người dân.Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong năm 2025 trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau:I. Tăng trưởng kinh tế1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnhTổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh (giá so sánh 2010) quý IV năm 2025 đạt 34.090,7 tỷ đồng, tăng 6,04% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng trưởng thấp nhất trong 04 quý của năm 2025[1] nguyên nhân do thiệt hại nặng nề bởi cơn bão số 13 và đợt mưa lũ lịch sử từ ngày 15-21/11/2025. Trong đó, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 14.626,0 tỷ đồng, tăng 3,37% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 25,11% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế[2]; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 5.896,9 tỷ đồng, tăng 9,20%, đóng góp 26,14%; Khu vực Dịch vụ đạt 12.615,6 tỷ đồng, tăng 7,93%, đóng góp 48,75% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh (giá so sánh 2010) năm 2025 ước đạt 102.036 tỷ đồng, tăng 6,68% so với cùng kỳ[3], xếp vị thứ 30/34 tỉnh, thành phố. Trong đó, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 32.799,7 tỷ đồng, tăng 4,53% (KH tăng 5,56%), đóng góp 22,67% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng đạt 21.029 tỷ đồng, tăng 9,19% (KH tăng 11,62%), đóng góp 28,21%; Khu vực Dịch vụ đạt 44.291,9 tỷ đồng, tăng 7,48% (KH tăng 8,34%), đóng góp lớn nhất với 49,12% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế Bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế tỉnh cho ta thấy Khu vực Dịch vụ chính là điểm sáng nhất với tốc độ tăng trưởng 7,48%, đóng góp lớn nhất 3,22 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Xét về mức độ đóng góp của các ngành trong Khu vực Dịch vụ cho thấy: ngành bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đã quay trở lại đứng thứ nhất về mức độ đóng góp là 0,77 điểm phần trăm là do nhu cầu của người dân và xuất khẩu tăng; tiếp theo là ngành hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm đóng góp là 0,4 điểm, tăng 7,86% là do những chính sách tiền tệ linh hoạt của Chính phủ và các cơ quan chức năng; ngành hoạt động của đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội đóng góp 0,38 điểm, tăng 11,23%. Một số ngành dịch vụ khác tác động tích cực và tăng trưởng của Khu vực dịch vụ như: Dịch vụ lưu trú ăn uống đóng góp 0,27 điểm, tăng 7,35%; ngành thông tin và truyền thông đóng góp 0,26 điểm, tăng 5,33%; ngành vận tải kho bãi đóng góp 0,21 điểm, tăng 8,68%, ... Mặc dù không có ngành nào tăng trưởng âm, tuy nhiên một số ngành còn lại tăng thấp hoặc đóng góp ít như: hoạt động kinh doanh bất động sản chỉ tăng 4,0%, đóng góp 0,18 điểm; ngành nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 6,12%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế ...Đứng ở vị trí thứ hai trong đóng góp vào vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế là Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đóng góp 1,85 điểm phần trăm, tăng 9,19%. Nổi bật trong khu vực này chính là ngành công nghiệp tăng 10,16% so với cùng kỳ và đóng góp 1,31 điểm phần trăm. Một số ngành có mức tăng trưởng tích cực trong ngành công nghiệp chính là: sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,86 điểm, tăng 12,53% nguyên nhân do các nhà máy thủy điện hoạt động hết công suất, các công trình điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối tiếp tục hoạt động ổn định; tiếp đến là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 0,49 điểm, tăng 7,14%, đây là điểm tích cực bởi vì ngành này còn chịu tác động như: giá nguyên, nhiên vật liệu tăng cao, một số đơn hàng bị giảm, thị trường xuất, nhập khẩu bị ảnh hưởng do căng thẳng chính trị giữa các quốc gia lớn trên thế giới. Ngành cung cấp nước, hoạt động xử lý rác thải đóng góp 0,04 điểm, tăng 9,96%. Riêng đối với ngành Xây dựng duy trì ổn định tăng 7,45%, đóng góp 0,54 điểm là do các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh đã và đang đưa vào hoạt động. Đứng ở vị trí cuối cùng chính là Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,49 điểm phần trăm, tăng 4,53%. Năm 2025, điều kiện thời tiết, khí hậu nhìn chung thuận lợi nên diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng tăng so với cùng kỳ, đặc biệt giá các loại nông sản, hoa quả như: tiêu, điều, cà phê, sầu riêng đều tăng đã góp phần ổn định thu nhập cho người dân, nâng cao giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, cơn bão số 13 và đợt mưa lũ lịch sử từ ngày 15-21/11/2025 đã gây thiệt hại rất lớn cho khu vực này, làm giảm mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2025. Ngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo đóng góp 1,4 điểm, tăng 4,87%. Ngành lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì mức đóng góp ổn định. Bên cạnh đó, giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn gia súc và thủy sản vẫn đang ở mức cao ít nhiều đã tác động đến quá trình sản xuất của khu vực này.Nếu như năm 2024, Thuế sản phẩm và trợ cấp sản phẩm tăng trưởng âm (giảm 1,2% so với năm 2023) thì đến năm 2025, Thuế sản phẩm và trợ cấp sản phẩm đã tăng 2,99%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm, trong đó thuế giá trị giá tăng và các loại thuế sản phẩm khác còn lại đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2025 (theo giá hiện hành): Giá trị tổng sản phẩm ước đạt 229.549,7 tỷ đồng, đạt 99,52% KH năm. Trong đó: Khu vực Nông lâm, nghiệp và thủy sản ước đạt 88.318,7 tỷ đồng, vượt 5,00% kế hoạch, chiếm 38,47% trong giá trị tổng sản phẩm, tăng 0,14 điểm phần trăm so với tỷ trọng nền kinh tế năm 2024; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 40.551,5 tỷ đồng, đạt 90,67% so kế hoạch, chiếm 17,67%, tăng 0,11 điểm phần trăm; Khu vực Dịch vụ đạt 91.983,4 tỷ đồng đạt 99,18% kế hoạch, chiếm 40,07%, giảm 0,1 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 8.696,1 tỷ đồng, đạt 95,80% kế hoạch năm, chiếm 3,79%, giảm 0,15 điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm 2024.Chuyển dịch của các ngành kinh tế diễn ra còn chậm do nền kinh tế của tỉnh vẫn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu nông sản thô chưa qua chế biến tỷ trọng còn cao. Tỷ trọng của Khu vực Công nghiệp - Xây dựng tuy tăng song mức độ tăng khá thấp, Khu vực Dịch vụ giảm nhẹ nhưng chủ yếu là nhất thời do thiệt hại của mưa bão và lũ lụt làm cho doanh thu các ngành dịch vụ giảm; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm có chiều hướng giảm. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người (theo giá hiện hành) tăng khá, ước năm 2025 đạt 80,6 triệu đồng/người, tăng 13,25% so cùng kỳ năm trước[4] 2. Dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2026 Năm 2026 mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng với kinh tế nước ta nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng vì là đây là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2026 - 2030. Đây là năm tạo đà cho giai đoạn phát triển kinh tế cho các năm tiếp theo. Khu vực Công nghiệp - Xây dựng được xác định tiếp tục là động lực tăng trưởng chính; Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển theo hướng bền vững, ứng dụng công nghệ cao; Khu vực Dịch vụ phục hồi và mở rộng gắn với du lịch, thương mại - dịch vụ và chuyển đổi số; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng tương ứng với quy mô nền kinh tế. Dự báo năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (giá so sánh 2010) ước tính tăng 10,02% so với năm trước. Trong đó: Khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,86%, đóng góp 1,88 điểm phần trăm; Khu vực Công nghiệp và Xây dựng tăng 18,14%, đóng góp 3,74 điểm phần trăm, Trong đó: Công nghiệp tăng 15,25% đóng góp 2,03 điểm phần trăm; Xây dựng tăng 23,40%, đóng góp 1,71 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ tăng 9,60%, đóng góp 4,17 điểm phần trăm; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,02% so với năm trước, đóng góp 0,23 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Cơ cấu tổng sản phẩm (GRDP) ước tính năm 2026 theo giá hiện hành, tỷ trọng Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 35,48%, giảm 2,99 điểm phần trăm so với tỷ trọng năm 2025; Công nghiệp - xây dựng chiếm 20,67%, tăng 3,00 điểm phần trăm (trong đó: Công nghiệp chiếm 13,86%, tăng 2,13%); Dịch vụ chiếm 40,24%, tăng 0,17% điểm phần trăm; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,61%, giảm 0,18 điểm phần trăm so với năm trước. Việc dự báo tăng trưởng GRDP năm 2026 của tỉnh được thực hiện trên cơ sở: + Ngành Nông, Lâm thủy sản: Năm 2026, khắc phục hậu quả mưa bão năm 2025, công tác chăn nuôi, nuôi trồng Thủy sản được tái tạo, dự kiến các dự án chăn nuôi được xây dựng những năm trước hoàn thành đi vào hoạt động làm tăng số lượng đầu con đàn gia súc, gia cầm, từ đó tăng sản lượng sản phẩm chăn nuôi và sản lượng thủy sản tăng lên, tạo ra giá trị cho ngành nông nghiệp. + Ngành Công nghiệp: Ngoài những sản phẩm ổn định, năm 2026 dự kiến 4 công trình điện đã hoàn thành năm 2025 nhưng chưa đi vào hoạt động sẽ hoạt động trong năm 2026 tạo ra sản lượng làm tăng giá trị sản xuất đối với ngành công nghiệp (Nhà máy điện gió Cư Né 1, Cư né 2, Krông Buk 1, Krông Buk 2 với tổng công suất thiết kế 200 MW). Ngoài ra còn một số sản phẩm khác dự kiến đưa vào sản xuât năm 2026 như: viên gỗ nén... + Ngành Xây dựng: Các dự án, công trình dự kiến khởi động năm 2026 sẽ làm tăng giá trị của ngành xây dựng. Mặc khác, Tỉnh đang tập trung khắc phục những công trình bị ảnh hưởng do cơn bão số 13 và mưa, lũ gây ra. Dự kiến năm 2026, với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, tháo gỡ khó khăn tạo điều kiện để các công trình thi công, đẩy nhanh tiến độ các công trình như: Dự án Khu công nghiệp Phú Xuân, Dự án hạ tầng Khu công nghiệp Hoà Tâm, giai đoạn 1, Dự án hạ tầng KCN Công nghệ cao Phú Yên. + Khu vực dịch vụ: Năm 2026, ngành thương mại, dịch vụ và du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục đà phát triển. Kết nối Đông, Tây Đắk Lắk, tỉnh mở rộng đường giao thông tạo đà phát triển đối với ngành vận tải hàng hóa và hành khách. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong năm 2025, ngành nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá (+4,53%), khẳng định vai trò trụ đỡ nền kinh tế của tỉnh. Tuy có những thuận lợi và thách thức đan xen, trong đó có yếu tác động của biến động thị trường, thời tiết, khi hậu, thiên tai song với sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, ngành nông nghiệp năm 2025 đã đạt được những kết quả như sau: Sản xuất cây hàng năm vượt kế hoạch và tăng so với cùng kỳ năm trước; Cơ cấu các loại cây trồng chính ổn định, năng suất, sản lượng đều tăng so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng và giá trị các loại nông sản chủ lực của tỉnh tăng, đặc biệt là sầu riêng, tiêu, cà phê đóng góp rất lớn vào tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Chăn nuôi gia súc phát triển, chăn nuôi gia cầm ngày càng mở rộng với nhiều mô hình mới, sản lượng thịt hơi tăng đáp ứng nhu cầu thực phẩm của người dân. Dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, trồng rừng sản xuất ngày càng được chú trọng. Nuôi thuỷ sản và khai thác hải sản biển có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơn bão số 13 và đợt mưa bão lịch sử từ ngày 15-21/11/2025 đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và thủy sản của tỉnh. Kinh tế nông nghiệp phát triển chưa bền vững, chưa hình thành được các chuỗi liên kết giữa khép kín từ khâu sản xuất, chế biến, đóng gói, đến phân phối, tiêu thụ sản phẩm. Tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm diễn biến phức tạp, nhất là dịch tả lợn Châu Phi. Tình trạng nuôi trồng thủy sản lồng, bè không theo quy hoạch tại các đầm vịnh chưa được xử lý hiệu quả. Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác lâm sản trái phép còn diễn ra ở nhiều địa phương. a) Nông nghiệp Ước năm 2025, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm của tỉnh đạt 458.279 ha, tăng 1,28% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích lúa cả năm ước đạt 176.368 ha, tăng 2,18% (+3.771 ha), năng suất lúa ước đạt 72,35 tạ/ha, tăng 0,73% (+0,53 tạ/ha) và sản lượng lúa đạt 1.275.944 tấn, tăng 2,93% (+36.305 tấn) so cùng kỳ năm trước. Sản lượng lương thực có hạt năm 2025 đạt 1.818.757 tấn, tăng 2,67% (+47.231 tấn) so với năm 2024, trong đó sản lượng ngô đạt 542.813 tấn, tăng 2,05% (+10.926 tấn). Lúa đông xuân: Vụ đông xuân, toàn tỉnh gieo trồng 75.973 ha, tăng 2,53% so với vụ đông xuân năm trước; năng suất thu hoạch đạt 76,93 tạ/ha, giảm 0,61 (-0,47 tạ/ha) nguyên nhân do mất trắng hoàn toàn 87 ha ở xã Hòa Xuân và xã Tây Hòa làm ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch lúa; sản lượng lúa thu hoạch 584.423 tấn, tăng 1,9% (+ 10.923 tấn). Lúa hè thu: Diện tích gieo trồng lúa hè thu toàn tỉnh ước đạt 24.716 ha, so với cùng vụ năm trước giảm 0,1% (-24 ha). Năng suất bình quân đạt 71,09 tạ/ha, giảm 0,39% (-0,28 tạ/ha) là do năng suất lúa vụ Hè thu năm 2024 là năm được mùa cao nhất từ năm 2021 đến nay, ngoài ra thời điểm lúa trổ gặp trời âm u và vừa qua do ảnh hưởng của bão số 6 đã gây ra mưa lớn trên địa bàn làm ngập úng nhiều diện tích vùng trũng thấp gây hư hại làm ảnh hưởng đến năng suất. Các vùng lúa trọng điểm của Đông Đắk Lắk có năng suất giảm: Phú Hòa giảm 2,1 tạ/ha; Tây Hòa giảm 1,2 tạ/ha và Đông Hòa giảm 0,32 tạ/ha. Sản lượng lúa thu hoạch 175.711 tấn, giảm 0,49% (+ 871 tấn). Lúa mùa: Toàn tỉnh đã gieo cấy ước đạt 75.679 ha, tăng 2,60% so với cùng vụ năm trước. Năng suất bình quân đạt 68,16 tạ/ha, tăng 2,69% (+1,79 tạ/ha) nguyên nhân nhờ thời tiết thuận lợi nên bà con nông dân làm đất xuống giống kịp thời vụ. Cây hằng năm: Diện tích gieo trồng một số cây hoa màu như ngô, khoai, mía, rau các loại tăng so với năm trước do hiệu quả kinh tế cao, nông dân mở rộng sản xuất. Diện tích gieo trồng và sản lượng một số cây hằng năm năm 2025 như sau: Diện tích ngô 82.255 ha, tăng 0,03%, sản lượng đạt 542.813 tấn, tăng 2,05%; khoai lang 5.967 ha, tăng 0,47%, sản lượng đạt 121.231 tấn, tăng 2,28%; sắn đạt 61.151 ha, giảm 7,29%, sản lượng đạt 1.464.324 tấn, giảm 7,35%; đậu tương 987 ha, giảm 9,28%, sản lượng đạt 1.755 tấn, giảm 1,24%; lạc 4.632 ha, giảm 15,37%, sản lượng đạt 9.295 tấn, giảm 10,38%; mía 46.583 ha, tăng 7,08%, sản lượng đạt 3.353.945 tấn, tăng 11,90%; rau các loại 22.424 ha, tăng 0,20%, sản lượng đạt 439.493 tấn, tăng 2,93%; đậu các loại 22.191 ha, giảm 1,33%, sản lượng đạt 26.762 tấn, tăng 0,03% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng. Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả; chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc bảo vệ thực vật, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường. Cây lâu năm: Sơ bộ năm 2025, tổng điện tích gieo trồng cây lâu năm của tỉnh ước đạt 392.006 ha, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích cây ăn quả là 79.925 ha, tăng 2,96%[5]; cây công nghiệp lâu năm chủ yếu[6] là 306.020 ha, tăng 0,83%. Diện tích cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm chủ yếu có biến động tăng/giảm về diện tích nguyên nhân người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng do yếu tố lợi nhuận. - Cây ăn quả: Diện tích cây sầu riêng ước đạt 41.828 ha, tăng 5,77% so với cùng kỳ năm trước, diện tích cho sản phẩm là 26.011 ha, tăng 14,04%, sản lượng đạt 443.383 tấn, tăng 21,40%. Giá sầu riêng năm nay nhìn chung vẫn duy trì được mức giá cao và sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước đã tạo thu nhập ổn định cho người dân. Dự báo, trong những năm tiếp theo sản lượng và diện tích sầu riêng của tỉnh tăng do yếu tố lợi nhuận. Diện tích cây bơ toàn tỉnh ước đạt 3.764 ha, giảm 7,88%; diện tích cho sản phẩm 3.465 ha, giảm 4,62%; sản lượng bơ toàn tỉnh là 42.691 tấn, giảm 3,19%, do diện tích cho sản phẩm giảm. Dự báo những năm tiếp theo diện tích cây bơ sẽ tiếp tục giảm do người dân chuyển đổi cơ cấu cây trong sang các loại cây khác như: mắc ca, sầu riêng. Ước diện tích mắc ca toàn tỉnh đạt 7.562 ha, tăng 0,92%; diện tích cho sản phẩm là 4.009 ha, tăng 26,59%; sản lượng thu hoạch là 8.707 tấn, tăng 27,46%. Trong 02 năm gần đây, diện tích mắc ca của tỉnh ngày càng được mở rộng do sản phẩm mắc ca đã được xuất khẩu và có giá trị kinh tế cao.- Cây công nghiệp lâu năm chủ yếu: Diện tích cây cà phê của tỉnh năm 2025 là 217.026 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân do người dân mở rộng sản xuất và tái canh những diện tích cà phê đã già cỗi, diện tích cho sản phẩm là 202.435 ha, tăng 0,33%. Hiện nay, cây cà phê trên địa bàn tỉnh đã thu hoạch xong, việc thu hái cà phê có nhiều thuận lợi, tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt nhân công cục bộ thường xuyên xảy ra, đẩy chi phí thuê nhân công tăng cao. Dự ước sản lượng cà phê năm nay đạt 582.113 tấn, tăng 3,17%; năng suất đạt khoảng 28,76 tạ/ha, tăng 2,84%. Trong những tháng cuối năm 2025, giá cà phê có nhiều biến động tăng/giảm, tuy nhiên vẫn tăng cao so với cùng kỳ năm trước và duy trì ở mức 95.000 – 96.000 đồng/1 kg, nguyên nhân do cầu lớn hơn cung. Chính vì vậy, bà con nông dân rất phấn khởi, tập trung mọi nguồn lực vào thu hoạch cà phê niên vụ năm 2025 cũng như tiếp tục đầu tư cho niên vụ 2026. Diện tích cây cao su toàn tỉnh hiện nay là 33.782 ha, tăng 1,28% so với cùng kỳ năm trước, diện tích cho sản phẩm ước đạt 24.874 ha, tăng 8,32%; sản lượng mủ cao su khai thác ước đạt 39.488 tấn quy khô, tăng 7,81%; năng suất ước đạt 15,88 tạ/ha, giảm 0,46% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây tiêu toàn tỉnh hiện nay là 28.804 ha, tăng 1,77% so với cùng kỳ năm trước, diện tích cho sản phẩm là 25.354 ha, tăng 3,14%; sản lượng tiêu thu hoạch ước đạt 79.300 tấn, tăng 4,84%; năng suất ước đạt 31,28 tạ/ha, tăng 1,65%. Dự báo, trong thời gian tới, diện tích trồng và diện tích cho sản phẩm cây tiêu tăng do giá thu mua tiêu hạt năm nay tăng mạnh và duy trì ổn định. Chăn nuôi: Năm 2025, đàn gia súc, gia cầm có sự phát triển nhất định. Đàn lợn thịt có xu hướng phát triển theo mô hình chăn nuôi tập trung, hình thức nuôi công nghiệp, bán công nghiệp là chủ yếu. Sản lượng xuất chuồng gia súc, gia cầm quý IV/2025 giảm nguyên nhân do ảnh hưởng của mưa bão đã tác động đến sản lượng xuất chuồng của tỉnh năm 2025. Hiện nay, toàn tỉnh có 28 doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư chăn nuôi lợn và gia cầm quy mô lớn; 285 hộ nuôi từ 300 con lợn trở lên, 799 hộ nuôi từ 1.000 con gà trở lên và 287 hộ nuôi từ 2.000 con vịt trở lên. Các mô hình chăn nuôi công nghiệp, gia trại tiếp tục phát triển mạnh, đóng góp tích cực vào nguồn cung thực phẩm trong và ngoài tỉnh. Để đảm bảo nguồn thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày cũng như dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ 2026 sắp tới, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành Nông nghiệp, các ngành và các cấp của tỉnh phải đảm bảo phải đảm bảo được nguồn thực phẩm trong thời gian sắp tới, hỗ trợ các hộ chăn nuôi về vốn, con giống cũng như kỹ thuật chăn nuôi để người dân yên tâm tái đàn sản xuất, đảm bảo đời sống kinh tế. Đến cuối tháng 12/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm dự ước như sau: Đàn trâu hiện có 30.390 con, giảm 1,56% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 668 tấn, giảm 36,74% so với cùng kỳ năm trước; dự ước năm 2025 là 3.104 tấn, giảm 9,24% so với cùng kỳ năm trước. Đàn bò hiện có 402.489 con, giảm 0,80% so với cùng kỳ năm trước. Ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 là 9.035 tấn, giảm 12,39% so với cùng kỳ năm trước; ước năm 2025 là 38.308 tấn, giảm 1,86% so với cùng kỳ năm trước.    Đàn lợn hiện có 1.088.290 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,29%. Ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 là 68.786 tấn, tăng 2,45% so với cùng kỳ năm trước; ước năm 2025 là 224.104 tấn, tăng 0,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong những tháng cuối năm 2025, giá thịt lợn hơi có xu hướng tăng nhẹ và dự báo sẽ duy trì trong dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ 2026. Vì vậy, các hộ dân và chủ trang trại chăn nuôi CP đã mạnh dạn tăng đàn để kịp phục vụ nhu cầu thực phẩm trong dịp Tết nguyên đán 2026.   Đàn gia cầm hiện có 20.718 nghìn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,55% là do các hộ nuôi gia cầm theo quy mô lớn tăng([7]). Sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 39.807 tấn, giảm 13,67% so với cùng kỳ năm trước. Ước năm 2025, sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng là 111.755 tấn, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước.   Sản lượng trứng gia cầm ước quý IV/2025 là 334.154 nghìn quả, giảm 3,60% so với cùng kỳ năm trước, ước năm 2025 là 813.124 nghìn quả, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng sữa bò quý IV/2025 ước đạt 6.271 tấn, tăng 15,21% so với cùng kỳ, ước năm 2025 sản lượng sữa là 25.530 tấn, tăng 22,05% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh trong năm 2025: trên địa bàn tỉnh dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 1.057 hộ, 357 thôn, 70 xã/phường làm chết và tiêu hủy 21.256 con với tổng khối lượng 1.324.279 kg. Bệnh viêm da nổi cục ở trâu bò phát sinh tại 06 hộ, 03 thôn, thuộc 02 xã, làm mắc bệnh 08 con, tiêu huỷ 4 con, tổng khối lượng tiêu huỷ là 364 kg. Dịch bệnh Cúm gia cầm đã phát sinh và tiêu hủy 1.900 con gà mắc bệnh, khối lượng tiêu hủy là 3.368 kg tại 01 hộ, 01 xã. Dịch bệnh LMLM trâu, bò làm mắc bệnh 79 con, trong đó có 60 con bò và 19 con trâu tại 8 hộ, 2 thôn, thuộc 02 xã trên địa bàn tỉnh. Dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất chăn nuôi của người dân trên địa bàn tỉnh[8].        Trong năm 2025 công tác kiểm tra gia súc, gia cầm trước khi xuất, nhập tỉnh, quá cảnh và kiểm soát giết mổ cũng được chú trọng, đã kiểm dịch xuất tỉnh được 8.142.843 con gia súc, gia cầm; kiểm dịch nhập tỉnh được 15.365.183 con gia súc, gia cầm([9]).        Nuôi yến trong đất liền: Đây là mô hình vẫn đang tiếp tục được duy trì và phát triển, sản lượng khai thác yến trong đất liền năm 2025 ước đạt 660 kg, tăng 0,15% so với cùng kỳ năm trước. Do yếu tố lợi nhuận cao, giá yến sản xuất của tỉnh duy trì ở mức 2.500.000 - 2.800.000 đồng/100 gram nên số lượng hộ nuôi yến trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng, bên cạnh đó các cấp chính quyền cũng chú trọng đến quy hoạch khu nuôi trồng xa trung tâm thành phố nhằm đảm bảo môi trường sống của người dân.        b) Lâm nghiệp        Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2025 có sự chuyển dịch theo hướng chú trọng bảo vệ hơn là mở rộng diện tích mới. Công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ và tái sinh rừng phát huy hiệu quả. Tình hình khai thác gỗ giữ nhịp ổn định, đảm bảo nguồn cung cho công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh. Số vụ phá rừng giảm so với cùng kỳ năm 2024 là nhờ công tác bảo vệ rừng luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chú trọng.        Phát triển rừng: Diện tích rừng trồng mới của tỉnh trong quý IV/2025 ước đạt 6.507 ha, tăng 75,67% so với quý III/2025[10], giảm 14,37% so với cùng kỳ năm trước là do ảnh hưởng của mưa bão. Sơ bộ năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã trồng được 11.898 ha rừng, giảm 4,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, diện tích rừng sản xuất trồng mới là 11.793 ha, giảm 4,32%; diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng trồng mới là 105 ha, ổn định. Diện tích rừng trồng được chăm sóc ước năm 2025 là 54.034 ha, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước([11]). Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 37.599,70 ha. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 347.600 ha. Cây lâm nghiệp trồng phân tán ước 2,1 triệu cây, tăng 6,15%.         Khai thác lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 12/2025 ước đạt 95.154 m3, giảm 9,86% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác trong quý IV/2025 ước đạt 257.689 m3, giảm 25,51% so với quý III/2025, giảm 9,12% so với cùng kỳ năm trước; sơ bộ năm 2025 đạt 946.812 m3, tăng 0,15%. Ước sản lượng củi khai thác quý IV/2025 là 41.781 ste, giảm 37,58% so với quý III/2025 và tăng 30,93% so với cùng kỳ năm trước; sơ bộ năm 2025 đạt 553.619 ste, tăng 6,83% so với cùng kỳ năm trước là do nhu cầu sử dụng củi đốt của người dân trong nấu ăn, sưởi ấm, đặc biệt là vùng sâu vùng đồi núi của bà con người dân tộc thiểu số.        Quản lý bảo vệ rừng: Các cấp, các ngành tăng cường các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao trách nhiệm trong quản lý rừng tự nhiên; tập trung chỉ đạo các chủ rừng thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, phát triển rừng; đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản. Trong tháng 12/2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 35 vụ, giảm 51,39% so với cùng kỳ, trong đó 24 vụ phá rừng trái pháp luật, diện tích rừng bị phá 7,671 ha; lâm sản tịch thu 35,002 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 01 chiếc các loại, tổng số tiền đã nộp ngân sách là 513,9 triệu đồng. Trong quý IV/2025, trên địa bàn tỉnh có 144 vụ vi phạm lâm luật, giảm 41,70% so với cùng quý năm trước; diện tích rừng bị chặt phá là 22,64 ha , giảm 42,33% so với quý III/2025, giảm 46,80% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, trên địa bàn tỉnh có 952 vụ vi phạm lâm luật, giảm 22,66% so với cùng kỳ năm trước; trong đó có 702 vụ phá rừng, giảm 21,91% với diện tích bị phá là 184,46 ha, giảm 24,61%; diện tích rừng bị cháy là 7 ha; khai thác rừng trái phép 42 vụ; phương tiện tịch thu, tạm giữ bao gồm: ô tô, máy kéo, công nông 05 chiếc, xe máy 60 chiếc, máy móc các loại 46 chiếc, công cụ thường 72 chiếc. Gỗ tịch thu 426,478 m3 gỗ tròn, xẻ các loại. Tổng số tiền đã thu nộp ngân sách 3.125,9 triệu đồng.        c) Thủy sản         Năm 2025 là một năm khó khăn đối với ngành thủy sản. Dù sản lượng tổng thể tăng nhưng các đợt thiên tai cuối năm (quý IV) đã gây tổn thất lớn cho hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản, nhất là khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay, bà con nuôi trồng đã và đang được chính quyền hỗ trợ vốn, con giống nhằm khôi phục hoạt động nuôi trồng thủy sản trong năm 2026.         Diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh ước năm 2025 đạt 8.599 ha, giảm 0,07% so với cùng kỳ năm trước, hình thức nuôi chủ yếu theo phương thức thâm canh và bán thâm canh.         Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 12/2025 ước đạt 7.209 tấn, giảm 1,2% so so với cùng kỳ năm trước[12]. Ước quý IV/2025, sản lượng thủy sản toàn tỉnh là 20.88,2 tấn, giảm 30,46% so với quý III/2025, tăng 1,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng là 12.286,8 tấn, tăng 1,29% và tăng 2,58%; sản lượng thủy sản khai thác (khai thác nội địa và khai thác biển) là 8.594,4 tấn, giảm 51,97% và tăng 0,42%.        Sản lượng thủy sản toàn tỉnh năm 2025 ước đạt 114.529,9 tấn, tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản khai thác là 73.750,4 tấn, tăng 4,70% tập trung ở các hồ, đập lớn thuộc sông Sêrêpôk, sông Krông Ana và hồ Ea Súp thượng, hạ; khai thác biển ở khu vực phía Đông Đắk Lắk với nhiều loại hải sản chất lượng cao như cá ngừ, tôm, ốc các loại...; sản lượng thủy sản nuôi trồng (nuôi nước ngọt và nuôi lồng bè, bể bồn) là 40.779,5 tấn, tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước là do trong những năm gần đây giá cá ổn định và tăng. Cơ cấu các loại cá nuôi cũng chuyển dịch sang những loại cá có chất lượng và giá trị kinh tế cao như cá tầm, cá lóc, cá chép, diêu hồng, rô phi... d) Chương trình Xây dựng nông thôn mớiCác ngành, địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), bảo đảm tiến độ và chất lượng theo kế hoạch đề ra. Đến nay, toàn tỉnh có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 29,55% và 764 sản phẩm OCOP (trong đó, có 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao, 10 sản phẩm tiềm năng 4 sao và 656 sản phẩm đạt 3 sao) 4. Công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp năm 2025 trên địa bàn tỉnh nhìn chung duy trì đà tăng trưởng và đạt mức tăng khá so với năm trước. Tuy nhiên, trong tháng 11/2025 chịu tác động bất lợi của đợt thiên tai lớn, làm chậm nhịp tăng trưởng của một số ngành. Mặc dù vậy, hoạt động công nghiệp vẫn giữ được sự ổn định,, các ngành công nghiệp cấp I đều ghi nhận xu hướng tăng, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành sản xuất, phân phối điện, hơi nước tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng chung của toàn ngành. Tháng 12/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự ước tăng 10,64% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,06% so với tháng trước. Mức tăng so với cùng kỳ năm trước đến từ ngành công nghiệp khai khoáng tăng 11,67% và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,04%, ngành sản xuất và phân phối điện, hơi nước tăng 11,55% và ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 13,60%. Quý IV/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự ước tăng 8,66% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của các quý trước trong năm, nguyên nhân chủ yếu do đợt thiên tai bão lũ xảy ra trong tháng 11/2025. Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng cho thấy khu vực công nghiệp vẫn duy trì được đà phát triển, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 15,07% và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,86% là các ngành có mức tăng cao, tạo động lực tăng trưởng cho sản xuất công nghiệp trong quý. Ngành sản xuất và phân phối điện, hơi nước tăng 5,01% và ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 10,18%, góp phần bảo đảm điều kiện thiết yếu cho hoạt động sản xuất và đời sống dân cư trong quý. Năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự ước tăng 11,02% so với năm trước, cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,62%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, với nhiều ngành cấp II có mức tăng khá. Cụ thể, sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,52%, sản xuất thiết bị điện tăng 11,97%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 6,73%,… thấy hoạt động sản xuất ở các ngành công nghiệp chủ lực gắn với nhu cầu thị trường và lợi thế địa phương duy trì ổn định trong năm. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,26%, cung cấp nguyên liệu phục vụ xây dựng và các hoạt động sản xuất liên quan. Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,98%, cho thấy sản lượng cung ứng năng lượng tiếp tục được duy trì, bảo đảm nhu cầu cho sản xuất công nghiệp và sinh hoạt. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,66%, trong đó hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu tăng 9,92%, góp phần duy trì việc cung cấp các dịch vụ công ích thiết yếu trên địa bàn. Ở chiều ngược lại, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất giảm so với năm trước như sản xuất đồ uống giảm 1,61%, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 2,07% và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 16,31%..., phản ánh khó khăn về thị trường tiêu thụ và chi phí đầu vào trong năm. Cùng với việc duy trì hoạt động sản xuất, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất công nghiệp đã chủ động mở rộng thị trường tiêu thụ và tăng cường ký kết đơn hàng, qua đó thúc đẩy sản lượng của nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực trong năm 2025 tăng so với năm trước: Đá xây dựng khác 2.083,9 nghìn m³, tăng 7,84%; cá ngừ đóng hộp 6.706,6 tấn, tăng 19,79%; cà phê bột các loại 58,3 nghìn tấn, tăng 28,72%; nước tinh khiết 31,4 triệu lít, tăng 10,47%; quần áo da thuộc 12,8 triệu cái, tăng 16,13%; phân khoáng hoặc phân hóa học 61,1 nghìn tấn, tăng 10,84%; thủy điện và điện sinh khối 7.108,4 triệu kWh, tăng 22,69%. Bên cạnh đó một số sản phẩm giảm do nhu cầu thị trường giảm và tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế như: Vỏ bào, dăm gỗ giảm 7,80%; bàn bằng gỗ các loại giảm 14,64%; cấu kiện tháp và cột làm bằng những thanh sắt, thép bắt chéo nhau giảm 33,92% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2025 tăng 11,25% so với tháng trước và tăng 22,74% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,75% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2025 là tích cực nhưng chưa đồng đều, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đang phục hồi rõ rệt ở các ngành: Công nghiệp chế biến chế tạo khác (tăng 67,11%, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (tăng 32,41%), sản xuất kim loại (tăng 31,02%), sản xuất chế biến thực phẩm (tăng 28,24%),...; tuy nhiên, có sự sụt giảm sâu của ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện (giảm 18,06%) và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (giảm 30,20%), phản ánh khó khăn của thị trường tiêu thụ đối với nhóm sản phẩm này. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2025 giảm 2,65% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 56,39% so với cùng thời điểm năm trước, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đã được cải thiện. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 12/2025 giảm nhẹ 0,04% so tháng trước và giảm 1,43% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu sử dụng lao động có xu hướng chững lại, phản ánh khó khăn chung của thị trường vào thời điểm cuối năm. Tuy nhiên, tính chung cả năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 11,34% so với năm trước, khẳng định xu hướng phục hồi và mở rộng sản xuất của khu vực công nghiệp. Xét theo loại hình doanh nghiệp, lao động trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng mạnh 38,44% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,32%, cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của các khu vực này trong tạo việc làm và ổn định lao động; trong khi đó, lao động khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 1,48%, phản ánh những khó khăn về vốn, thị trường và khả năng thích ứng trước biến động kinh tế. Xét theo ngành cấp I, lao động tăng ở cả 4 ngành công nghiệp, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,02%; tiếp tục là ngành thu hút lao động chủ yếu và đóng vai trò động lực của tăng trưởng công nghiệp; các ngành còn lại như khai khoáng tăng 2,85%; sản xuất, phân phối điện tăng 3,74% và cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 1,94% duy trì mức tăng ổn định, góp phần bảo đảm việc làm và ổn định lực lượng lao động công nghiệp trên địa bàn. Nhìn chung, sản xuất công nghiệp năm 2025 trên địa bàn tỉnh chịu tác động đan xen của cả yếu tố thuận lợi và khó khăn. Trong bối cảnh một số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn gặp hạn chế trong tiếp cận vốn, đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường; hạ tầng kỹ thuật tại một số khu, cụm công nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ; nguồn nguyên liệu đầu vào cho một số ngành chế biến nông sản chưa ổn định do ảnh hưởng của thời tiết và biến động giá cả, các doanh nghiệp công nghiệp đã chủ động điều chỉnh phương thức sản xuất, đẩy mạnh đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa mặt hàng, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Song song với nỗ lực của doanh nghiệp, công tác đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp tiếp tục được quan tâm, cùng với việc triển khai kịp thời các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong tiếp cận tín dụng, đất đai, thủ tục đầu tư và lao động; các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung – cầu được tăng cường, góp phần tháo gỡ khó khăn về thị trường. Nhờ đó, mặc dù chịu tác động của biến động kinh tế thế giới, chính sách thương mại quốc tế và giá nguyên vật liệu đầu vào, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì được đà phát triển, từng bước được củng cố và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh trong năm 2025. 5. Hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã a) Về hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp (DN) Phát triển doanh nghiệp: Tỉnh tiếp tục ban hành và triển khai đồng bộ nhiều chương trình, kế hoạch nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển; trọng tâm là tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, bảo đảm quyền kinh doanh và quyền bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực, cơ hội phát triển. Tỉnh tập trung xây dựng và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; đồng thời đề xuất chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2028. Trong năm, ước toàn tỉnh có 2.950 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 79,99% so với kế hoạch, tăng 52,38% so với năm trước; tổng vốn đăng ký ước đạt 34.000 tỷ đồng, đạt 128,54% so với kế hoạch, gấp 2,57 lần so với năm trước; đồng thời có 600 doanh nghiệp tạm ngừng đã quay trở lại hoạt động kinh doanh, tăng 10,29%. Bên cạnh đó; toàn tỉnh ước có 530 doanh nghiệp giải thể, tăng 44,81% so với năm trước và 1.450 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 17,89%. Nhìn chung, khu vực doanh nghiệp của tỉnh trong năm 2025 hoạt động trong bối cảnh nhiều khó khăn đan xen, song vẫn duy trì xu hướng phục hồi và gia tăng số doanh nghiệp thành lập mới. Trong thời gian tới, việc theo dõi sát tình hình hoạt động của doanh nghiệp, kịp thời nắm bắt khó khăn phát sinh và triển khai hiệu quả các giải pháp hỗ trợ, nhất là về thủ tục hành chính, tiếp cận tín dụng, khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất và thúc đẩy chuyển đổi số, là yêu cầu quan trọng nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định và phát triển bền vững. Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN): Trên địa bàn tỉnh hiện có 14 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và 14 doanh nghiệp có vốn nhà nước. Tỉnh tập trung cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Cảng Vũng Rô; thoái vốn tại Công ty CP Môi trường đô thị Phú Yên; xử lý vướng mắc về thoái vốn ngoài ngành tại Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Phú Yên và các khó khăn trong sắp xếp DNNN. Đồng thời, tỉnh tăng cường quản lý vốn nhà nước, rà soát doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả để có biện pháp xử lý; thực hiện giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả theo quy định, hoàn thành báo cáo năm 2024 và triển khai kế hoạch năm 2025. Yêu cầu DNNN đổi mới mô hình hoạt động, nâng cao quản trị, ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và liên kết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh. UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành và địa phương hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục thiệt hại do bão lũ, sớm khôi phục hoạt động. b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2025 cho thấy 40,43% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý III/2025; 34,04% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 25,53% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn. Dự kiến quý I/2026, có 34,04% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý IV/2025; 42,55% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 23,40% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Trong đó, khu vực doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lạc quan nhất với 100% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2026 tốt hơn và giữ ổn định so với quý IV/2025; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và khu vực doanh nghiệp Nhà nước lần lượt là 78,94% và 50%. Về khối lượng sản xuất, có 36,17% số doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý IV/2025 tăng so với quý III/2025; 38,30% số doanh nghiệp đánh giá ổn định và 25,53% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm. Xu hướng quý I/2026 so với quý IV/2025, có 38,30% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 40,43% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 21,28% số doanh nghiệp dự báo giảm.Về đơn đặt hàng, có 40,91% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới quý IV/2025 cao hơn quý III/2025; 38,64% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng mới ổn định và 20,45% số doanh nghiệp có đơn hàng giảm. Xu hướng quý I/2026 so với quý IV/2025, có 44,19% số doanh nghiệp dự kiến số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 39,53% số doanh nghiệp dự kiến số lượng ổn định và 16,28% số doanh nghiệp dự kiến giảm. c)Tình hình kinh tế tập thể: Khu vực kinh tế tập thể được quan tâm chỉ đạo; toàn tỉnh có 75 hợp tác xã thành lập mới, đạt 100% kế hoạch, giảm 19,35% so với năm trước và 940 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã còn hoạt động, đạt 98,12% so kế hoạch, tăng 7,31%. Các hợp tác xã chủ yếu hoạt động trong nông nghiệp, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống người dân nông thôn. Tỉnh chú trọng củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động, khuyến khích hợp tác xã đổi mới mô hình, tăng cường liên kết sản xuất – tiêu thụ, ứng dụng khoa học – kỹ thuật và chuyển đổi số. Đồng thời, tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ như đào tạo nhân lực, vốn vay ưu đãi, xúc tiến thương mại và xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực, qua đó nâng cao vai trò của kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. 6. Hoạt động dịch vụ Ngành Thương mại – dịch vụ của tỉnh Đắk Lắk trong năm 2025 tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu” của kinh tế địa phương, với tăng trưởng ổn định, đóng góp lớn vào tổng sản phẩm GRDP. Hoạt động bán lẻ, tiêu dùng nội địa duy trì đà tăng, trong khi dịch vụ du lịch, logistics và thương mại điện tử mở ra nhiều cơ hội phát triển.  Các doanh nghiệp thương mại chủ động triển khai nhiều chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng, góp phần bình ổn giá cả và thúc đẩy lưu thông hàng hóa. Tỉnh tích cực tham gia các hội chợ, lễ hội và chương trình kết nối cung cầu trong và ngoài nước[13], qua đó góp phần quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ và tăng cường liên kết thương mại. Đồng thời, các lực lượng chức năng chủ động phối hợp thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện nghiêm việc niêm yết giá và bán hàng theo giá niêm yết, góp phần giữ ổn định thị trường, thúc đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển thương mại nội địa. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2025 ước đạt 17.158,5 tỷ đồng, tăng 5,77% so với tháng trước và tăng 12,22% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.477,4 tỷ đồng, tăng 5,63% so với tháng trước, tăng 13,36% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 84,37% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2025; so với cùng kỳ năm trước, một số mặt hàng tăng như: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 117,19%; nhiên liệu khác tăng 29,32%; ô tô các loại tăng 74,73%... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.710,5 tỷ đồng, tăng 7,12% so với tháng trước, tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 186,1 tỷ đồng, tăng 21,09% và tăng 9,87%; dịch vụ ăn uống ước đạt 1.524,4 tỷ đồng, tăng 5,63% và tăng 3,76%. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 8,4 tỷ đồng, giảm 4,86% và tăng 36,93%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 962,2 tỷ đồng, tăng 5,65% so với tháng trước và tăng 10,18% so cùng kỳ năm 2024. Trong Quý IV/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 50.409,5 tỷ đồng, tăng 5,26% so với quý III/2025, tăng 12,24% so với cùng quý năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 42.501,4 tỷ đồng, tăng 6,86% so với quý III/2025, tăng 12,96% so với cùng quý năm trước, chiếm 84,31% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý IV/2025. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung so với cùng kỳ đó là: đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 126,72%; nhiên liệu khác tăng 29,34%; ô tô các loại tăng 26,51%; xăng dầu các loại tăng 24,08%...; đã tác động tích cực đến tổng mức bán lẻ trong kỳ; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 5.054,9 tỷ đồng, giảm 6,15% so với quý III/2025, tăng 7,14% so với cùng quý năm trước, chiếm 10,03% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý IV/2025. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 498,3 tỷ đồng, giảm 13,19% và tăng 7,63%; dịch vụ ăn uống đạt 4.556,6 tỷ đồng, giảm 5,31% và tăng 7,09%. Doanh thu du lịch lữ hành và hỗ trợ du lịch ước đạt 33,6 tỷ đồng, giảm 35,82% và tăng 38,40%, chiếm 0,07%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 2.819,6 tỷ đồng, tăng 5,39% so với quý III/2025, tăng 10,80% so với cùng quý năm trước. Tính chung năm 2025, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 189.251,8 tỷ đồng, tăng 13,56% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 157.938,9 tỷ đồng, tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 83,45% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung, đó là mặt hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 62,91%; nhiên liệu khác tăng 24,0%; ô tô các loại tăng 32,21%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,15%;…Một số mặt hàng có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: hàng may mặc chỉ tăng 1,31%; hàng hoá khác tăng 1,26%; vật phẩm văn hoá giáo dục tăng 12,98%;…đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 20.379,3 tỷ đồng, tăng 16,08% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 10,77% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 2.171,6 tỷ đồng, tăng 21,98%; dịch vụ ăn uống đạt 18.207,6 tỷ đồng, tăng 15,41%. Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch đạt 146,4 tỷ đồng, tăng 26,84%. Dịch vụ khác đạt 10.787,2 tỷ đồng, tăng 14,93% so với cùng kỳ năm trước. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ và hiệu quả. Các chương trình, kế hoạch kích cầu du lịch năm 2025; tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch quy mô lớn nhằm tạo điểm nhấn và thu hút du khách[14]; đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu hình ảnh du lịch Đắk Lắk trên các phương tiện truyền thông và nền tảng số. Hoạt động liên kết, hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh trong khu vực và các trung tâm du lịch lớn tiếp tục được thúc đẩy, góp phần mở rộng thị trường, thu hút du khách và nâng cao hiệu quả phát triển du lịch trên địa bàn.Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Tháng 12/2025, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 507.930 lượt khách, tăng 10,94% so với tháng trước, tăng 15,28% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: lượt khách ngủ qua đêm là 364.362 lượt khách tăng 13,41% và tăng 14,89%, lượt khách trong ngày là 143.568 lượt tăng 5,13% và tăng 16,28%. Trong quý IV/2025, tổng số lượt khách phục vụ là 1.441.785 lượt, tăng 16,34% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lượt khách ngủ qua đêm là 1.024.012 lượt, tăng 16,25%, khách trong ngày là 417.773 lượt, tăng 16,57% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2025, tổng số lượt khách phục vụ là 5.870.180 lượt, tăng 21,55% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lượt khách ngủ qua đêm là 4.197.148 lượt, tăng 24,16%, khách trong ngày là 1.673.032 lượt, tăng 15,47% so với cùng kỳ năm trước. Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour tháng 12/2025 là 1.379 lượt, giảm 10,74% so với tháng trước và tăng 91,53% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý IV/2025 là 5.860 lượt, tăng 168,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025 tổng số lượt khách du lịch theo tour là 32.319 lượt, tăng 82,92%, trong đó: khách đi trong nước là 29.835 lượt, tăng 104,07% so với cùng kỳ năm trước. b) Vận tải hành khách và hàng hoá Sau sáp nhập tỉnh, nhu cầu di chuyển của người dân, vận chuyển hàng hoá cho sản xuất, xuất khẩu tăng cùng với đó là nhiều sự kiện văn hóa, du lịch biển kết hợp núi được tổ chức chính là nguyên nhân làm cho doanh thu, khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp vận tải trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng cường năng lực vận chuyển, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân. Tháng 12/2025, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 846,1 tỷ đồng, tăng 8,29% so với tháng trước, tăng 8,55% so cùng kỳ năm trước, trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 207,3 tỷ đồng, tăng 5,03% và tăng 23,89%; vận tải hàng hóa đạt 513,6 tỷ đồng tăng 9,82% và tăng 4,85%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 80,8 tỷ đồng, tăng 9,09% và giảm 0,77%; dịch vụ bưu chính chuyển phát ước đạt 44,4 tỷ đồng, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 8,58% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách ước đạt 3.058 ngàn lượt hành khách và 347 triệu lượt hành khách.km, so với tháng trước tăng 4,01% về khối lượng vận chuyển và tăng 3,30% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 43,11% về khối lượng vận chuyển và tăng 56,51% về khối lượng luân chuyển; Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.515 ngàn tấn và 199 triệu tấn.km, so với tháng trước tăng 7,73% về khối lượng vận chuyền và tăng 8,36% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 8,88% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,78% về khối lượng luân chuyển. Trong quý IV/2025, ước tính doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 2.439,7 tỷ đồng, tăng 2,86% so với quý III/2025 và tăng 7,61% so cùng quý năm trước, trong đó, doanh thu vận tải hành khách đạt 611,6 tỷ đồng, giảm 1,15% và tăng 21,85%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.477,9 tỷ đồng, tăng 4,68% và tăng 3,81%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 221,7 tỷ đồng, tăng 3,06% và giảm 3,55%; bưu chính chuyển phát đạt 128,5 tỷ đồng, tăng 1,79% và tăng 14,93%. Vận chuyển và luân chuyển hành khách ước đạt 9.216 ngàn lượt hành khách và 1.036 triệu lượt hành khách.km, so với quý III/2025 tăng 19,64% về khối lượng vận chuyển và tăng 38,50% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 46,42% về khối lượng vận chuyển và tăng 60,05% về khối lượng luân chuyển; tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 4.397 ngàn tấn và 563 triệu tấn.km, so với quý III/2025 tăng 7,88% về khối lượng vận chuyển và tăng 9,85% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 9,95% về khối lượng vận chuyển và tăng 8,67% về khối lượng luân chuyển. Tính chung năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 9.530,9 tỷ đồng, tăng 10,34% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 2.438,4 tỷ đồng, tăng 18,51%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 5.713,6 tỷ đồng, tăng 5,51%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 879,9 tỷ đồng, tăng 14,32%; bưu chính chuyển phát đạt 499,0 tỷ đồng, tăng 26,25%; Ước tính vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 30.754 ngàn lượt hành khách và 3.101 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,26% về khối lượng vận chuyển và tăng 22,72% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 16.489 ngàn tấn và 2.071 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,52% về khối lượng vận chuyển và tăng 5,49% về khối lượng luân chuyển hàng hóa. c) Chuyển đổi số Công tác phát triển kinh tế số, xã hội số được chú trọng thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tỉnh đã thực hiện kết nối, tích hợp dữ liệu giữa Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Đắk Lắk (Hệ thống iGate) với phần mềm hộ tịch, lý lịch tư pháp; kết nối, tích hợp dữ liệu Hệ thống iGata với ứng dụng VneID để thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên nền tảng số. Đồng bộ dữ liệu giữa Cổng dịch vụ công của tỉnh với Cổng dịch vụ công quốc gia, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tra cứu, theo dõi và thực hiện thủ tục hành chính. Triển khai đánh giá việc thực hiện Đề án Thí điểm thực hiện cơ chế giao doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích đảm nhận một số công việc trong quá trình hướng dẫn, tiếp nhận, số hóa hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh, góp phần giảm tải áp lực cho bộ phận một cửa, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân. Cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư và mở rộng: nâng cấp đường truyền, băng thông và xử lý các điểm nghẽn tại cấp xã, điểm phục vụ hành chính công cho chính quyền địa phương 02 cấp trên địa bàn tỉnh; tổ chức lại phương án kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng sau sắp xếp, hợp nhất đơn vị hành chính. Đến nay, 100% thôn, buôn có kết nối băng rộng di động; 99,9% dân số được phủ sóng di động 4G; 26% dân số phủ sóng 5G; tốc độ truy cập băng rộng di động 390 Mbps; 100% thôn, buôn được phủ băng rộng cố định cáp quang. Hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng dữ liệu và nền tảng số của tỉnh được củng cố và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và đời sống xã hội, góp phần xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giám sát, điều hành các dịch vụ đô thị thông minh của tỉnh theo quy định.II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểmNgân hàng: Hoạt động tín dụng, ngân hàng trên địa bàn phát triển ổn định và an toàn; các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại tuân thủ và chấp hành nghiêm các quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam về lãi suất huy động và lãi suất cho vay.Đối với công tác huy động: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tiếp tục chú trọng đa dạng hóa và tăng sức hấp dẫn của các sản phẩm huy động vốn, triển khai hiệu quả các chương trình huy động tiết kiệm dự thưởng, đồng thời, thực hiện tốt công tác chăm sóc khách hàng và dành nhiều ưu đãi cho sản phẩm tiền gửi tiết kiệm dài hạn... Ước năm 2025, tổng vốn huy động đạt khoảng 169.800 tỷ đồng, tăng 19,7% so với đầu năm, đạt 103,8% so với kế hoạch Đối với công tác tín dụng: Các hoạt động tín dụng tăng khá cao, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho vay phát triển kinh tế. Dư nợ cho vay ước năm 2025 đạt khoảng 256.300 tỷ đồng, tăng 14% so với đầu năm, đạt kế hoạch đề ra; nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng 0,89% trên tổng dư nợ, duy trì trong ngưỡng an toàn. Ước năm 2025, dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 14.080 tỷ đồng tăng 9,62% so với đầu năm, ước đạt 99,6% kế hoạch, đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo và các hộ có hoàn cảnh khó khăn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu an sinh xã hội tại địa phương.Bảo hiểm: Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ước năm 2025 đạt 7.695,6 tỷ đồng, đạt 100,0% kế hoạch (KH), tăng 7,07% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi từ BHXH, BHYT, BHTB là 7.695,6 tỷ đồng, vượt 6,76% KH, tăng 21,01%. Ước số người tham gia bảo hiểm y tế là 2.634.630 người, đạt 100,0% KH, tăng 1,07%;     2. Đầu tư và xây dựng   2.1. Đầu tư Năm 2025, các chính sách về miễn giảm, giãn, hoãn thuế tiếp tục được triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh đã thúc đẩy đầu tư mới và mở rộng sản xuất, tăng cường thu hút và thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh. So với cùng kỳ năm 2024, vốn đầu tư thực hiện năm nay tăng 4,53% đã cho thấy được sự nỗ lực của các cấp trong việc đầu tư phát triển kinh tế của tỉnh. Nổi bật trong đó chính là nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước (tư nhân, dân cư), khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn thấp do tình trạng khó khăn chung của nền kính tế thế giới và thu hút đầu tư của tỉnh còn nhiều hạn chế..   a) Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý: Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 12/2025 ước đạt 1.195,2 tỷ đồng, tăng 7,90% so tháng trước và tăng 25,31% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.173,7 tỷ đồng, tăng 7,86% so với tháng trước và tăng 25,53% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 98,20% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 21,5 tỷ đồng, tăng 10,13% so với tháng trước và tăng 14,14% so với cùng kỳ năm trước. Ước quý IV/2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn đạt 3.448,3 tỷ đồng, tăng 5,09% so quý III/2025 và tăng 37,56% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt gần 3.381,3 tỷ đồng, chiếm 98,06% trong tổng vốn, tăng 5,52% so với quý trước, tăng 37,92% so với cùng quý năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 67 tỷ đồng, giảm 12,91% so với quý trước và tăng 21,53% so với cùng kỳ năm trước. Ước năm 2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn đạt 12.182,1 tỷ đồng, tăng 35,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 11.943,4 tỷ đồng, chiếm 98,04% tổng vốn, tăng 36,23% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 238,7 tỷ đồng, tăng 23,32% so với cùng kỳ năm trước.      b) Vốn đầu tư thực hiện:        Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh ước quý IV/2025 đạt 16.566,3 tỷ đồng, tăng 0,46% so với quý III/2025, giảm 3,10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn khu vực Nhà nước đạt 6.116,5 tỷ đồng, tăng 7,29% so với quý trước và giảm 0,88% so với cùng kỳ năm trước; vốn khu vực ngoài nhà nước (dân cư và tư nhân) đạt 10.184,8 tỷ đồng, giảm 3,69% so với quý III/2025 và giảm 1,03% so với cùng kỳ năm trước; khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 265 tỷ đồng, tăng 23,55% so với quý III/2025 và giảm 58,25% so với cùng kỳ năm trước.       Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh năm 2025 ước đạt 61.202,9 tỷ đồng, tăng 4,53% so với thực hiện năm 2024. Trong đó, vốn khu vực Nhà nước đạt 20.668,4 tỷ đồng, giảm 2,72%; vốn khu vực ngoài nhà nước (dân cư và tư nhân) đạt 39.545,1 tỷ đồng, tăng 12,68%; vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài 989,4 tỷ đồng, giảm 55,25% so với cùng kỳ năm trước. Vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh so với cùng kỳ chủ yếu vì các dự án điện gió được đầu tư thực hiện năm 2024, đến năm 2025 cơ bản đã hoàn thành nên khối lượng thấp so với năm trước.        Kế hoạch đầu tư công năm 2025 toàn tỉnh Đắk Lắk sau điều chỉnh và bổ sung nguồn vốn cấp huyện (cũ) chuyển về là 16.482,837 tỷ đồng (Bổ sung quỹ đo đạc: 260,3 tỷ đồng; hoàn ứng quỹ phát triển nhà đất: 50 tỷ đồng; Thực hiện dự án: 16.172,537 tỷ đồng), trong đó đã giao chi tiết đến để thực hiện dự án là 15.923,221 tỷ đồng. Tính đến hết ngày 24/12/2025, vốn đầu tư công đã giải ngân đạt 7.407,89 tỷ đồng, đạt 46,52% kế hoạch, trong đó: Ngân sách Trung ương giải ngân đạt 3.893,359 tỷ đồng, đạt 44,66% kế hoạch ; nguồn vốn ngân sách địa phương giải ngân đạt 3.514,531 tỷ đồng, đạt 48,78% kế hoạch.       Một số công trình, dự án giá trị thực hiện lớn tiếp tục được đầu tư thực hiện như: Dự án thành phần 3 (Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột giai đoạn 1) ước thực hiện 2.547.130 triệu đồng; Nâng cấp khoa ung bướu thành trung tâm ung bướu thuộc bệnh viện vùng Tây Nguyên ước thực hiện 396.482 triệu đồng; Bệnh viện đa khoa Thị xã Buôn Hồ ước thực hiện 346.763 triệu đồng; Đầu tư xây dựng bệnh viện sản nhi ước thực hiện 300.182 triệu đồng; Xây dựng Hệ thống chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030 ước thực hiện 274.991 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc Cầu An Hải ước đạt 216.982 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển tỉnh Phú Yên, đoạn kết nối huyện Tuy an - Thành phố Tuy Hòa trước đây (giai đoạn 1) ước thực hiện 185.209 triệu đồng.          Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước là do đóng góp của vốn ngoài nhà nước (tư nhân và dân cư). Vốn đầu tư khu vực nhà nước tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước và không đạt so với kế hoạch đề ra là do một số địa phương bước đầu còn lúng trúng trong thực hiện nhiệm vụ chính quyền địa phương 2 cấp; ảnh hưởng thiên tai, biến đổi khí, đặc biệt là các đợt mưa bão, lũ lụt liên tiếp xảy ra trong những tháng cuối năm, đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công của nhiều dự án, làm chậm quá trình giải ngân vốn đầu tư công, dẫn đến tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của tỉnh chưa đạt so với kế hoạch đề ra. Hiện nay, tỉnh tích cực phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thi công Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025 đoạn qua địa bàn tỉnh Đắk Lắk, đến nay khối lượng thi công dự án này đạt khoảng 91% giá trị hợp đồng. Đồng thời, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai công tác chuẩn bị cho Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đoạn qua tỉnh thuộc thẩm quyền của địa phương[15]. Chỉ đạo giải quyết dứt điểm vướng mắc về mặt bằng trong phạm vi ranh giới dự án Đầu tư xây dựng Đường Hồ Chí Minh đoạn tránh phía Đông thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; đến nay đã có thông báo thu hồi đất và đang tiến hành lập giá đất đền bù cho các hộ, tiến hành di dời các hệ thống ống nước sạch trong phạm vi nút giao đầu tuyến của Dự án. Tiếp tục đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc đối với dự án cao tốc Khánh Hoà - Buôn Ma Thuột giai đoạn 1, khối lượng thực hiện dự án đến nay đạt khoảng 82,13%, phấn đấu hoàn thành dự án theo tiến độ được duyệt.         Xúc tiến đầu tư: Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 47 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng vốn đăng ký hơn 35.623 tỷ đồng, đồng thời đã điều chỉnh chủ trương đầu tư cho 87 dự án. Tính đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh có 61 dự án FDI còn hoạt động, với số vốn đăng ký là 2.224 triệu USD. UBND tỉnh cùng các sở, ngành và địa phương đã tích cực hỗ trợ nhà đầu tư hoàn thiện các thủ tục để sớm khởi công, đưa dự án vào triển khai, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Nhiều dự án có quy mô lớn, có ý nghĩa tạo động lực phát triển được đẩy mạnh, như: Dự án Đầu tư xây dựng Bến cảng Bãi Gốc; Dự án xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Hòa Tâm (giai đoạn 1); Khu công nghiệp Công nghệ cao Phú Yên; Khu công nghiệp Phú Xuân; Nhà máy cà phê Trung Nguyên Legend; Tổ hợp trung tâm thương mại - khách sạn - nhà ở Eco Palace,…        Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Tỉnh tiếp tục quan tâm công tác vận động và thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Hiện nay, tỉnh đang vận động đối với 05 dự án[16], tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 12.361 tỷ đồng, trong đó 01 dự án đang thực hiện các thủ tục đàm phán. Đến cuối năm 2025, có 05 chương trình, dự án ODA đang thực hiện trên địa bàn, với tổng mức đầu tư 2.265,8 tỷ đồng. Đồng thời, tỉnh phối hợp chặt chẽ trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm các chương trình, dự án ODA triển khai đúng quy định, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn, phấn đấu hoàn thành kế hoạch giải ngân năm 2025.       Viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho Việt Nam (NGO): Các khoản viện trợ phi Chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh được triển khai thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tính đến nay, UBND tỉnh đã phê duyệt tiếp nhận 25 khoản viện trợ, với tổng giá trị gần 21 tỷ đồng, tương đương hơn 0,8 triệu USD. Ngoài ra, tỉnh đã phê duyệt dự án đầu tư Xây dựng mới 03 phòng học cho Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Hòa Hội, xã Phú Hòa 1, tỉnh Đắk Lắk do Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam tài trợ[17]       2.2. Xây dựng       Năm 2025, ngành xây dựng tỉnh đã tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị; đầu tư kết cấu hạ tầng trong các khu, cụm công nghiệp, đầu tư phát triển nhà ở, khu dân cư đô thị mới; đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, các dự án xây dựng lớn. Nhiều hạng mục công trình được xây dựng và hoàn thiện như các công trình điện gió, điện mặt trời, các hệ thống đường giao thông, xây dựng trụ sở làm việc trong các khu hành chính đã đóng góp rất lớn vào giá trị sản xuất toàn ngành xây dựng năm 2025. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế có nhiều biến động nên một số doanh nghiệp xây dựng vẫn còn gặp khó khăn về vốn, giá nguyên vật liệu tăng cao dẫn tới việc triển khai các dự án còn chậm, chưa hoàn thành kế hoạch đề ra.       Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, xây dựng và đô thị được quan tâm, chỉ đạo thực hiện quyết liệt; trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo chỉ đạo của Chính phủ. Tập trung triển khai Đề án Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân KCN năm 2025 và giai đoạn 2026-2030. Triển khai kêu gọi đầu tư các dự án nhà ở thương mại thuộc danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất năm 2025. Ước năm 2025, hoàn thành xây dựng và khởi công 2.800 căn nhà ở xã hội. Công tác quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa đường bộ được thực hiện thường xuyên, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá, hành khách và nhu cầu đi lại của Nhân dân.         Ước năm 2025, giá trị sản xuất ngành xây dựng (giá so sánh 2010) đạt 25.164,9 tỷ đồng, tăng 7,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công trình kỹ thuật dân dụng đạt 13.268,0 tỷ đồng, tăng 8,36%, chiếm 52,72% tổng giá trị sản xuất; công trình nhà các loại đạt 10.939,9 tỷ đồng, tăng 4,71%, chiếm 43,47%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt gần 957 tỷ đồng, tăng 27,99%. Một số công trình có giá trị sản xuất lớn trong năm như: Đường tránh Đông quốc lộ 14 – quốc lộ 26 ước đạt 236.798 triệu đồng; hạ tầng khu dân cư ổng định vùng khó khăn eahiu ước đạt 44.090 triệu đồng; Cao tốc Buôn Ma Thuột – Khánh Hoà đạt 87.560 triệu đồng; Nhà ở đô thị liền kề Eco city 43.386 triệu đồng; Nhà máy điện Thiên Tân 2 đạt 302.992 triệu đồng…Nhìn chung, giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2025 tuy có tăng song chưa đạt được mục tiêu của tỉnh đề ra là do tiến độ thực hiện và giải ngân các nguồn vốn xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh vẫn còn chậm, thiếu đất đắp cho công trình, thiếu vốn để thực hiện; biến động giá vật liệu, xây dựng… Các dự án ngoài nhà nước, vốn đầu tư nước ngoài chưa thu hút được nhiều dự án lớn, chủ yếu các dự án thực hiện từ các năm trước, dự án mới với vốn đầu tư nhỏ…         3. Tài chính         Thu ngân sách nhà nước năm 2025 có kết quả tích cực hơn so với cùng kỳ năm 2024, tỷ lệ thực hiện so với dự toán tăng, trong đó tăng mạnh nhất ở thu nội địa. Chi NSNN đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả trong khả năng cân đối ngân sách tỉnh. Ưu tiên nguồn lực cho chi đầu tư phát triển, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội và phòng chống dịch bệnh trên địa bàn.         Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác thu ngân sách; triển khai các giải pháp điều hành phù hợp với tình hình thực tế; yêu cầu cơ quan thuế thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách thuế, phí và các biện pháp hỗ trợ theo quy định của Trung ương, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục về thuế. Đồng thời, thường xuyên rà soát, khai thác hiệu quả các nguồn thu còn tiềm năng; tăng cường kiểm tra, kiểm soát, chống thất thu; duy trì việc sử dụng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền, chuẩn hóa thông tin người nộp thuế; bảo đảm giải quyết thủ tục hành chính kịp thời trên các hệ thống dịch vụ công.       Năm 2025, tổng thu NSNN ước đạt 17.900 tỷ đồng, tăng 26,39% so với cùng kỳ năm trước và vượt dự toán được giao. Trong đó, thu nội địa ước đạt 17.734,4 tỷ đồng, chiếm 99,07% tổng thu, tăng 27,35%[18], trong đó thu phí, lệ phí tăng 24,32%, thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng 22,77%; thu viện trợ là 34,0 tỷ đồng, giảm 7,01% so với cùng kỳ năm trước.       Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 49.680,4 tỷ đồng, tăng 21,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển là 15.166,6 tỷ đồng, tăng 23,44% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 30,53% tổng chi; chi thường xuyên là 34.511,7 tỷ đồng, tăng 21,06%([19]), chiếm 69,47%; chi khác gần 0,19 tỷ đồng, tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính và dự phòng ngân sách không phát sinh.         4. Xuất, nhập khẩu               Trong năm 2025, hoạt động xuất khẩu tiếp tục được quan tâm và đạt kết quả tích cực. Các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết, chủ động duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ, nhất là đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Ước năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 3.660 triệu USD, tăng 19,90%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1.940 triệu USD, tăng 39,42% so với cùng kỳ năm trước.     Xuất khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 ước đạt 2.800 triệu USD, tăng 26,02% so với năm 2024, vượt 25,28% kế hoạch. Sản lượng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: cà phê, hạt điều, cao su, sầu riêng đều tăng khá so với cùng kỳ; giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản duy trì ở mức cao, góp phần làm kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, vượt mục tiêu đề ra.   Nhập khẩu: Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 860 triệu USD, tăng 3,55% so với năm 2024, vượt 12,27% kế hoạch. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.5. Chỉ số giáa) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 12 năm 2025 biến động ở nhiều nhóm hàng do ảnh hưởng bởi đợt mưa lũ. Giá gas và một số mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, quần áo, giày dép... tăng so với tháng 11/2025; giá xăng, dầu giảm theo giá thế giới, giá điện thoại và thiết bị truyền thông tiếp tục giảm để kích cầu. So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,69%, tăng 5,38% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá bình quân quý IV/2025 tăng 4,80%, bình quân năm 2025 tăng 5,07%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2025 tăng 0,69%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 06 nhóm có chỉ số giá tăng nhẹ; 05 nhóm giảm giá so với tháng trước. Nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,90% làm cho CPI chung tăng 0,63 điểm phần trăm nguyên nhân do ảnh hưởng của mưa bão, trong đó lương thực tăng 0,94%[20]; thực phẩm tăng 2,89%[21], ăn uống ngoài gia đình tăng 0,27%. Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,35%; chủ yếu do: Giá gas tăng 1,45%; tiền nhà ở thuê và nhà ở thuộc sở hữu tính quy đổi tăng 0,95%[22] Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,13% chủ yếu do giá đồ dùng cá nhân tăng 0,38%; các mặt hàng đồ trang sức tăng 2,22%; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,25%; hiếu hỷ tăng 0,05%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,06% do nhu cầu vui chơi, giải trí cuối năm tăng[23]. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,03% chủ yếu vải các loại tăng 0,32%; quần áo may sẵn tăng 0,12%; may mặc khác tăng 0,46%; dịch vụ may mặc tăng 0,83%. Nhóm giáo dục tăng 0,01%. Ở chiều ngược lại có 05 nhóm hàng giảm giá, trong đó giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm 0,70% do giá xăng giảm 2,41%. Tiếp đến là nhóm Thông tin và truyền thông giảm 0,43% chủ yếu ở các mặt hàng điện thoai. Nhóm đồ uống và Thuốc lá giảm 0,27% là do nhu cầu giảm như giá thuốc lá giảm 0,65%; nước giải khát có gas giảm 0,41%; nước khoáng giảm 0,29%; bia lon giảm 0,06%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,13% chủ yếu do tủ lạnh giảm 0,71%; máy giặt giảm 0,16%; thiết bị khác giảm 1,15%[24]… để kích cầu tiêu dùng cuối năm. Nhóm Thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,02% do giá thuốc các loại giảm 0,06%; giá dụng cụ y tế giảm 0,08%. Những nhóm hàng giảm giá này đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2025.Trong quý IV/2025, chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 4,80% so với cùng kỳ. Có 10/11 nhóm hàng tăng giá. Trong đó, tăng mạnh nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 15,41% trong đó dịch vụ y tế tăng 19,17%. Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 12,75%. Nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 2,98%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,34%. Nhóm giáo dục tăng 3,65%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,91%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,84%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,25%. Nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,63% chủ yếu tăng ở nhóm thực phẩm tăng 3,91%, ăn uống ngoài gia đình tăng 6,79%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,72%. Nhóm giao thông tăng 1,20%. Ở một diễn biến khác chỉ có 01/11 nhóm hàng giảm giá đó là Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,55% đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng chung cho cả tỉnh bình quân quý IV/2025.Bình quân năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,07%. Có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 15,65%, trong đó dịch vụ y tế tăng 19,44% là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng…Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 13,07%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,36% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng; một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng; các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,85%, trong đó thực phẩm tăng 4,55%, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,67%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,20% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, tết. Tương tự, nhóm May mặc, giày dép và mũ nón tăng 3,70%. Nhóm giáo dục tăng 3,52%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,75%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,87%. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,52%. Có 02 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyền thông giảm 1,06%; nhóm giao thông giảm 1,52%. Những mặt hàng giảm giá này đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025.             Hiện nay, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã và đang theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, lạm phát trên thế giới và kịp thời cảnh báo các nguy cơ ảnh hưởng đến tình hình trong nước. Đặc biệt, trong việc đánh giá, nhận định các mặt hàng, nguyên vật liệu có khả năng thiếu hụt tạm thời hay trong dài hạn để từ đó đưa ra được chính sách phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa một cách bình thường. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Công thương và Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, đồng thời kết hợp Quỹ bình ổn xăng, dầu để hạn chế mức tăng giá của mặt hàng này. Thông tin kịp thời, chính xác và rõ ràng các chính sách, giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ nhằm loại bỏ thông tin sai lệch về giá cả thị trường, không để xảy ra hiện tượng lạm phát do tâm lý.       b) Chỉ số giá vàng, giá đô la Mỹ       Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá đô la tăng là do Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) điều chỉnh lãi suất đồng Đô la Mỹ và tình hình chính trị căng thẳng ở một số quốc gia lớn trên thế giới. Sức mua của loại hàng hóa này cũng ở mức bình thường.          Giá vàng tháng 12/2025 tăng 2,46% so với tháng trước; giá Đô la Mỹ tăng 0,14%. Bình quân quý IV/2025, giá vàng tăng cao, tăng 69,51%, giá Đô la Mỹ tăng 4,20%, Bình quân năm 2025, giá vàng tăng 46,34%; giá Đô la Mỹ tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước.       c) Chỉ số giá sản xuất       Tình hình thị trường hàng hóa trong nước nguồn cung hàng hóa được bảo đảm, tuy nhiên giá tăng giảm đan xen nhau. Cụ thể:       Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý IV/2025 tăng 3,80% so với quý trước; tăng 2,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan 3,78% và tăng 2,55%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,51% và tăng 5,32%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 5,11% và tăng 3,43%.       Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý IV/2025 tăng 2,86% so với quý trước và tăng 3,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,97% so quý trước và tăng 1,18% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản phẩm khai khoáng khác giảm 9,36% và tăng 82,7%; chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu khác tăng 1,70% và tăng 1,91%; chỉ số giá điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí giảm 9,55% và giảm 8,24%; chỉ số giá sản phẩm nước tự nhiên khai thác giảm 0,47% và giảm 0,47%; chỉ số giá dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ có giá không đổi.III. Một số vấn đề xã hội1. Dân số, lao động, việc làm  a) Dân sốDân số trung bình tỉnh Đắk Lắk năm 2025 sơ bộ 2.849.199 người, tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: dân số nam 1.440.435 người, chiếm 50,56% tổng dân số, tăng 0,74%; dân số nữ 1.408.764 người, chiếm 49,44% tổng dân số, tăng 0,52%. Dân số khu vực thành thị là 778.923 người, chiếm 27,34% tổng dân số, tăng 0,77%; dân số khu vực nông thôn là 2.070.276 người, chiếm 72,66%, tăng 0,58% so với cùng kỳ năm trước.b) Lao độngNăm 2025, thị trường lao động trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường; ngành nghề nông nghiệp phát triển tốt. Nhờ đó, lực lượng lao động và số lượng việc làm có xu hướng tăng, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, tình trạng thất nghiệp giảm và thu nhập của người lao động tiếp tục được cải thiện.    Quy mô lực lượng lao động tiếp tục duy trì ở mức cao, phản ánh khả năng hấp thụ lao động của nền kinh tế trên địa bàn tỉnh. Cơ cấu lao động theo khu vực thành thị – nông thôn và theo giới tính nhìn chung ổn định, phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của tỉnh. Trong đó, khu vực nông thôn vẫn chiếm tỷ trọng lớn do lao động nông nghiệp còn đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm; đồng thời, lao động nam chiếm tỷ trọng cao hơn lao động nữ, chủ yếu tập trung ở các ngành công nghiệp, xây dựng và một số lĩnh vực sản xuất có tính chất nặng nhọc.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk quý IV/2025 dự ước 1.639,10 nghìn người, tăng 10,95 nghìn người (tăng 0,67%) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra, khu vực thành thị chiếm 25,79%, khu vực nông thôn chiếm 74,21%; lực  lượng lao động nam chiếm 54,30% và lực lượng lao động nữ chiếm 45,70%.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk năm 2025 dự ước 1.642,81 nghìn người, tăng 25,65 nghìn người (tăng 1,59%) so với năm trước. Chia ra: khu vực thành thị 422,75 nghìn người, chiếm 25,73%, khu vực nông thôn 1.220,06 nghìn người, chiếm 74,27%; lực lượng lao động nam 890,05 nghìn người, chiếm 54,18% và lực lượng lao động nữ 752,76 nghìn người, chiếm 45,82%.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc quý IV/2025 dự ước 1.613,29 nghìn người, tăng 8,40% so với cùng kỳ năm trước. Theo khu vực kinh tế, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 61,80%, tăng 7,96% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 13,42%, tăng 30,24%, là khu vực có mức tăng cao nhất; ngành dịch vụ chiếm 24,78%, tăng 0,30%.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2025 dự ước 1.611,94 nghìn người, tăng 8,31% so với năm trước. Theo khu vực kinh tế, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản có 988,55 nghìn người, chiếm 61,33%, tăng 7,04% so với năm trước; ngành công nghiệp và xây dựng có 216,47 nghìn người, chiếm 13,43%, tăng 30,24%, là khu vực có mức tăng cao nhất; ngành dịch vụ có 406,92 nghìn người, chiếm 25,24%, tăng 2,10%.Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng tăng mạnh, phản ánh tác động của các dự án đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng và sự mở rộng hoạt động của một số doanh nghiệp trên địa bàn. Lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn, song tốc độ tăng chậm hơn, cho thấy xu hướng từng bước giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp. Lao động khu vực dịch vụ tăng nhẹ, phản ánh hoạt động thương mại, dịch vụ duy trì ổn định trong năm.Tỷ lệ thất nghiệp: Tình hình thất nghiệp của người lao động vẫn tiếp tục duy trì xu hướng giảm so với quý trước, cho thấy thị trường lao động cơ bản ổn định, khả năng tạo việc làm của nền kinh tế được cải thiện. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV/2025 ước khoảng 25,90 nghìn người, tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp chung của lực lượng lao động 1,58%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với quý trước. Ước năm 2025 tỷ lệ thất nghiệp 1,83%.Thu nhập bình quân tháng của người lao động làm công hưởng lương trong quý IV năm nay dự ước 8.475,69 nghìn đồng, tăng 3,80% so với quý trước và tăng 9,78% cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động nam có thu nhập bình quân ước là 9.584,30 nghìn đồng, gấp 1,42 lần mức thu nhập bình quân của lao động nữ; lao động làm việc tại khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân gấp 1,17 lần mức thu nhập bình quân của lao động làm việc tại khu vực nông thôn. Ước năm 2025 thu nhập bình quân tháng của người lao động làm công hưởng lương là 8.372 nghìn đồng, tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước.Trong năm 2025, tình hình thị trường lao động trên địa bàn tỉnh nhìn chung duy trì ổn định; các doanh nghiệp trong tỉnh hoạt động tương đối bình thường, nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành, lĩnh vực có xu hướng tăng. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm tiếp tục được triển khai đồng bộ và hiệu quả; các chính sách về lao động, việc làm và bảo hiểm xã hội được quan tâm thực hiện, góp phần ổn định quan hệ lao động. Hoạt động cho thuê lại lao động được tăng cường quản lý, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật. Cùng với đó, các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm tiếp tục được đẩy mạnh như tổ chức Ngày hội việc làm, Phiên giao dịch việc làm, duy trì các điểm tư vấn, giới thiệu việc làm, qua đó kết nối cung – cầu lao động trong và ngoài tỉnh. Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai cho vay vốn ưu đãi nhằm hỗ trợ người lao động duy trì, mở rộng sản xuất, tự tạo việc làm và vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Người lao động ngày càng chủ động trong việc tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp và tham gia làm việc ở nước ngoài, góp phần nâng cao thu nhập và ổn định đời sống. Ước tính năm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 55.950 người, đạt 100,27% kế hoạch đề ra (giảm 2,57% so với thực hiện năm 2024); xuất khẩu lao động khoảng 2.569 người, đạt 87,08% so với kế hoạch (tăng 22,28%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề khoảng 70% (tăng 3%), trong đó tỷ lệ có bằng cấp chứng chỉ khoảng 25% (tăng 2%).2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hộiCác chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được quan tâm thực hiện.Dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, các cơ quan chức năng và tổ chức xã hội đã thăm, tặng 105.899 suất quà với tổng kinh phí hơn 37 tỷ đồng. Tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 30.124 suất quà, tổng kinh phí:15 tỷ đồng. Tặng cho các đối tượng chính sách người có công nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh, liệt sĩ với 54.897 suất quà, tổng kinh phí: 20 tỷ đồng…Các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các hộ chính sách có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã nhận được hỗ trợ 8.842 tấn gạo từ các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức từ thiện trong và ngoài tỉnh vào dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025. Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường đối với thiên tai lũ lụt là 65 tấn lúa giống, khoảng 1.625 triệu đồng.Trong năm 2025, các cơ quan chức năng đã giải quyết chế độ đối với hơn 2.322 hồ sơ người có công, thân nhân người có công và các đối tượng liên quan khác có đủ điều kiện.Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, giảm nghèo bền vững, an sinh xã hội được tập trung thực hiện. Đến nay, toàn tỉnh đã hỗ trợ xây mới, sửa chữa và bàn giao đưa vào sử dụng 8.915 căn nhà, đạt 100% kế hoạch và đã tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh vào ngày 16/9/2025. Về công tác hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai đến nay. Nguồn lực hỗ trợ từ Trung ương và các đơn vị, tổ chức khác với tổng kinh phí: 1.114,7 tỷ đồng[25]; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đơn vị liên quan đã tiếp nhận vào Quỹ cứu trợ tỉnh 234,7 tỷ đồng từ các địa phương, tổ chức, cá nhân ủng hộ khắc phục hậu quả lũ lụt. Để kịp thời hỗ trợ khẩn cấp, giải quyết khó khăn trước mắt cho người dân bị thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng do mưa lũ gây ra, UBND tỉnh đã chủ động sử dụng nguồn dự phòng ngân sách cấp tỉnh để hỗ trợ kinh phí khắc phục hậu quả thiên tai do cơn bão số 13 gây ra cho các đơn vị, địa phương, với số tiền là 65 tỷ đồng; phân bổ từ nguồn NSTW bổ sung có mục tiêu hỗ trợ khẩn cấp kinh phí cho các đơn vị, địa phương khắc phục thiệt hại do mưa lũ gây ra, số tiền 99,6 tỷ đồng; giao Chủ tịch UBND các xã, phường bị ảnh hưởng chủ động sử dụng nguồn ngân sách địa phương (trong khoảng 500 triệu đồng) để mua sắm lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu phục vụ nhu cầu cấp bách của Nhân dân; kịp thời xử lý vệ sinh môi trường, phòng chống dịch, bệnh sau lũ, lụt theo quy định; thực hiện “Chiến dịch Quang Trung” thần tốc xây dựng mới, sửa chữa nhà ở khẩn cấp cho các hộ gia đình có nhà bị sập, đổ, trôi do cơn bão số 13 Kalmaegi và đợt mưa lớn từ ngày 15/11/2025 đến ngày 20/11/2025 gây ra trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, theo đó hỗ trợ xây dựng nhà ở mới: 170 triệu đồng/nhà (xây dựng hoàn thành trước ngày 30/01/2026); hỗ trợ sửa chữa nhà hư hỏng nặng: 40 triệu đồng/nhà (hoàn thành trước ngày 31/12/2025); hỗ trợ nhà ở bị hư hỏng nhẹ 10 triệu đồng/nhà (hoàn thành trước ngày 31/12/2025); hỗ trợ các hộ dân có nhà bị ngập lụt và bị thiệt hại (đối với hộ nghèo 03 triệu đồng/hộ; đối với các hộ còn lại 1,5 triệu đồng/hộ); hỗ trợ mua các thiết bị thiết yếu cho các trường nội trú, bán trú; hỗ trợ mua các nhu yếu phẩm thiết yếu, khắc phục môi trường,... Tổng nguồn kinh phí tỉnh đã chi, phân bổ khoảng hơn 1.000 tỷ đồng. Hiện nay, các địa phương đang tiếp tục thống kê thiệt hại và triển khai các biện pháp cấp bách để khắc phục sớm ổn định đời sống nhân dân và khôi phục sản xuất. 3. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmNgành y tế tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường đầu tư trang thiết bị, giáo dục về y đức, củng cố nhân lực, nâng cao kỹ năng giao tiếp, giáo dục sức khỏe và chăm sóc bệnh nhân. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm thực hiện; các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân. Tăng cường công tác giám sát, theo dõi tình hình, báo cáo và xử lý dịch bệnh. Trong tháng 12/2025, toàn tỉnh ghi nhận số ca mắc bệnh tay chân miệng 177 ca; số ca mắc bệnh sốt xuất huyết là 1.423 ca, không có ca mắc bệnh sởi. Tính đến ngày 19/12, bệnh tay chân miệng có 1.568 ca; bệnh sốt xuất huyết có 8.811 ca, 05 ca tử vong; bệnh sởi có 697 ca mắc, 01 ca tử vong; covid-19 158 ca mắc; viêm não Nhật Bản 02 ca mắc; bệnh thủy đâụ 110 ca mắc... Đặc biệt, sau bão và mưa lũ gây ngập úng tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh, ngay sau khi nước rút, ngành chức năng đã chỉ đạo và hướng dẫn chuyên môn để các đơn vị thực hiện làm sạch nguồn nước, vệ sinh môi trường, khử khuẩn, phòng chống nguy cơ ô nhiễm từ các chất thải phát tán do mưa lũ, ngập úng, góp phần phòng, chống dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe nhân dân sau lũ. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi) giảm còn 13,6%; số giường bệnh/1 vạn dân (không tính giường của trạm y tế xã) ước đạt 29,8 giường/1 vạn dân; số bác sỹ trên một vạn dân ước đạt 8,6 bác sỹ/1 vạn dân; tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm Y tế ước đạt 95%.Chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục được triển khai; đến nay tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin đạt 79%. Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS: Số ca HIV/AIDS/tử vong do AIDS mới phát hiện trong tháng là 02/00/00; tích lũy 452/05/14. Công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm được thực hiện thường xuyên tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống. Tuy nhiên, trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm với 3 người mắc; tính từ đầu năm xảy ra 07 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 40% so với cùng kỳ năm trước, với 84 người mắc. Tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát chuỗi cung ứng thực phẩm, đặc biệt tại các bếp ăn tập thể, cơ sở cung cấp suất ăn, chợ dân sinh và vùng sản xuất nhỏ lẻ. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân, hộ kinh doanh và người chế biến thực phẩm nâng cao nhận thức, tuân thủ quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, nhằm bảo đảm sức khỏe và quyền lợi của người tiêu dùng.       4. Giáo dục- Đào tạoTập trung triển khai thực hiện các nội dung Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Các cơ sở giáo dục duy trì nề nếp dạy và học nghiêm túc theo đúng kế hoạch, hoàn thành nhiệm vụ năm học 2024-2025; tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT bảo đảm an toàn, nghiêm túc, với kết quả 98,34% học sinh đỗ tốt nghiệp, trong đó học sinh dân tộc thiểu số đạt 97,22%. Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho năm học mới; tổ chức khai giảng và triển khai thực hiện kế hoạch năm học 2025-2026 theo đúng quy định và tiến độ đề ra. Tiếp tục duy trì thực hiện hiệu quả Chương trình GDPT 2018, nâng cao chất lượng dạy và học. Chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh đạt nhiều kết quả nổi bật, đạt thành tích cao trong các kỳ thi quốc gia và khu vực([26]). Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác giáo dục, đào tạo được quan tâm đầu tư, nguồn lực từ xã hội hoá được đẩy mạnh. Tại thời điểm đầu năm học 2025 – 2026, toàn tỉnh có 1.379 cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên với 708.428 học sinh; hiện có 59,29% trường đạt chuẩn quốc gia. Bên cạnh đó, triển khai Thông báo Kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới, tỉnh đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn 03 trường học tại 3 xã biên giới trên địa bàn tỉnh đưa vào danh mục các trường học đầu tư xây dựng năm 2025 và đã tổ chức lễ khởi công xây dựng các trường học trong tháng 11/2025.        5. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao       Văn hóa: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, rộng khắp, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc được chú trọng([27]); việc quản lý và tổ chức lễ hội được thực hiện đúng quy định, bảo đảm trật tự, an toàn, tiết kiệm, văn minh, phù hợp với thuần phong mỹ tục và đặc điểm văn hóa địa phương. Các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của tỉnh được tổ chức đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, góp phần giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đặc biệt, tỉnh đã tổ chức thành công các sự kiện quy mô lớn như: Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắk Lắk, Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 9 năm 2025; kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng tỉnh Phú Yên; các sự kiện kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các hoạt động tuyên truyền Đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng,...         Thể thao: Phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tiếp tục phát triển, thu hút đông đảo Nhân dân tham gia, nổi bật là các hoạt động hưởng ứng “Cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và tháng hoạt động thể dục thể thao cho mọi người.         6. Thiệt hai do thiên tai    Trong tháng không xảy ra thiên tai. Tính chung năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 đợt thiên tai. Tổng số người chết do mưa bão, lũ lụt là 116 người chết, 06 người bị mất tích, 16 người bị thương; 11.151 ha lúa, 46.031 ha hoa màu, 15.846 con gia súc và 955.379 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 571 ngôi nhà bị sập, bị cuốn trôi, 990 ngôi nhà bị hư hại và nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình công cộng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Giá trị thiệt hại ước tính trên 9.717,4 tỷ đồng. 7. Tình hình vi phạm môi trường          Từ ngày 26/11/2025 đến 25/12/2025 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện 2 vụ vi phạm môi trường, xử lý 4 vụ (số vụ đã phát hiện và xử lý không thay đổi so với cùng kỳ năm trước), số tiền phạt là 115,3 triệu đồng (tăng 92,08%). Lũy kế từ đầu năm đến 25/12/2025 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện 127 vụ vi phạm môi trường (giảm 12,41% so với năm trước), xử lý 104 vụ (tăng 11,83%), tổng số tiền xử phạt là 6.734,6 triệu đồng (tăng 12%).         8. Tình hình an ninh và trật tự an toàn giao thông         Công tác bảo đảm an ninh, an toàn cho các sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng trên địa bàn được triển khai đồng bộ, hiệu quả, trong đó có Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030. Bên cạnh đó, tỉnh tăng cường quản lý hoạt động của người và phương tiện tại khu vực biên giới biển, đồng thời triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Trung ương và của Tỉnh về bảo đảm trật tự an toàn giao thông và giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn.              Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/11/2025 đến ngày 14/12/2025 toàn tỉnh không xảy ra cháy nổ. Ước quý IV/2025, xảy ra 5 vụ cháy, không thay đổi so với quý III/2025, tăng 66,67% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 14/12/2025 toàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy (giảm 51,28% so với cùng kỳ năm trước), bị thương 01 người (tăng 01 người), thiệt hại tài sản khoảng 1.405 triệu đồng (giảm 74,31%).         Tình hình tai nạn giao thông: Từ ngày 15/11/2025 đến ngày 14/12/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông (giảm 29,23% so với cùng kỳ năm trước), làm chết 32 người (không tăng, không giảm), bị thương 23 người (giảm 55,77%), thiệt hại tài sản 567 triệu đồng. Quý IV/2025 xảy ra 155 vụ tai nạn giao thông (tăng 16,54% so với quý III/2025, giảm 10,92% so với cùng kỳ năm trước), làm chết 97 người (tăng 6,59% và tăng 1,04%), bị thương 86 người (giảm 7,52% và giảm 33,33%). Lũy kế từ 15/12/2024 đến ngày 14/12/2025, tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí so với cùng kỳ năm trước, xảy ra 572 vụ tai nạn giao thông (giảm 17,10% so với cùng kỳ năm trước), làm chết 397 người (giảm 4,8%), bị thương 355 người (giảm 26,20%), ước thiệt hại tài sản 5.628 triệu đồng.        Tóm lại, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới biến động khó lường; thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng nhưng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, sát sao của Chính phủ và nỗ lực của Chính quyền, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh, kinh tế năm 2025 đạt mức tăng trưởng khá 6,68%. Các chỉ tiêu thống kê cho thấy kinh tế vĩ mô của tỉnh tiếp tục ổn định, sản xuất công nghiệp trên đà tăng trưởng tích cực, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì tăng trưởng và là “trụ đỡ” của nền kinh tế, xuất khẩu hàng hóa tiếp tục đạt mức tăng cao; ngành du lịch tăng trưởng tích cực. Vốn đầu tư thực hiện tiếp tục duy trì mức tăng khá. Công tác an sinh xã hội được quan tâm kịp thời; công tác hỗ trợ dịch bệnh, thiên tai tại các địa phương bị ảnh hưởng được thực hiện nhanh, hiệu quả.         Bước sang năm 2026, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược các nước lớn và trong khu vực tiếp tục diễn ra gay gắt, xung đột chính trị tại Ucraina, Trung Đông; khả năng điều chỉnh chính sách tiền tệ, thương mại, đầu tư của các nền kinh tế lớn; triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu; các xu hướng mới về khoa học công nghệ, xanh hóa, số hóa trên thế giới; các vấn đề an ninh phi truyền thống như dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh mạng... tác động đến sự ổn định và phát triển của thế giới, khu vực.         Trong nước, năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 và là năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá ở mức tương đối tích cực. Các chủ trương, quyết sách lớn của Trung ương, đặc biệt là các Nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, an ninh năng lượng..., quy định pháp luật mới được triển khai tích cực, sớm đi vào cuộc sống sẽ phát huy hiệu quả, tạo nền tảng, động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cơ bản còn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức đan xen, nhất là từ những yếu tố bất lợi bên ngoài và những hạn chế, bất cập nội tại đã kéo dài nhiều năm; trong khi đó yêu cầu cho đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh rất lớn nhưng nguồn lực còn hạn chế, đòi hỏi tuyệt đối không chủ quan, tiếp tục đổi mới tư duy phát triển, hành động quyết liệt, hiệu quả hơn.       Đối với tỉnh Đắk Lắk, kinh tế tiếp tục phục hồi và phát triển; việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh tạo nên không gian phát triển mới, mở rộng và tích hợp được những tiềm năng từ hai vùng địa lý về nông nghiệp, kinh tế biển, năng lượng tái tạo, du lịch và logistic. Thành tựu kinh tế - xã hội trong những năm qua là tiền đề, nền tảng quan trọng để tỉnh Đắk Lắk cùng với cả nước bước vào giai đoạn phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi đã nêu, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh chưa thật bền vững, tốc độ tăng trưởng vẫn chưa tương xứng tiềm năng và chưa có nhiều đột phá, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao; các vấn đề về suy giảm tài nguyên, biến đổi khí hậu, dịch bệnh diễn biến ngày càng khó lường đã, đang trở thành thách thức lớn của tỉnh. Cạnh tranh thị trường, xu hướng bảo hộ mậu dịch của các nước, nhất là các nước lớn sẽ ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là sản xuất nông nghiệp của tỉnh ta. Xu thế công nghệ số phát triển mạnh, nếu không nắm bắt, thực hiện quyết liệt sẽ dẫn đến nguy cơ tụt hậu so với các tỉnh là những khó khăn, thách thức đối với sự phát triển của tỉnh. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh chưa thật sự đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển, trong khi nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhà nước vẫn tiếp tục khó khăn, huy động các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách còn hạn chế. Một số công trình trọng điểm chưa đáp ứng yêu cầu tiến độ, chủ yếu do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng.       Mục tiêu: Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng của tỉnh là đạt trên 10%. Đây là thách thức lớn, cần sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, của doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh. Các ngành, các cấp tăng cường dự báo, chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới, kịp thời ứng phó với mọi tình huống phát sinh, kiên định thực hiện hiệu quả các mục tiêu tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tối đa cho khu vực doanh nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống của người dân. Cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:       Một là, Tập trung thực hiện các giải pháp, chính sách của Trung ương và địa phương nhằm khắc phục hậu quả do thiên tai, bão lũ gây ra trong những tháng cuối năm, sớm ổn định đời sống Nhân dân trên địa bàn tỉnh. Hỗ trợ người dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh khôi phục hoạt động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kịp thời đề xuất Trung ương hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ, dự án khắc phục hậu quả thiên tai, đặc biệt là các công trình, hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi, cấp nước sinh hoạt, y tế, giáo dục…        Hai là, Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các Chương trình, Đề án, Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, của Tỉnh.       Ba là, Tập trung cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.       Bốn là, Phát triển các ngành công nghiệp động lực gắn với kinh tế biển, mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp hiện có theo mô hình kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Tập trung thu hút đầu tư các dự án công nghiệp chế biến sâu sản phẩm nông lâm thủy sản, phát triển công nghiệp cơ khí chế tạo phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sản xuất năng lượng tái tạo quy mô lớn và một số ngành công nghiệp có tiềm năng, lợi thế mới.       Năm là, Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá các sản phẩm và tăng cường triển khai công tác kết nối giao thương nhằm mở rộng tiêu thụ nội địa và thị trường xuất khẩu, chủ động thích ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới, khu vực. Tiếp tục đăng cai tổ chức, đưa các sự kiện, hoạt động văn hóa lớn về địa phương vào các dịp lễ, kỳ nghỉ dài ngày để tăng lượng khách du lịch đến với tỉnh và thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển.       Sáu là, Tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển; đẩy nhanh tiến độ đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị,… Chỉ đạo quyết liệt công tác thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công (bao gồm các Chương trình mục tiêu quốc gia), kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện các dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm, liên vùng.       Bảy là, Quản lý chặt chẽ thu, chi NSNN. Tăng cường quản lý, chống thất thu, triển khai tốt các nhiệm vụ thu NSNN, nhất là các nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ; tập trung tháo gỡ khó khăn để tăng thu ngân sách trên địa bàn. Thực hiện chi ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí, tiêu cực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính - NSNN. Tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN theo hướng giảm tỷ trọng chi thường xuyên, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển.       Tám là, Chú trọng thực hiện các chính sách an sinh xã hội; chính sách giảm nghèo, ưu tiên nguồn lực thực hiện chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần nâng cao mức sống của người dân. Nâng cao chất lượng các tiêu chí và chất lượng thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.        Chín là, Tập trung triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk năm 2025; Đề án 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030./.[1] Quý I/2025 tăng 6,91%; quý II/2025 tăng 7,61%; quý III/2025 tăng 6,47%[2]Nền kinh tế chỉ tính mức đóng góp của 03 khu vực, loại trừ thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm.[3] Tốc độ tăng GRDP năm 2024: Phú Yên cũ tăng 6,01%, Đắk Lắk cũ 5,06%[4] Số liệu dân số năm 2025 mới được CTK thông báo là 2.849.199 người;[5] Trong đó diện tích xoài tăng 7,35%; sầu riêng tăng 5,77%; nhãn tăng 1,80%; vải tăng 7,09%[6] Bao gồm tiêu, điều, cà phê, cao su[7] Trong đó đàn gà 17.924 nghìn con, tăng 0,53% so với cùng kỳ năm trước.[8] Dịch tả lợn Châu phi: Trong kỳ báo cáo, trên địa bàn tỉnh phát sinh làm chết và tiêu hủy 11.059 con, khối lượng tiêu hủy là 709.190 Kg. Tại 566 hộ, 151 thôn, 8 xã, phường mới gồm: Ea Drăng, Ea Nuôl, Cư Bao, Krông A, Ea Khăl, Cư Pui, Ea Wy, Krông Bông; Bệnh cúm gia cầm: Trong kỳ báo cáo phát sinh và tiêu hủy 1.900 con gà mắc bệnh, khối lượng tiêu hủy là 3.368 kg. Tại 01 hộ, xã Ea Wer.[9] Tháng 12/2025, đã kiểm dịch xuất tỉnh được 1.037.338 con (Trong đó: trâu 110 con, bò 273 con, heo 73.840 con, gà 926.581 con, vịt + Ngan 36.534 con.; kiểm dịch nhập tỉnh được 1.384.587 con (Trong đó: Trâu 0 con, bò 185 con, heo 37.126 con, gà 946.655 con, vịt + Ngan 400.621 con)[10] Là do quý III/2025 là cao điểm mùa mưa, khí hậu thuận lợi nên công tác trồng rừng được tập trung thực hiện[11] Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 39.047 ha, tăng 1,66% so năm trước. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 421,4 ngàn ha, tăng 3,69%.[12]Trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng là 3.416 tấn, tăng 0,9%, sản lượng thủy sản khai thác nội địa 309 tấn, tăng 2,1%; khai thác biển là 3.485 tấn, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước[13] Như: Tham gia Hội chợ Quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây - Đà Nẵng; Lễ hội Cà phê Trung Quốc - Việt Nam (Hồng Hà) lần thứ nhất năm 2025; đồng thời triển khai các hoạt động khuyến mại và tham gia Hội chợ Mùa Thu năm 2025 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (VEC), thành phố Hà Nội; Hội chợ Công nghiệp, Thương mại và Hàng tiêu dùng quốc gia Việt Nam (VIEE); cùng Chương trình kết nối cung cầu giữa thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành năm 2025;…[14] Tổ chức đón vị khách du lịch thứ “Một triệu, năm trăm ngàn” và Đoàn khách du lịch đầu tiên đến tỉnh Đắk Lắk nhân dịp tết Dương lịch năm 2025; Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 9 năm 2025; triển lãm “Không gian du lịch, di sản văn hóa, danh thắng và sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam” tại Năm du lịch quốc gia - Huế 2025; Ngày hội văn hóa các dân tộc huyện Buôn Đôn và Tết Bunpimay - Lào năm 2025; Lễ 30/4 và 01/5/2025 và Ngày hội Khinh khí cầu tại Buôn Đôn; Tuần lễ Văn hóa, Du lịch và Ẩm thực Đắk Lắk 2025; Giải bóng chuyền bãi biển nữ Châu Á năm 2025; Giải vô địch Thanh thiếu niên môn Cử tạ Quốc gia; Giải vô địch Boxing các đội mạnh Quốc gia; Vòng loại bóng đá U11, U13 Quốc gia; Giải vô địch các nhóm tuổi thanh thiếu niên quốc gia môn Súng hơi; Đăng cai tổ chức vòng bảng giải Bóng đá U15 Quốc gia; Giải vô địch các CLB Karate Quốc gia lần thứ XXV; Giải vô địch Đẩy gậy, Kéo co trẻ và thiếu niên quốc gia; giải Quần vợt đồng đội trẻ quốc gia.[15] Qua rà soát sơ bộ, có khoảng 5.595 hộ dân, tổ chức bị ảnh hưởng GPMB, trong đó, khoảng 3.179 hộ cần bố trí tái định cư.[16] (1) Dự án “Giảm thiểu khí thải tại khu vực Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu Chương trình hành động quốc gia REDD+” do IFAD và GCF đồng tài trợ; (2) Dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đô thị trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, giai đoạn 1; (3) Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk; (4) Dự án Phát triển đô thị khu vực phía Đông và dọc hành lang suối Ea Nao - Ea Tam, Buôn Ma Thuột; (5) Dự án Cấp điện nông thôn sử dụng vốn Chương trình SETP – EU tài trợ.[17]Tại Quyết định số 01910/QĐ-UBND ngày 06/11/2025.[18] Trong đó: thu doanh nghiệp nhà nước (trung ương + địa phương) là 1.401,6 tỷ đồng, tăng 25,44% so với cùng kỳ năm trước; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là 534,5 tỷ đồng, tăng 30,07%; Thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh là 5.140,1 tỷ đồng, tăng 22,77%; thu phí và lệ phí là 1447,4 tỷ đồng, tăng 24,32%, trong đó lệ phí trước bạ tăng 32,50%. Thu sổ số kiến thiết là 406,5 tỷ đồng, tăng 10,02%. Thu thuế thu nhập cá nhân là 1.380,5 tỷ đồng, tăng 30,20%; thu ngân sách khác là 675,6 tỷ đồng, giảm 6,02%...[19] Trong đó: Chi an ninh và trât tự an toàn xã hội là 3.539,2 tỷ đồng, tăng 34,15%; chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo nghề là 12.345,3 tỷ đồng, tăng 12,31%; chi sự nghiệp y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình 2.784,5 tỷ đồng, tăng 3,05%; chi sự nghiệp kinh tế 2.337,6 tỷ đồng, giảm 20,5%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể 8.700,4 tỷ đồng, tăng 64,19% so với cùng kỳ năm trước....[20]Gạo tăng 0,85%, đặc biệt gạo tẻ thường tăng 1,02%, gạo nếp tăng 1,25%; gạo tẻ lứt tăng 1,17%; bột mì và ngũ cốc khác tăng 6,10% do giá mặt hàng ngô, khoai, sắn tăng cao; lương thực chế biến tăng 0,52% do giá bánh mỳ tăng 0,84%, miến tăng 1,05%, ngũ cốc ăn liền tăng 2,26%...[21]Giá thịt gia súc tăng 2,78%, đặc biệt giá thịt lợn tăng cao 3,42%, giá thịt bò tăng 0,89%, nội tạng động vật tăng 2,05%; Giá thịt gia cầm tăng 0,11%; Giá thịt chế biến cũng tăng 1,63%. Giá trứng các loại cũng tăng 6,69%. Giá dầu ăn, mỡ và chất béo khác tăng 0,85% do giá các loại thịt tăng cao, mỡ động vật tăng cao 4,46%, dầu thực vật tăng 0,67% Giá thuỷ sản tươi sống tăng 1,65%; Giá thuỷ sản chế biến tăng 2,19% do nguồn cung giảm, nhu cầu tích trữ các mặt hàng khô cho dịp cuối năm tăng. Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 13,55%. Giá quả tươi, chế biến tăng 4,69%; giá chuối tăng 7,49%, xoài tăng 6,01%, quả tươi khác tăng 5,97%.[22]Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,64%; Giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,54%[23]Thiết bị văn hoá tăng 0,01%; sách, báo, tạp chí các loại tăng 0,02%; giải trí tăng 0,42% ở các mặt hàng đồ chơi tăng 0,03%, dịch vụ giải trí tăng 0,63%, du lịch trọn gói tăng 0,02%.[24]Đồ điện giảm 0,04%; đồ dùng nấu ăn giảm 0,32%; đồng hồ treo tường, để bàn, gương giảm 0,82%, đồ dùng kim loại giảm 0,24%; hàng thuỷ tinh, sành, sứ giảm 0,37%; xà phòng và chất tẩy rửa giảm 0,39%.[25]Gồm: ngân sách Trung ương hỗ trợ kinh phí với tổng số tiền 1.000 tỷ đồng (trong đó: hỗ trợ kinh phí khắc phục hậu quả do cơn bão số 13 là 230 tỷ đồng, kinh phí hỗ trợ khẩn cấp khắc phục thiệt hại do mưa lũ gây ra là 650 tỷ đồng, 120 tỷ hỗ trợ xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các hộ gia đình có nhà ở bị thiệt hại do các đợt thiên tai vừa qua)[26]Học sinh tỉnh Đắk Lắk (cũ) đạt 72 giải trong kì thi học sinh giỏi cấp quốc gia (02 giải Nhất môn Tin học, 13 giải Nhì, 18 giải Ba và 39 giải Khuyến khích); 02 giải Nhì và 01 giải Triển vọng Cuộc thi Khoa học kỹ thuật toàn quốc; 15/15 học sinh tiểu học tham gia,…Tỉnh Phú Yên (cũ) có 50 học sinh đạt giải trong kì thi học sinh giỏi cấp quốc gia với 01 giải Nhất, 04 giải Nhì, 22 giải Ba và 23 giải Khuyến khích; có 3/3 dự án dự thi đạt giải Cuộc thi Khoa học kỹ thuật toàn quốc tại (trong đó: 2 giải Ba và 01 giải Triển vọng),…[27] Lập hồ sơ di sản “Tri thức trồng và chế biến cà phê tỉnh Đắk Lắk” ghi danh vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia và đề xuất UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tổ chức thực hiện các quy trình, thẩm định và trình 46 bộ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. Tổng kết 20 năm thực hiện công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk. Tham mưu lập 14 hồ sơ khoa học đề nghị UBND tỉnh xem xét, xếp hạng di tích cấp tỉnh và 01 đề nghị xếp hạng di tích quốc gia. Tổ chức Lễ công bố Quyết định của TTCP công nhận bảo vật quốc gia Phù điêu Kala Núi Bà,…

Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2026
  •   09/05/2026 14:42

Tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán, đặc biệt là xung đột vũ trang ở khu vực Trung Đông đã tác động mạnh đến giá nguyên nhiên vật liệu trên thế giới, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Đối với tỉnh Đắk Lắk, tình hình kinh tế - xã hội trong tháng 4 và 4 tháng năm 2026 vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực. Hiện nay, Chính quyền và người dân tỉnh đã và đang tập trung nghiêm túc, thực hiện đồng bộ những giải pháp phát triển kinh tế - xã hội. Công tác thu hoạch vụ Đông xuân 2025-2026 có nhiều thuận lợi; chỉ số phát triển công nghiệp, tổng mức bán lẻ và doanh thu hoạt động tiêu dùng tiếp tục tăng. Thu ngân sách nhà nước đạt tiến độ và tăng so với cùng kỳ; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh. Nhiều sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch được tổ chức để chào mừng ngày Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch) và kỷ niệm 51 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) đã thu hút khách du lịch đến với tỉnh nhà. Công tác an sinh tiếp tục được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Trật tự xã hội được đảm bảo, an ninh quốc phòng được giữ vững. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tiếp tục chịu nhiều áp lực do giá nguyên, nhiên vật liệu và chi phí logistics tăng cao, làm giảm sức cạnh tranh và ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các đơn hàng đã ký kết, nhất là trong các ngành chế biến, xuất khẩu. Số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động còn ở mức cao. Dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, gây thiệt hại cho người chăn nuôi, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở một số dự án còn gặp nhiều khó khăn, làm chậm tiến độ thực hiện. 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 4, ngành nông nghiệp tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng ổn định, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế địa phương. Sản xuất vụ Đông xuân diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi; hệ thống kênh mương được nâng cấp, gia cố đã đảm bảo đầy đủ nguồn nước tưới, tạo tiền đề tốt cho năng suất cây trồng. Các loại cây lâu năm chủ lực như cà phê, hồ tiêu và đặc biệt là sầu riêng ghi nhận mức tăng trưởng diện tích đáng kể, được người dân tập trung đầu tư công nghệ tưới và cắt cành tạo tán để nâng cao chất lượng. Thị trường nông sản khởi sắc với giá các mặt hàng chủ lực duy trì ở mức cao, tạo động lực mạnh mẽ cho bà con nông dân yên tâm sản xuất. Hoạt động chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng nhẹ giúp đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng trong các dịp lễ. Công tác phòng chống dịch bệnh được triển khai quyết liệt; các cơ quan chuyên môn đã kịp thời giám sát và hướng dẫn người dân xử lý các ổ dịch phát sinh trên cây trồng và đàn vật nuôi, không để lây lan trên diện rộng. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, tỉnh chú trọng công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng trong giai đoạn giao mùa, đồng thời đẩy mạnh kế hoạch trồng rừng tập trung và cây phân tán. Ngành thủy sản tiếp tục là điểm sáng với sản lượng khai thác và nuôi trồng đều tăng trưởng khả quan nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuyển đổi sang mô hình nuôi bền vững. Bên cạnh đó, Chương trình Nông thôn mới và OCOP ghi nhận nhiều kết quả thực chất, với hàng trăm sản phẩm đạt chuẩn từ 3 đến 5 sao, góp phần nâng cao giá trị nông sản và thu nhập cho người dân nông thôn. 1.1. Sản xuất cây hàng năm Lúa đông xuân: Tính đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh gieo trồng 76.098 ha, tăng 0,16% so với cùng kỳ năm trước; trà lúa sớm đã thu hoạch được 429 ha (các xã phía Tây Đắk Lắk). Cùng với việc gieo cấy lúa Đông xuân, các địa phương trên toàn tỉnh đã gieo trồng được: Ngô 5.705 ha, tăng 1,69%; khoai lang 2.310 ha, tăng 0,39%; đậu tương 40 ha, giảm 3,8%; lạc 595 ha, giảm 0,83%; rau các loại 9.050 ha, tăng 1,67%; đậu các loại 1.500 ha, giảm 0,13% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, việc sản xuất vụ Đông xuân năm nay tương đối thuận lợi về thời tiết, kênh mương dẫn nước được gia cố cải tạo đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng. Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng ([1]). Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường. 1.2. Cây lâu năm Hiện nay, các địa phương đang tập trung cắt cành tạo tán và tưới đợt 4, nguồn nước tưới cho cây cà phê và các loại cây ăn trong trong mùa khô vẫn được đảm bảo đầy đủ. Tại thời điểm này một số địa phương đã có mưa đầu mùa phần nào đã giải khát cho cây cà phê. Diện tích một số cây trồng chính như sau: Cà phê 217.654 ha, tăng 1,58%; cao su 33.151 ha, giảm 0,61%; tiêu 28.804 ha, tăng 1,78%; điều 26.408 ha, giảm 4,27%; sầu riêng 41.821 ha, tăng 5,76%. Tình hình sâu bệnh trên cây công nghiệp lâu năm: Thời điểm hiện nay là thời tiết đang trong giai đoạn chuyển từ mùa khô sang mùa mưa. Độ ẩm không khí bắt đầu tăng cao kết hợp với các đợt mưa rào đầu mùa tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại nấm bệnh và côn trùng gây hại bùng phát trên diện rộng. Dù có mưa nhưng việc chủ động nước tưới cho cây lâu năm (đặc biệt là cà phê, sầu riêng) vẫn là ưu tiên hàng đầu để đảm bảo năng suất. Các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh, cụ thể dịch bệnh đã xảy ra trên từng loại cây trồng([2]). 1.3. Công tác chăn nuôi, thú y  Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, tổng đàn vật nuôi được duy trì, sản lượng sản phẩm chăn nuôi tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước đáp ứng nhu cầu trong các dịp lễ trong tháng. Công tác tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc khử trùng, kiểm dịch động vật và giám sát dịch bệnh được triển khai theo kế hoạch. Tuy nhiên, dịch bệnh trên động vật vẫn tiềm ẩn nguy cơ, đặc biệt là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi và bệnh Dại trên động vật vẫn xảy ra trên một số địa bàn trong tỉnh([3]). Trong thời gian tới cần tiếp tục tăng cường tiêm phòng, giám sát dịch bệnh và thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh. Tình hình chăn nuôi trong tháng 4/2026 như sau: Ước số lượng đàn trâu có 27.405 con, giảm 8,69%; Đàn bò hiện có 377.179 con, giảm 5,16% (trong đó, đàn bò sữa 5.009 con, tăng 7,91%); Đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) hiện có 1.045.457 con, tăng 1,89%; Đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) hiện có 22.146 ngàn con, tăng 2,66% (trong đó, đàn gà gần 18.694 ngàn con, tăng 2,52%) so với cùng kỳ năm trước. Công tác kiểm dịch: Trong tháng 4/2026, Chi cục thú y đã kiểm dịch xuất tỉnh được 896.635 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Trâu 266 con, bò 946 con, heo 71.444 con, gà 707.765 con, vịt + ngan 116.214 con. Lũy kế kiểm dịch xuất tỉnh 4 tháng đầu năm 2026 gần 5,6 triệu con. Kiểm dịch nhập tỉnh tháng 4/2026 được 1.364.517 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Bò 490 con, heo 66.615 con, gà 825.889 con, vịt + ngan 471.523 con. Lũy kế kiểm dịch nhập tỉnh 4 tháng đầu năm 2026 hơn 8,1 triệu con. 1.4. Lâm nghiệp Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026, tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Các chỉ tiêu về trồng rừng tập trung, cây phân tán và sản lượng gỗ khai thác đều có sự tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Song song với hoạt động phát triển kinh tế rừng, công tác quản lý, bảo vệ và xử lý vi phạm pháp luật lâm nghiệp cũng được các cấp, các ngành triển khai quyết liệt nhằm đảm bảo tài nguyên rừng bền vững. Phát triển rừng: Ước diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng khoảng 150 ha; lũy kế 4 tháng đầu năm trồng được 1.398 ha, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng 4 ước khoảng 0,21 ngàn cây, tăng 5%; lũy kế 4 tháng trồng được 0,73 ngàn cây, tăng 4,29% so với cùng kỳ năm trước. Các công ty lâm nghiệp và các đơn vị đã và đang tiến hành làm đất, giống để chuẩn bị cho kế hoạch công tác đăng ký trồng rừng năm 2026. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang nghiệm thu kết quả trồng cây phân tán năm 2025 trên địa bàn tỉnh từ nguồn chi trả Dịch vụ môi trường. Khai thác lâm sản: Ước sản lượng gỗ khai thác trong tháng 04 trên địa bàn tỉnh đạt 81.700 m3 gỗ, tăng 0,45% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác được 185.221 m3, tăng 2,6% chủ yếu sản lượng gỗ nguyên liệu giấy trong nhân dân. Quản lý bảo vệ rừng: Các cấp, các ngành tăng cường các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao trách nhiệm trong quản lý rừng tự nhiên; tập trung chỉ đạo các chủ rừng thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, phát triển rừng; đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản. Trong tháng 4 năm 2026, trên địa bàn tỉnh lực lượng Kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chủ rừng và các ngành chức năng phát hiện và lập biên bản để xử lý các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp gồm 80 vụ, trong đó: 50 vụ với diện tích rừng bị phá là 13,46 ha; vận chuyển lâm sản trái pháp luật 16 vụ; tàng trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến lâm sản trái pháp luật 06 vụ; khai thác rừng trái pháp luật 02 vụ; vi phạm chung các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng 04 vụ; vi phạm quy định về quản lý hồ sơ lâm sản trong vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản 01 vụ; vi phạm quy định về bảo vệ động vật rừng 01 vụ. Tang vật vi phạm gồm: Phương tiện, máy móc, công cụ tạm giữ 48 loại; 32,157 m3 gỗ các loại; 46,367 ster củi; 6.365 cây và 400kg lâm sản các loại. Đã xử lý 58 vụ, trong đó: Xử phạt vi phạm hành chính 58 vụ; số tiền thu sau xử lý đã nộp ngân sách nhà nước 231,25 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng số vụ vi phạm 267 vụ; lâm sản tịch thu gồm: 86,178 m3 gỗ các loại; củi các loại 201,493 ster; 10.115 cây và 7.550 kg lâm sản khác; phương tiện, công cụ, dụng cụ tịch thu 79 chiếc các loại; tổng các khoản thu 568,925 triệu đồng, tổng số tiền đã nộp ngân sách 568,925 triệu đồng. 1.5. Thủy sản Bước vào tháng 4 năm 2026, ngành thủy sản tỉnh Đắk Lắk tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, đóng góp tích cực vào cơ cấu kinh tế nông nghiệp của địa phương. Nhờ sự kết hợp giữa các yếu tố thị trường thuận lợi và việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, hoạt động khai thác cũng như nuôi trồng thủy sản trên toàn tỉnh đã đạt được những kết quả khả quan. Về khai thác, sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ hải sản trong nước và xuất khẩu từ quý I đã tạo động lực mạnh mẽ để ngư dân tăng cường đánh bắt, đưa sản lượng khai thác biển và nội địa tăng trưởng ổn định so với cùng kỳ. Đặc biệt, lĩnh vực nuôi trồng ghi nhận sự chuyển biến rõ nét trong tư duy sản xuất của người dân. Việc không ngừng đầu tư công nghệ và áp dụng các mô hình nuôi thương phẩm bền vững, thân thiện với môi trường không chỉ giúp nâng cao sản lượng mà còn đảm bảo chất lượng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn thị trường. Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 04/2026 ước đạt 13.125,9 tấn, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 34.456,9 tấn, tăng 6,04%. Trong đó: - Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng 4/2026 ước đạt 8.960,4 tấn, tăng 5,42% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 7.990 tấn, tăng 5,41% (trong đó: Cá ngừ đại dương 623,3 tấn, tăng 5,33%, chiếm 7,8% trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển); tôm 39,9 tấn, tăng 5,75%; thủy sản khác 930,5 tấn, tăng 5,5%. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 28.452,37 tấn, tăng 6,71% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá đạt 23.088,6 tấn, tăng 2,04%; tôm đạt 182,13 tấn, tăng 31,35%; thủy sản khác đạt 5.181,64 tấn, tăng 32,97%. - Sản lượng thủy sản khai thác nội địa tháng 04/2026 ước đạt 493,1 tấn, tăng 0,86% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 643,1 tấn, tăng 1,9%. - Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tháng 04/2026 ước đạt 3.672,35 tấn, tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 2.605 tấn, tăng 1,64%; tôm (chủ yếu tôm sú và tôm thẻ chân trắng) đạt 1.031,35 tấn, tăng 2,62%; thủy sản khác đạt 36 tấn, tăng 2,86%. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.361,45 tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá 3.081,6 tấn, tăng 2,52%; tôm 2.239,35 tấn, tăng 3,9%; thủy sản khác đạt 40,5 tấn, tăng 3,32%. 1.6. Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) Các ngành, địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), bảo đảm tiến độ và chất lượng theo kế hoạch đề ra. Đến nay, toàn tỉnh có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 29,55% và 764 sản phẩm OCOP của 372 chủ thể([4]) (trong đó, có 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao, 10 sản phẩm tiềm năng 4 sao, 656 sản phẩm đạt 3 sao, 43 sản phẩm hết hạn, 2 sản phẩm bị thu hồi). 2. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng khá. Các ngành công nghiệp cấp I đều ghi nhận xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 14,09% tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, là động lực chính của tăng trưởng toàn ngành. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 4/2026 tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 7,42%; chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,91%([5]); chỉ số ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 28,60%; chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 23,79%. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 04 tháng đầu năm 2026 tăng 13,96% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 8,29%, trong đó sản phẩm đá xây dựng khác đạt 664,7 nghìn m3, tăng 2,65%. Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,09%, chỉ số này tăng ở hầu hết các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 30,94%, thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên đạt 558,2 triệu viên, tăng 30,94%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 24,11%, vỏ bào, dăm gỗ đạt 65.654 tấn, tăng 22,07%; sản xuất đồ uống tăng 22,14%, bia đóng chai đạt 24,4 triệu lít, tăng 13,91%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,89%, trong đó cá ngừ đóng hộp đạt 2.477,6 tấn, tăng 25,32%, cà phê bột các loại đạt 20.609,4 tấn, tăng 20,30%, hạt điều khô đạt 36.712,3 tấn, tăng 2,60%; sản xuất trang phục tăng 0,67%. Ở chiều ngược lại, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 0,35% và ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 11,21% đã hạn chế mức tăng chung của ngành. Chỉ số ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước, điện sản xuất đạt 2.958,8 triệu KWH, tăng 21,43% và điện thương phẩm đạt 1.368,2 triệu kWh, tăng 7,07%. Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,20%, nước uống được đạt 22.223,4 nghìn m3, tăng 19,52% và dịch vụ thu gom xử lý rác thải đạt 49,3 tỷ đồng, tăng 5,18%. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2026 tăng 0,30% so với tháng trước và giảm 0,40% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu sử dụng lao động cơ bản ổn định nhưng có xu hướng giảm nhẹ so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động giảm 0,31% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo loại hình doanh nghiệp, lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,87%, tiếp tục là khu vực thu hút lao động; trong khi khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 4,65% và khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 8,62%. Xét theo ngành công nghiệp cấp I, lao động tăng ở ngành khai khoáng (tăng 9,19%), ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (tăng 1,55%) và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (tăng 3,12%); riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,85%. Sự biến động lao động diễn ra không đồng đều giữa các ngành và loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên xét chung toàn ngành, tình hình sử dụng lao động không có nhiều thay đổi. Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 04 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh diễn ra trong bối cảnh đan xen cả yếu tố thuận lợi và khó khăn. Hoạt động sản xuất tiếp tục phát triển, duy trì mức tăng trưởng ổn định nhờ nhiều doanh nghiệp đã chủ động linh hoạt các giải pháp tối ưu hóa chi phí, dồn ghép đơn hàng và tiết kiệm nguyên nhiên liệu, góp phần giữ vững nhịp độ tăng trưởng chung của toàn ngành. Tuy nhiên, khu vực công nghiệp vẫn đối mặt với không ít thách thức; giá xăng dầu, nguyên nhiên vật liệu và chi phí logistics tăng cao đã gây áp lực lớn, làm suy giảm sức tiêu thụ của các ngành chế biến, gia công hàng xuất khẩu; khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang làm chậm tiến trình công nghiệp hóa và chuyển đổi số; hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại một số khu, cụm công nghiệp chưa đầu tư hoàn chỉnh, nhất là giao thông, logistics và xử lý nước thải tập trung, làm giảm sức hút các nhà đầu tư chiến lược; bên cạnh đó, một số nhà máy chế biến nông sản chủ lực hoạt động chưa hết công suất do vùng nguyên liệu chưa tập trung, thiếu hụt lao động và sự sụt giảm nguồn cung do ảnh hưởng của thời tiết bất lợi cũng như giá thu mua thấp từ niên vụ trước. Sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn giữ được xu hướng tăng trưởng khá, song quá trình phát triển còn tiềm ẩn nhiều rủi ro từ diễn biến thị trường toàn cầu, đòi hỏi cần tiếp tục có các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn nhằm nâng cao tính bền vững trong thời gian tới. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 02 cụm công nghiệp (Krông Năng, Cư Bao) đang trong giai đoạn đánh giá đề nghị đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và đang được tổ chức thẩm định theo quy định. Ngoài ra, có 03 cụm công nghiệp đã hoàn thành xây dựng và cơ bản đảm bảo các thủ tục để vận hành. Trong kỳ, cụm công nghiệp Krông Buk 1 đã đầu tư cơ bản hoàn thành, hiện đang thực hiện vận hành kỹ thuật, kết nối dữ liệu quan trắc môi trường online và hoàn thiện thủ tục cấp phép môi trường; cụm công nghiệp Cư Kuin đã hoàn thành trên 60% khối lượng, dự kiến hoàn thành trước ngày 15/6/2026. 3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao tính minh bạch và thuận lợi trong hoạt động kinh doanh; đẩy mạnh các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và cơ hội phát triển tiếp tục được quan tâm thực hiện, góp phần ổn định hoạt động doanh nghiệp. Trong tháng 4/2026, dự ước có 300 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 2.900 tỷ đồng (tăng 47,06% về doanh nghiệp và tăng 92,05% về số vốn so với cùng kỳ năm trước), 50 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 4,17%); bên cạnh đó, có 70 doanh nghiệp giải thể (gấp 2 lần) và 100 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 20,48%). Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, có 1.391 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 10.100 tỷ đồng (gấp 2,07 lần về số doanh nghiệp nhưng giảm 26,25% về số vốn so với cùng kỳ năm trước), 342 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 20,85%); trong khi đó, có 288 doanh nghiệp giải thể (gấp 2,57 lần) và 1.009 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 12,49%). Trong 4 tháng đầu năm 2026, bức tranh doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thể hiện sự đan xen giữa tín hiệu tích cực và những yếu tố thách thức. Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường có xu hướng tăng, cho thấy môi trường kinh doanh từng bước được cải thiện và niềm tin của doanh nghiệp dần được củng cố. Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký có dấu hiệu giảm và số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức đáng chú ý, phản ánh sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp còn hạn chế trước những biến động của thị trường. Vì vậy, việc tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp vẫn là yêu cầu quan trọng trong thời gian tới. 4. Đầu tư Công tác đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung chỉ đạo quyết liệt; tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị, chủ đầu tư khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn nhằm phấn đấu hoàn thành giải ngân 100% kế hoạch năm 2026. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 4/2026 ước đạt 886,4 tỷ đồng, tăng 5,84% so với tháng trước, giảm 3,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn cấp tỉnh ước đạt 872,1 tỷ đồng, tăng 6,08% so với tháng trước và giảm 3,27% so với cùng kỳ năm trước; nguồn vốn cấp xã thực hiện ước đạt 14,3 tỷ đồng, giảm 6,63% so tháng trước và giảm 32,30% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn ước đạt 3.147,8 tỷ đồng, bằng 22% kế hoạch năm, giảm 5,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.093,2 tỷ đồng, chiếm 98,27% tổng nguồn vốn, giảm 5,54% so với cùng kỳ chủ yếu là tăng ở nguồn vốn ODA và vốn cân đối ngân sách tỉnh; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 54,6 tỷ đồng, chiếm 1,73% tổng nguồn vốn, giảm 7,48% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến ngày 28/4/2026, đã giải ngân 717,3 tỷ đồng, đạt 7,56% kế hoạch . Trong đó: Ngân sách trung ương đã giải ngân 117,2 tỷ đồng, đạt 5,27% kế hoạch; ngân sách địa phương đã giải ngân 600,1 tỷ đồng, đạt 8,19% kế hoạch. Một số công trình, dự án có tiến độ và giá trị thực hiện lớn tiếp tục được đầu tư như: Dự án thành phần 3 (Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Buôn Ma Thuột – Khánh Hoà) ước đạt 609.220 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển tỉnh Phú Yên, đoạn kết nối huyện Tuy An – TP Tuy Hoà (Giai đoạn 1) ước đạt 116.070 triệu đồng; Hồ Suối Cái ước đạt 101.970 triệu đồng; Nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho các tỉnh bị hạn hán ước đạt 99.990 triệu đồng; Đường Đông Tây TP Buôn Ma Thuột (giai đoạn 2) ước đạt 97.970 triệu đồng; Nâng cấp Khoa Ung bướu thành Trung tâm Ung Bướu thuộc Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên ước đạt 77.845 triệu đồng; Đầu tư Bệnh viện sản nhi ước đạt 75.170 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc Cầu An Hải ước đạt 62.497 triệu đồng; Dự án chuyển đổi Nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VNSAT) ước đạt 60.201 triệu đồng; Kè chống sạt lở bờ tả sông ba kết hợp phát triển hạ tầng đô thị đoạn qua thôn Vĩnh Phú ước đạt 48.570 triệu đồng; Xây dựng hệ thống chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030 ước đạt 47.585 triệu đồng; cải tạo, nâng cấp tỉnh lộ 8, đoạn km0+00-km6+150 (TP.BMT) ước đạt 47.270 triệu đồng;… Hiện nay, tỉnh đang tập trung phối hợp, giải quyết các tồn tại trong quá trình thi công Dự án đầu tư xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025, đoạn qua địa bàn tỉnh; đến nay, khối lượng thi công đạt khoảng 97,62% giá trị hợp đồng. Đối với Dự án thành phần 3 thuộc Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột giai đoạn 1, khối lượng thi công dự án đến nay đạt 95,5%; tỉnh đang tập trung chỉ đạo hoàn thiện các hạng mục còn lại để bảo đảm tiến độ theo kế hoạch. Đối với Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam đoạn qua địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng để tăng cường chỉ đạo, điều phối và tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai. Đến nay, đã rà soát khoảng 5.589 thửa đất bị ảnh hưởng, với khoảng 3.025 hộ thuộc diện tái định cư; các khu tái định cư đang hoàn thiện quy hoạch chi tiết, làm cơ sở lập dự án, thiết kế và tổ chức thi công, dự kiến khởi công từ Quý III/2026. Riêng Khu tái định cư phường Bình Kiến đã khởi công, đã phê duyệt phương án bồi thường; đang hoàn thiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư, dự kiến thi công trong Quý II/2026 và hoàn thành trong Quý III/2026. Tỉnh đã giao các Ban Quản lý dự án triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hiện đang thực hiện đo đạc, trích lục địa chính, lập phương án bồi thường, đồng thời, giao BQL Khu kinh tế Phú Yên nghiên cứu phát triển đô thị TOD khu vực ga Hòa Thành. Nhu cầu vốn GPMB khoảng 12.245 tỷ đồng, kế hoạch bố trí năm 2026 khoảng 4.000 tỷ đồng. Tình hình thu hút đầu tư: Tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến, thu hút đầu tư; tập trung làm việc với các nhà đầu tư lớn như Tập đoàn BIN Corporation và các đơn vị liên quan đến Dự án Khu công nghiệp Phú Xuân (Công ty Cổ phần DPV Đắk Lắk, dự kiến khởi công từ ngày 24/4/2026); đồng thời ký kết hợp tác với Tổng công ty Viễn thông MobiFone;... Bên cạnh đó, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 04 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 1.180 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 09 dự án. Lũy kế từ đầu năm đến nay, đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 10 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 4.751,9 tỷ đồng; điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 24 dự án, trong đó có 02 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng mức tăng 807,5 tỷ đồng. 5. Tài chính, ngân hàng Tài chính: Tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai nhiều giải pháp trọng tâm điều hành công tác thu ngân sách nhà nước. Chi ngân sách vẫn đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước; đảm bảo an sinh xã hội. - Thu ngân sách nhà nước: Ước tính 4 tháng năm 2026, tổng thu NSNN đạt 6.448.330 triệu đồng, đạt 37,67% dự toán TW và đạt 36,42% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 12,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thu nội địa ước đạt 4.766.067 triệu đồng, đạt 43,06% dự toán TW và đạt 43,06% dự toán HĐND tỉnh, tăng 22,37%, trong đó thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 2.337.719 triệu đồng, đạt 48,40% dự toán TW và đạt 48,40% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 36,78%. Thu xổ số kiến thiết ước đạt 189.933 triệu đồng, đạt 47,48% dự toán TW giao và đạt 47,48% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 13,72%. Thu tiền sử dụng đất đạt 1.448.000 triệu đồng, đạt 26,33% dự toán TW và đạt 23,78% dự toán HĐND, giảm 9,95%. Thu xuất, nhập khẩu đạt 45.000 triệu đồng, đạt 30,41% dự toán TW và đạt 30,41% dự toán HĐND, tăng 3,09% so với cùng kỳ.- Chi ngân sách nhà nước: Ước tính 4 tháng năm 2026, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 14.423.816 triệu đồng, đạt 36,07% dự toán TW giao và đạt 34,95% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 0,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Chi thường xuyên đạt 8.490.51 triệu đồng, đạt 28,22% dự toán TW giao và đạt 28,22% dự toán HĐND giao, tăng 7,01%. Chi đầu tư phát triển ước đạt 5.933.304 triệu đồng, đạt 64,40% dự toán TW giao và đạt 56,67% dự toán HĐND giao, giảm 7,81% so với cùng kỳ năm trước. Ngân hàng: Hoạt động tín dụng, ngân hàng trên địa bàn phát triển ổn định và an toàn. Ước tính đến ngày 30/4/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 171.800 tỷ đồng, tăng 2,7% so với đầu năm; dư nợ cho vay ước đạt 275.700 tỷ đồng, tăng 5,8% so với đầu năm; nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng 1,07% trên tổng dư nợ, duy trì trong ngưỡng an toàn. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Trung ương. Ước tính đến ngày 30/4/2026, dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 15.685 tỷ đồng, tăng 8,44%, với 331.460 khách hàng còn dư nợ. Công tác bảo hiểm: Trong tháng, toàn tỉnh ước có 12,52 nghìn người tham gia BHXH, BHYT, BHTN; Tính chung 4 tháng năm 2026 ước có 2.658 nghìn người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, đạt 98% kế hoạch, tăng 6% so cùng kỳ. Tổng số tiền thu được là 2.715 tỷ đồng (đạt 31% kế hoạch, giảm 1% so cùng kỳ); tổng số tiền chi là 3.669,635 tỷ đồng (đạt 36% kế hoạch, tăng 17% so cùng kỳ); tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN là 316 tỷ đồng. 6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch 6.2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng  Điểm sáng trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh 4 tháng năm 2026 chính là ngành dịch vụ lữ hành tăng 32,96% so với cùng kỳ năm trước là do nhu cầu của người dân tăng trong các kỳ nghỉ lễ. Doanh thu các ngành dịch vụ ăn, uống tăng trưởng khá cao. Thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh phong phú, giá cả ổn định, sức mua của người dân tăng. UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành chuẩn bị sẵn hàng hóa và thực phẩm, tránh tình trạng găm hàng, tăng giá đặc biệt là trong kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2026 ước đạt 17.515,2 tỷ đồng, tăng 5,35% so với tháng trước và tăng 14,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.501,9 tỷ đồng, tăng 5,47% so với tháng trước và tăng 14,42% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước như: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 186,26%; Ô tô các loại tăng 45,04%; nhiên liệu khác tăng 56,52%, xăng dầu các loại tăng 54,59%... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.980,0 tỷ đồng, tăng 6,74% so với tháng trước, tăng 18,87% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 12,9 tỷ đồng, tăng 23,88% so với tháng trước và tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.020,4 tỷ đồng, tăng 0,97% so với tháng trước và tăng 12,67% so với cùng kỳ năm trước.   Tính chung 4 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 68.502,2 tỷ đồng, tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 56.703,4 tỷ đồng, tăng 14,0%, chiếm 82,78% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 tháng năm 2026. Một số mặt hàng bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 163,48%; ô tô các loại tăng 54,98%; xăng dầu các loại tăng 31,04%;... Một số mặt hàng có mức tăng thấp hơn mức tăng chung như: lương thực, thực phẩm chỉ tăng 4,85%; hàng may mặc tăng 3,99%; hàng hoá khác tăng 2,82%;…Các mặt hàng này đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 7.620,7 tỷ đồng, tăng 17,37%, chiếm 11,12%. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 915,9 tỷ đồng, tăng tăng 25,84%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 6.704,8 tỷ đồng, tăng 16,30%. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 38,7 tỷ đồng, tăng 32,96%, chiếm 0,06%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 4.139,4 tỷ đồng, tăng 15,01%, chiếm 6,04%. Phân theo nhóm, ngành hàng thì dịch vụ thì tăng trưởng cao nhất là ngành dịch vụ sửa chữa máy tính và đồ dùng cá nhân tăng 25,47%; dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 20,88%; dịch vụ khác tăng 20,21%...Một số ngành có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí chỉ tăng 10,18%, dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,64% so với cùng kỳ năm trước… Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh tăng cường tổ chức các loại hình dịch vụ du lịch phục vụ khách đến tham quan, vui lễ. Ước tháng 4/2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 575.256 lượt khách tăng 1,46% so với tháng trước, tăng 24,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách ngủ qua đêm là 413.081 lượt khách tăng 1,95% và tăng 23,69%; lượt khách trong ngày là 162.175 lượt, tăng 0,23% và tăng 26,81%. Tính chung 4 tháng năm 2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 2.252.545 lượt khách, tăng 19,54% so với so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách ngủ qua đêm là 1.621.826 lượt khách tăng 19,37%; lượt khách trong ngày là 631.719 lượt, tăng 19,96%. Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour tháng 4/2026 là 2.356 lượt, tăng 5,98% so với tháng trước và tăng 46,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2026 là 7.951 lượt, tăng 85,68% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đi trong nước là 7.951 lượt, tăng 128,08%. 6.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất khẩu của tỉnh vẫn duy trì tăng trưởng, đảm bảo theo kịch bản đã xây dựng tuy gặp nhiều bất lợi do giá các mặt hàng xăng, dầu tăng cao, các chi phí phục vụ hoạt động xuất khẩu biến động như cước vận tải biển và chi phí bảo hiểm hàng hải tăng. Dự báo trong thời gian tới, hoạt động xuất khẩu vẫn chịu tác động bất lợi nếu xung đột tại Iran và khu vực Trung Đông tiếp tục kéo dài hoặc lan rộng. Trong tháng 4/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 362 triệu USD, tăng 5,23% so với tráng trước, tăng 1,12% cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 1.312 triệu USD, tăng 3,93% so với cùng kỳ năm trước, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 622 triệu USD, tăng 4,68%% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu tháng 4/2026 của tỉnh ước đạt 267 triệu USD, tăng 3,09% so với tháng trước, tăng 0,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2026, đạt 967 triệu USD, tăng 4,17% so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cà phê đạt 91.500 tấn, tăng 1,62%; hồ tiêu đạt 12.100 tấn, tăng 7,35%, điều 14.100 tấn, tăng 7,61%; cao su 2.700 tấn, giảm 12,08%; hàng rau quả 215 triệu USD, tăng 119,94%, hải sản 48,3 triệu USD, tăng 35,41%; linh kiện điện tử 13,15 triệu USD, tăng 72,80%...Hoạt động xuất khẩu vẫn đang trên đà tăng trưởng; bên cạnh đó, một số mặt hàng giảm nhẹ do bắt đầu vào niên vụ mới nên nguồn cung dự trữ chuyển qua không còn nhiều.Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu tháng 4/2026 ước đạt 95 triệu USD, tăng 11,76%, tăng 2,70% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2026 đạt 345 triệu USD, tăng 3,27% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.6.4. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la MỹGiá xăng dầu biến động đã tác động đến chi phí vận chuyển và sản xuất của tất cả các mặt hàng làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2026 có xu hướng tăng so với tháng trước. Giá vật liệu xây dựng tăng do nhu cầu tăng, giá gas tăng theo giá thế giới. Giá xăng, dầu giảm nhẹ. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2026 tăng 1,02% so với tháng trước; tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước; so với tháng 12 năm trước tăng 3,16%. Chỉ số giá bình quân 4 tháng năm 2026 tăng 4,69%.Trong mức tăng 1,02% của chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2026 so với tháng trước, có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm. 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,19% (làm cho CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm) do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 5,4%, giá gas tăng 10,70% theo giá thế giới. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,77% do du lịch trọn gói tăng 2,27% do giá vận chuyển tăng, phụ phí các dịch vụ du lịch tăng; giá khách sạn, nhà khách tăng 1,39%...[6] Nhóm là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,39%, trong đó cả 3/3 mặt hàng chính đều tăng: Lương thực tăng 1,45%[7], thực phẩm tăng 0,39%[8], ăn uống ngoài gia đình tăng 3,56%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,30% tăng chủ yếu là do đồ uống không cồn tăng 0,59%; rượu, bia tăng 1,22%; thuốc hút tăng 1,92%. Nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,95% do thời tiết nắng nóng nên các sản phẩm máy điều hoà nhiệt độ tăng 0,69%; tủ lạnh tăng 0,62%...[9]Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,81% là do vải các loại tăng 1,5%; quần áo may sẵn tăng 0,49%; giá giày dép tăng 1,53%. Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,65% do dịch vụ hiếu hỉ tăng 1,47%. Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,29% do máy điện thoại di động thông thường tăng 1,34%; phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng máy vi tính và phụ kiện tăng 0,70%... Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,12% chủ yếu tăng ở một số loại thuốc nhập khẩu. Ở chiều ngược lại 02 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm giao thông giảm 0,59%, chủ yếu do giá xăng giảm 2,90%. Nhóm Giáo dục giảm 0,09% do sản phẩm từ giấy giảm 0,11%; sách giáo khoa giảm 0,12%; giá dịch vụ giáo dục giảm 0,11% do giá dịch vụ dạy thêm ở một số cơ sở giảm. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng năm 2026 tăng 4,69%. Có 10/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó: tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 12,44%; tiếp đến là nhóm giao thông tăng 4,78% do giá xăng dầu tăng mạnh; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,29% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, Tết; nhóm giáo dục tăng 3,85%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 4,18%; nhóm may mặc giày dép và mũ nón tăng 3,68%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,57% (trong đó: thực phẩm tăng 4,44%, ăn uống ngoài gia đình tăng 6,11%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,15%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,92% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, Tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng, một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng, các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,54%; nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,67%, trong đó dịch vụ y tế tăng 0,43% là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng. Ở một diễn biến khác, toàn tỉnh có 01/11 nhóm hàng giảm giá, đó là nhóm thông tin truyền thông giảm 1,40% đã tác động tích cực đến chỉ số giá bình quân 4 tháng năm 2026. Sau nhiều kỳ tăng cao liên tiếp, chỉ số giá vàng tháng 4 giảm 6,37% so với tháng trước, bình quân 4 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 77,77% là do giá vàng giảm theo giá thế giới. Chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 0,17% so với tháng trước, bình quân 4 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 2,47%. Sức mua của những mặt hàng này ở mức bình thường. 6.5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng 4 và 4 tháng năm 2026 an toàn và thông suốt. Giá xăng dầu trong kỳ có sự điều chỉnh giảm đã tác động tích cực đến giá vé khách và cước vận chuyển hàng hóa. Doanh thu vận tải và khối lượng luân chuyển, vận chuyển hành khách và hàng hóa tiếp tục tăng so với cùng kỳ do nhu cầu di chuyển, đi lại, sản xuất của người dân tăng trong kỳ nghỉ lễ. Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát tháng 4/2026 ước đạt 997,3 tỷ đồng, tăng 2,54% so với tháng trước, tăng 10,82% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách đạt 286,8 tỷ đồng, tăng 3,21% và tăng 11,92%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 600,7 tỷ đồng, tăng 1,46% và tăng 10,26%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 59,3 tỷ đồng tăng 6,61% và tăng 11,10%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt 50,5 tỷ đồng, tăng 7,41% so tháng trước và tăng 11,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2026 doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 3.723,5 tỷ đồng, tăng 13,72% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 1.047,4 tỷ đồng, tăng 15,52%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 2.264,5 tỷ đồng, tăng 12,96%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 222,6 tỷ đồng, tăng 13,87%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt gần 189 tỷ đồng, tăng 12,88% so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển và luân chuyển hành khách trong tháng 4/2026 ước đạt 2.619 nghìn lượt khách và 361 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng 5,31% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 5,68%; so với cùng kỳ năm trước tăng 11,22% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 11,30%.  Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.608 nghìn tấn và 497 triệu tấn.km, so với tháng trước tăng 0,81% về khối lượng vận chuyển và tăng 5,91% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 12,31% về khối lượng vận chuyển và tăng 9,48% về khối lượng luân chuyển. Tính chung 4 tháng năm 2026, vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 9.458 nghìn lượt hành khách và 1.298 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,94% về khối lượng vận chuyển và tăng 14,49% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 9.458 nghìn tấn và 1.298 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,94% về khối lượng vận chuyển và tăng 14,49% về khối lượng luân chuyển. 7. Khoa học công nghệ và chuyển đổi số Công tác chuyển đổi số được quan tâm chỉ đạo, triển khai đồng bộ, hiệu quả. Tỉnh đã ban hành quy trình vận hành Trung tâm dữ liệu tỉnh; tổ chức Lễ phát động phong trào “Bình dân học vụ số” năm 2026 trên địa bàn; tổ chức cuộc thi trắc nghiệm trực tuyến tìm hiểu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk năm 2026; đồng thời xây dựng Chương trình của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030;… Bên cạnh đó, thực hiện cấp phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đối với thiết bị đặt trên phương tiện nghề cá theo đúng quy định. 8. Một số vấn đề xã hội 8.1. An sinh xã hội Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được quan tâm thực hiện. Công tác đối với người có công được triển khai theo quy định, tặng quà gia đình chính sách nhân dịp kỷ niệm 51 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột và Ngày Giải phóng Phú Yên; xây dựng dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định mức chi phí quản lý thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; tổ chức điều dưỡng cho 45 người có công với tổng kinh phí hơn 112,9 triệu đồng; đồng thời phê duyệt danh sách 11 người được cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình với kinh phí hơn 35,8 triệu đồng. Công tác rà soát, tổng hợp, giải quyết chế độ chính sách được thực hiện kịp thời; trong tháng đã giải quyết chế độ đối với 477 hồ sơ người có công, thân nhân người có công và các đối tượng liên quan khác. Bên cạnh đó, công tác bảo trợ xã hội, chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới và phòng, chống tệ nạn xã hội tiếp tục được duy trì, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và ổn định đời sống các đối tượng trên địa bàn. 8.2. Lao động việc làm Công tác tư vấn và giới thiệu việc làm được thực hiện thường xuyên, liên tục([10]). Đã tư vấn việc làm cho 6.450 lượt người; giới thiệu việc làm cho 1.200 lượt người, trong đó giới thiệu lao động đi làm việc nước ngoài 81 lượt người. Kết quả xuất khẩu lao động: Trong tháng có 260 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó lao động thời vụ 225 người. Công tác hỗ trợ người lao động và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp được triển khai kịp thời, hiệu quả. Trong tháng, đã ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.472 người, với tổng kinh phí chi trả hơn 30 tỷ đồng; đồng thời hỗ trợ kinh phí cho 100 người tham gia đào tạo nghề. Công tác an toàn, vệ sinh lao động được quan tâm, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc. Tỉnh đã ban hành kế hoạch tổ chức Lễ phát động hưởng ứng Tháng hành động về ATVSLĐ và Tháng Công nhân năm 2026; xây dựng và tổ chức lấy ý kiến góp ý đối với Đề án phát triển quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh; đồng thời tiếp tục điều tra các vụ tai nạn lao động xảy ra trên địa bàn. 8.3. Hoạt động văn hóa, thể thao Văn hóa: Hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh được triển khai theo kế hoạch. Tỉnh đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền, kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng Buôn Ma Thuột và Ngày Giải phóng Phú Yên; đồng thời xây dựng, tập luyện và chuẩn bị các chương trình nghệ thuật phục vụ Giỗ Tổ Hùng Vương và kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục được thực hiện; tập trung hoàn thiện dự thảo Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2035. Đồng thời, tổ chức Diễn đàn Di sản Cà phê Thế giới với chủ đề “Từ những truyền thống đa dạng đến di sản sống chung của nhân loại”, góp phần quảng bá giá trị văn hóa, thúc đẩy giao lưu và hợp tác. Các hoạt động thể dục, thể thao được triển khai theo kế hoạch; tổ chức các giải trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh và các giải thể thao cấp tỉnh như Việt dã, Bóng chuyền, Pickleball…; đồng thời chuẩn bị các điều kiện để đăng cai tổ chức các giải khu vực, quốc gia như vòng loại Giải bóng đá Thiếu niên và Nhi đồng toàn quốc, giải Aerobic vô địch các câu lạc bộ quốc gia, Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, tỉnh đã cử các đoàn vận động viên tham gia thi đấu tại các giải thể thao quốc gia, khu vực và đạt kết quả tích cực như môn bắn cung, kickboxing, đẩy gậy, kéo co; tiếp tục duy trì công tác đào tạo, huấn luyện với lực lượng vận động viên ở nhiều môn thể thao, góp phần nâng cao chất lượng thể thao thành tích cao và phong trào thể dục thể thao trên địa bàn Thể thao: Các hoạt động thể dục, thể thao được triển khai theo kế hoạch. Tổ chức các giải trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, năm 2025–2026 và các giải thể thao cấp tỉnh như Giải vô địch Việt dã, Giải Bóng chuyền, Giải Pickleball Du lịch tỉnh Đắk Lắk mở rộng năm 2026 – Tranh Cúp Doanh nhân trẻ. Phối hợp đăng cai tổ chức các giải thể thao quốc gia, khu vực như Giải Vô địch súng hơi quốc gia năm 2026, Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 trên sân Buôn Ma Thuột; phối hợp với Ủy ban Olympic Việt Nam tổ chức Chương trình toàn dân tập luyện thể dục thể thao năm 2026 (11/4/2026) và chuẩn bị các điều kiện để phối hợp tổ chức Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026. Đồng thời, tỉnh cử các đoàn vận động viên tham gia thi đấu tại các giải thể thao quốc gia, khu vực, đạt kết quả như: môn bắn cung (1 HCV, 4 HCB, 4 HCĐ), kickboxing (2 HCV, 2 HCB, 3 HCĐ), đẩy gậy và kéo co (4 HCV, 4 HCB, 13 HCĐ); tiếp tục tham gia các giải bắn súng, bóng đá hạng Nhì quốc gia, vòng chung kết U15 quốc gia và các giải thể thao khác. Công tác đào tạo, huấn luyện và thi đấu thể thao tiếp tục được duy trì với 18 môn và 480 vận động viên. Trong đó, có 115 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia (gồm 39 kiện tướng và 76 vận động viên cấp I) góp phần nâng cao chất lượng thể dục thể thao trên địa bàn. 8.4. Giáo dục - Đào tạo Các cơ sở giáo dục tổ chức dạy và học bảo đảm đúng chương trình, kế hoạch năm học 2025–2026; chủ động chuẩn bị các điều kiện tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 và tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026–2027. Tổ chức thành công Hội thi Aerobic cấp học mầm non và Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh bậc THCS năm học 2025–2026. Tham gia các cuộc thi, hội thi đạt kết quả tích cực, như Hội thi Đình sân chơi “Trạng Nguyên Tiếng Việt” trên internet (đạt 23 giải, gồm 1 Bảng nhãn, 2 giải Nhất, 5 giải Nhì, 9 giải Ba, 6 giải Khuyến khích) và Cuộc thi trắc nghiệm trực tuyến tìm hiểu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026. Công tác ứng dụng khoa học, công nghệ trong giáo dục và đào tạo tiếp tục được đẩy mạnh, với việc thực hiện số hóa văn bằng, chứng chỉ; ban hành quy chế và triển khai học bạ số đối với giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên năm học 2025–2026. Ngành giáo dục tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên; triển khai kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Công tác kiểm tra điều kiện thành lập các trung tâm ngoại ngữ, tin học, cơ sở kỹ năng sống và giám sát tổ chức thi cấp chứng chỉ tiếng Anh quốc tế được thực hiện theo quy định. 8.5. Công tác Y tế Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tỉnh quan tâm thực hiện, các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân; trong tháng, tổng số lượt khám chữa bệnh toàn tỉnh là 335.223 lượt, nội trú:          38.034 lượt, ngoại trú 11.675 lượt, chuyển viện (nội trú) 2.874 trường hợp. Trong tháng 4/2026, toàn tỉnh ghi nhận 320 ca mắc bệnh tay chân miệng; 146 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 21 ca mắc bệnh thủy đậu; 02 ca mắc bệnh sởi; không có ca mắc viêm não Nhật Bản. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 691 ca mắc bệnh tay chân miệng; 591 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 101 ca mắc bệnh thủy đậu; 03 ca mắc bệnh sởi; không có ca mắc viêm não Nhật Bản. Chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục được triển khai; đến nay tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin đạt 11,4%. Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP) được triển khai theo kế hoạch; thực hiện giám sát tại các sự kiện và kiểm tra đột xuất tại cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Tổ chức kiểm tra ATTP đối với bếp ăn tập thể (đợt 1 năm 2026) và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; đồng thời điều tra, xác minh các trường hợp rối loạn tiêu hóa tại Trường THPT Dân tộc nội trú N’ Trang Lơng. Trong tháng, đã điều tra vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Ea Drăng (86 người mắc, không có tử vong), nguyên nhân do bánh mì nhiễm vi khuẩn Salmonella và Escherichia coli. Đã thẩm định 117 cơ sở thực phẩm, trong đó 74 cơ sở đạt và 43 cơ sở đang hoàn thiện điều kiện theo quy định. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm với 92 người mắc, không có tử vong. 8.6. Tình hình vi phạm môi trường Trong tháng 4/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 9 vụ vi phạm môi trường, xử lý 3 vụ, số tiền xử phạt là 46,5 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm đã phát hiện giảm 18,18%, số vụ đã xử lý không thay đổi, số tiền xử phạt giảm 49,59%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 58 vụ vi phạm môi trường, xử lý 49 vụ, tổng số tiền xử phạt là 1.054,8 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 34,88%, số vụ đã xử lý tăng 58,06%, số tiền xử phạt tăng 28,59%. 8.7. Tình hình thiên tai Trong tháng 4/2026 không ghi nhận thiên tai; tính chung 4 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai. 8.8. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội        Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh cơ bản được giữ vững, ổn định. Các lực lượng chức năng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nắm chắc tình hình; quản lý chặt chẽ các đối tượng chính trị trọng điểm, tình hình dân tộc, tôn giáo và các vụ việc có dấu hiệu phức tạp phát sinh trên địa bàn; kịp thời phát hiện, xử lý, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ, hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Tình hình cháy, nổ: Tình hình cháy, nổ vẫn còn diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do ý thức chấp hành các quy định về phòng cháy, chữa cháy của một bộ phận người dân và cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa cao; nguy cơ cháy, nổ vẫn tiềm ẩn tại các khu dân cư, cơ sở sản xuất và trong sinh hoạt hàng ngày. Từ ngày 15/03/2026 đến ngày 14/4/2026, toàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy, nổ, không có người chết và không có người bị thương, thiệt hại tài sản ước tính khoảng 45 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ gấp 5 lần, giá trị tài sản thiệt hại giảm 52,13%. Tính chung từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/4/2026, toàn tỉnh xảy ra 15 vụ cháy, nổ, làm 04 người chết và 01 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 2.247 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ gấp 2,5 lần và giá trị tài sản thiệt hại gấp 3,08 lần. Tình hình tai nạn giao thông: Tai nạn giao thông có xu hướng giảm ở cả ba tiêu chí (số vụ, số người chết và bị thương), cho thấy hiệu quả của các giải pháp tăng cường tuần tra, kiểm soát và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông. Từ ngày 15/03/2026 đến ngày 18/4/2026, toàn tỉnh xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông, làm chết 33 người, bị thương 11 người; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 28,26%, số người chết giảm 13,16% và số người bị thương giảm 56,00%. Tính chung từ ngày 15/12/2025 đến ngày 18/4/2026, toàn tỉnh xảy ra 146 vụ tai nạn giao thông, làm chết 120 người, bị thương 72 người; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 24,74%, số người chết giảm 16,67% và số người bị thương giảm 41,94%. [1] Cây lúa: Chuột cắn phá tỷ lệ hại (TLH) 5-17%, diện tích nhiễm (DTN) 47 ha (Ea Súp, Ia Lốp, Ea Kar, Krông Pắc, Phú Hoà 2, Bình Kiến, Tuy Hoà...); đạo ôn lá TLH 6-30%, DTN 19 ha (Đồng Xuân, Xuân Phước, Tuy An Tây, Đắk Liêng, Ea Wer...); sâu cuốn lá nhỏ TLH 6-15%, DTN 6,9 ha (Hòa Xuân, Nam Ka, Tuy An Đông...); rầy nâu mật độ 50-3.000 con/m2, DTN 05 ha (Ea Rốc, Ea Bung, Ea Súp).Cây ngô: Sâu keo mùa thu TLH 2-5 con/m2, DTN 10,5 ha (Krông Búk, Phú Hoà 1, Phú Hoà 2). Cây sắn: Khảm lá virus TLH 3-100%, DTN 6.407 ha (Sông Hinh, Ea Bá, Ea Ly, Ea Súp, Ia Rvê, Ia Lốp, Ea Rốc, Tây Sơn, Vân Hòa, Sơn Hòa, Suối Trai, Ea Kar, Ea Knốp, Xuân Lãnh,...).Cây mía: Bệnh đốm vàng TLH 10-80%, DTN 650 ha (Ea Bá, Ea Ly, Đức Bình, Sông Hinh, Tây Sơn, Vân Hòa, Sơn Hòa, Suối Trai); sâu đục thân TLH 7-12%, DTN 91,5 ha (Tây Sơn, Vân Hòa, Sơn Hòa, Suối Trai, Ea Knốp).Cải bắp: Sâu tơ TLH 3-12%, DTN 04 ha (Ea Kar, Ea Phê, Krông Pắc); rệp mềm TLH 5-20%, DTN 01 ha (Ea Kar, Krông Pắc).Cây ớt: Bệnh thán thư TLH 4-6%, DTN 03 ha (Krông Pắc, Ea Kar).Dưa leo: Bệnh sương mai TLH 3-7%, DTN 04 ha (Krông Pắc, Ea Kar).[2] Cây cà phê: Rệp sáp TLH 6-30%, DTN 133,2 ha (Ea Drông, Cư Bao, Ea Kar, Ea Ô, Ea Riêng, Krông Pắk...); mọt đục cành TLH 4-14%, DTN 38 ha (Ea Wy, Cư Pơng, Pơng Drang, Krông Búk...); bệnh khô cành TLH 5-20%, DTN 31 ha (Phú Xuân, Dliê Ya, Ea Drông, Cư Bao, Ea Khăl...); bệnh gỉ sắt TLH 3-15%, DTN 37 ha (Cư Bao, Ea Khăl, Ea Wy, Cư Pơng...); bọ cánh cứng ăn lá cà phê TLH 4-18%, DTN 15 ha (Cư Bao, Ea Khăl, Ea Wy, Cư Pơng, Pơng Drang...); rệp vảy TLH 5-15%, DTN 5,2 ha (Krông Pắc, Ea Kar, Ea Phê...).Cây hồ tiêu: Bệnh chết nhanh TLH 4-15%, DTN 133,5 ha (Ea Bá, Ea Ly, Sơn Thành, Krông Búk, Ea Ô...); bệnh chết chậm TLH 3-10%, DTN 50,2 ha (Ea Wy, Ea Hiao, Krông Búk, Krông Pắc, Ea Phê, Sơn Thành...); rệp sáp TLH 5-16%, DTN 17 ha (Ea H’leo, Ea Wy, Ea Hiao, Krông Búk...); bệnh đốm tảo TLH 6-18%, DTN 6,5 ha (Krông Pắc, Ea Kar, Ea Ô...).Cây điều: Bệnh thán thư TLH 6-12%, DTN 28 ha (Ea Hiao, Cư Pơng); bọ xít muỗi TLH 5-15%, DTN 36,6 ha (Ea Kly, Cư Prao, Ea Hiao, Cư Pơng, Ea Súp, Ea Rốc, Ea Kiết).Cây cao su: Bệnh loét sọc mặt cạo TLH 4-15%, DTN 17 ha (Ea Hiao, Cuôr Đăng, Cư M’Gar, Ea Súp...); bệnh khô miệng cạo TLH 4-15% DTN 8 ha (Phú Xuân, Cư Bao, Ea Khăl, Ea H’leo, Ea Hiao). Cây sầu riêng: Nhện đỏ TLH 5-20%, DTN 124 ha (Tam Giang, Krông Năng, Phú Xuân, Dliê Ya, Krông Búk...); rầy bông (rầy phấn, tua trắng) TLH 5-23%, DTN 66,8 ha (Tam Giang, Krông Năng, Dliê Ya, Buôn Hồ...); rầy nhảy TLH 5-20%, DTN 60 ha (Phú Xuân, Dliê Ya, Ea Drông, Buôn Hồ...); mọt đục cành TLH 3-35%, DTN 61 ha (Tam Giang, Krông Năng, Ea Hiao, Pơng Drang...); bệnh chảy gôm TLH 3-35%, DTN 66 ha (Ea Drông, Buôn Hồ, Krông Năng...); bệnh cháy lá chết đọt tỷ lệ hại 5-25% diện tích nhiễm 52 ha (Phú Xuân, Ea Drông, Ea Ly, Ea Bá, Ea Kar...).[3] Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong kỳ báo cáo phát sinh và tiêu hủy 1.257 con lợn, tổng khối lượng tiêu huỷ là 70.286 kg, tại 21 hộ, 05 thôn/buôn, 02 xã. Hiện nay, có 07 phường, xã chưa qua 21 ngày; Số mắc bệnh là 1.310 con; tổng chết và tiêu hủy là 1.310 con. Luỹ kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh dịch bệnh phát sinh và tiêu huỷ tại 99 hộ, 46 thôn/buôn, 26 xã/phường. Dịch bệnh đã làm chết và tiêu huỷ 2.081 con lợn, tổng khối lượng tiêu huỷ là 113.796 kg. Bệnh Dại: Trong kỳ báo cáo phát sinh và tiêu hủy 14 con chó nghi mắc bệnh Dại (số mắc bệnh 03 con, số tiêu hủy nghi mắc bệnh 12 con) tại 03 hộ, 03 thôn/buôn; 03 xã, phường (Pơng Drang, Ea Na, Krông Ana). Hiện nay, có 01 phường, xã chưa qua 21 ngày; Số mắc bệnh là 01 con; tổng chết và tiêu hủy là 01 con. Lũy kế từ đầu năm đến nay, phát hiện và ghi nhận 05 con chó, 01 con mèo mắc bệnh Dại tại 06 hộ, 06 thôn/buôn và 06 xã, phường.[4] Trong đó: 75 hợp tác xã; 88 doanh nghiệp; 208 hộ kinh doanh/cơ sở sản xuất và 01 tổ hợp tác.[5] Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp II chủ yếu có chỉ số tăng khá: Sản xuất đồ uống tăng 44,99%, sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 20,94%, sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,85%.[6] Giá thể thao và giải trí khác tăng 1,28% do giá thiết bị dụng cụ thể thao tăng 1,3%, vé thuê chỗ chơi thể thao tăng 0,05%g[7] Gạo tăng 3,05%, khoai tăng 0,72%, sắn tăng 1,04% do không phải mùa vụ. Giá lương thực tăng kéo theo lương thực chế biến tăng 2,47% do giá bánh mỳ tăng 1,88%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 2,18%; mì sợi, mì, phở/cháo ăn liền tăng 3,14%; miến tăng 1,65%; bột ngô tăng 2,94%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,72%; ngũ cốc khác tăng 1,86%...[8] Giá thịt gia súc tăng 0,33%; Giá thịt chế biến tăng 0,43%; thịt quay, giò, chả tăng 0,33%, thịt chế biến khác tăng 1,57%, riêng thịt hộp tăng 2,73%. Giá thuỷ sản tươi sống tăng 0,98% do chi phí đánh bắt, vận chuyển tăng: cá tươi, hoặc ướp lạnh tăng 1,48%; tôm tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,02%; thuỷ hải sản tươi sống khác giảm 0,13%. Giá thuỷ sản chế biến tăng 0,95% do giá thuỷ sản tăng: cá khô và chế biến (sơ chế) tăng 1,18%; thủy, hải sản khác chế biến tăng 0,24%. Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 1,55%; Giá các loại đậu và hạt tăng 2,27% do giá lương thực tăng và không phải mùa vụ. Giá đường mật tăng 1,67% do giá đường tăng 1,57%, mật ong tăng 1,79%. Giá dầu ăn, mỡ và chất béo khác tăng 2,40% do giá dầu thực vật tăng 2,49%; giá nước mắm, nước chấm tăng 1,30%; giá đồ gia vị tăng 1,07%; giá sữa, bơ, phô mai tăng 0,40%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,74%; chè, cà phê, ca cao tăng 1,37%.[9] Ổ điện tăng 1,39%; đồ dùng nấu ăn tăng 0,08%; đồng hồ treo tường, để bàn và gương tăng 1,27%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,66%; đồ dùng bằng kim loại tăng 2,32%; đồ nhựa và cao su tăng 1,76%; hàng thuỷ tinh, sành sứ tăng 2,08%; hàng dệt trong nhà tăng 0,08%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 1,23%; vật phẩm tiêu dùng khác tăng 0,94%; dịch vụ trong gia đình tăng 2,0%[10] Đã tổ chức 03 Buổi tư vấn cho lao động hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp; 03 Phiên giao dịch việc làm tại các xã Đắk Phơi, xã Krông Á và xã Krông Bông và 01 Ngày hội việc làm tại trường Cao Đẳng Đắk Lắk; tổ chức 01 Hội nghị tuyên truyền, tư vấn, giới thiệu việc làm trong nước và xuất khẩu lao động tại các xã, phường trong địa bàn tỉnh.

Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 3 và quý I năm 2026
  •   12/04/2026 10:34

Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026 diễn ra trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; căng thẳng chính trị leo thang, đặc biệt xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông làm gián đoạn các tuyến vận tải biển và hàng không quốc tế, tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Nguồn cung và giá cả các mặt hàng năng lượng như dầu thô, khí LNG, các sản phẩm từ dầu mỏ biến động mạnh, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, thương mại và triển vọng phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Thị trường tài chính, tiền tệ, đầu tư, thương mại, phí vận tải toàn cầu biến động mạnh. Giá các mặt hàng nhiên liệu, vàng, bạc, kim loại quý tăng cao. Nhiều nền kinh tế lớn có xu hướng tiếp tục nới lỏng thận trọng chính sách tiền tệ, đẩy mạnh chính sách tài khóa, mở rộng chi tiêu hỗ trợ tăng trưởng, thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Thiên tai, thời tiết ngày càng diễn biến bất thường, tiềm ẩn nhiều rủi ro.Trong nước, Nhân dân đón Tết Nguyên Đán năm 2026 trong không khí vui tươi, đầm ấm, an toàn, lành mạnh và tiết kiệm; đồng thời phấn khởi trước thành công tốt đẹp của Đại hội XIV của Đảng, Cuộc bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2030 tạo niềm tin và khí thế mới, góp phần củng cố tinh thần đoàn kết, thúc đẩy các phong trào thi đua lao động sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội ngay từ những tháng đầu năm. Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các dự án trọng điểm quốc gia đồng loạt triển khai tạo động lực tăng trưởng nền kinh tế. Tuy nhiên, những thuận lợi và thách thức đan xen, trong đó khó khăn lớn nhất là các yếu tố bất lợi từ bên ngoài và những hạn chế nội tại của nền kinh tế kéo dài nhiều năm. Về phía tỉnh Đắk Lắk, mặc dù tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động, song với sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, sự điều hành quyết liệt của UBND tỉnh và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; hầu hết các khu vực kinh tế đều tăng trưởng so với cùng kỳ. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch phát triển khá; sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng; sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định; công tác hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp được quan tâm, số doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội được chú trọng, an sinh xã hội được bảo đảm, chất lượng giáo dục, y tế từng bước được nâng lên; các chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí, góp phần tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.Bên cạnh đó, vẫn còn những tồn tại như: Tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh không đạt kịch bản tăng trưởng đề ra; một số ngành, lĩnh vực tuy có tăng trưởng nhưng chưa đạt kỳ vọng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chưa đạt kế hoạch; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn. Kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, chưa tạo được đột phá. Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch còn hạn chế; chưa có nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa tạo chuyển biến rõ nét và chưa thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Đời sống của một bộ phận Nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn.Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong năm 2026 trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau:I. Tăng trưởng kinh tế1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnhTổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh (giá so sánh 2020) quý I/2026 ước đạt 36.291,4 tỷ đồng, tăng 7,47% so với cùng kỳ. Trong đó, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 8.343,3 tỷ đồng, tăng 5,44% (KH tăng 5,77%), đóng góp 17,72% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng đạt 8.147,1 tỷ đồng, tăng 9,51% (KH tăng 15,53%), đóng góp 29,10%; Khu vực Dịch vụ đạt 17.947,3 tỷ đồng, tăng 7,76% (KH tăng 10,05%), đóng góp lớn nhất với 53,18% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.Bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế tỉnh cho ta thấy Khu vực Dịch vụ chính là điểm sáng nhất với tốc độ tăng trưởng 7,76%, đóng góp lớn nhất 3,83 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Xét về mức độ đóng góp của các ngành trong Khu vực Dịch vụ cho thấy: Ngành bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tiếp tục đứng thứ nhất về mức độ đóng góp là 1,22 điểm phần trăm, tăng 8,79% là do nhu cầu của người dân và xuất khẩu tăng; tiếp theo là ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống đóng góp 0,41%, tăng 9,75%; ngành giáo dục vào đào tạo đóng góp 0,40 điểm, tằng 6,31%; ngành hoạt động của đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội đóng góp 0,38 điểm, tăng 8,61%; ngành hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm đóng góp là 0,32 điểm, tăng 6,95%;... Mặc dù không có ngành nào tăng trưởng âm, tuy nhiên một số ngành còn lại tăng thấp hoặc đóng góp ít như: hoạt động kinh doanh bất động sản chỉ tăng 3,43%, đóng góp 0,12 điểm; ngành nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 3,69%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế ...Đứng ở vị trí thứ hai trong đóng góp vào vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế là Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đóng góp 2,09 điểm phần trăm, tăng 9,51%. Nổi bật trong khu vực này chính là ngành công nghiệp tăng 10,50% so với cùng kỳ và đóng góp 1,75 điểm phần trăm. Một số ngành có mức tăng trưởng tích cực trong ngành công nghiệp chính là: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,60%, đóng góp 0,92 điểm, đây là điểm tích cực bởi vì ngành này còn chịu tác động như: giá nguyên, nhiên vật liệu tăng cao, một số đơn hàng bị giảm, thị trường xuất, nhập khẩu bị ảnh hưởng do căng thẳng chính trị giữa các quốc gia lớn trên thế giới; ngành sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,76 điểm, tăng 9,61% nguyên nhân do các nhà máy thủy điện hoạt động hết công suất, các công trình điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối tiếp tục hoạt động ổn định. Riêng đối với ngành Xây dựng duy trì ổn định tăng 6,44%, đóng góp 0,35 điểm là do các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh đã và đang đưa vào hoạt động.Đứng ở vị trí cuối cùng chính là Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,28 điểm phần trăm, tăng 5,44%. Trong kỳ, điều kiện thời tiết, khí hậu nhìn chung thuận lợi nên diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng tăng so với cùng kỳ, đặc biệt giá các loại nông sản, hoa quả đều tăng đã góp phần ổn định thu nhập cho người dân, nâng cao giá trị sản phẩm. Sau thiệt hại của cơn bão số 13, ngành nông nghiệp đã có sự phục hồi và tiếp tục giữ vai trò chủ đạo đóng góp 1,16 điểm, tăng 5,50%. Ngành lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì mức đóng góp ổn định. Bên cạnh đó, giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn gia súc và thủy sản vẫn đang ở mức cao ít nhiều đã tác động đến quá trình sản xuất của khu vực này.So với cùng kỳ năm trước, Thuế sản phẩm và trợ cấp sản phẩm tăng 5,20%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm, trong đó thuế giá trị giá tăng và các loại thuế sản phẩm khác còn lại tăng 5,24%, đóng góp 0,27 điểm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quý I/2026 (theo giá hiện hành): Giá trị tổng sản phẩm ước đạt 45.569,0 tỷ đồng, đạt 17,25% KH năm. Trong đó: Khu vực Nông lâm, nghiệp và thủy sản ước đạt 10.799,5 tỷ đồng, đạt 11,52% kế hoạch, chiếm 23,70% trong giá trị tổng sản phẩm, giảm 1,22 điểm phần trăm so với tỷ trọng nền kinh tế quý I/2025; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 9.845,8 tỷ đồng, đạt 18,03% so kế hoạch, chiếm 21,61%, tăng 0,54 điểm phần trăm; Khu vực Dịch vụ đạt 22.596,1 tỷ đồng, đạt 21,26% kế hoạch, chiếm 49,58%, tăng 0,8 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 2.327,6 tỷ đồng, đạt 24,39% kế hoạch năm, chiếm 5,11%, giảm 0,11điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm 2025Cơ cấu của các ngành kinh tế trong quý I/2026 đã có sự chuyển dịch dần về phía khu vực dịch vụ và khu vực công nghiệp – xây dựng. Tỷ trọng của của 02 khu vực này dù tăng nhẹ nhưng đã thể hiện nỗ lực của tỉnh trong việc hướng tới công nghiệp hóa, hiện đai hóa nền kinh tế.2. Nguyên nhân tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I/2026 không đạt kế hoạch và Dự báo tăng trưởng kinh tế quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh quý I/2026 không đạt kế hoạch đã tác động rất lớn đến mục tiêu tăng trưởng năm 2026 là trên 11% nguyên nhân chính là do tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng, giá nguyên vật liệu và chi phí sản xuất. Sản xuất nông nghiệp bị tác động bởi dịch tả lợn Châu Phi. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công thấp hơn so cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư khu vực Nhà nước giảm do kế hoạch vốn năm 2026 giảm và nhiều dự án lớn chuyển sang giai đoạn hoàn thiện hoặc chưa khởi công, nên khối lượng thực hiện không đáng kể. Bên cạnh đó, các dự án xây dựng mới chủ yếu đang trong giai đoạn chuẩn bị, chưa phát sinh giá trị. Ngoài ra, do yếu tố thời vụ, các dự án thường tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công vào cuối Quý IV năm 2025; vì vậy, giai đoạn đầu năm chủ yếu triển khai công tác chuẩn bị đầu tư, nên khối lượng thực hiện thấp. Điểm nghẽn chủ yếu nằm ở khu vực công nghiệp – xây dựng và hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, đây là giai đoạn đầu năm mang tính khởi động, dự kiến các dự án lớn sẽ được đẩy nhanh triển khai trong các quý tiếp theo, tạo dư địa để cải thiện tăng trưởng, góp phần phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm 2026.Theo kế hoạch tăng trưởng năm 2026, tăng trưởng kinh tế của tỉnh quý II/2026 ước đạt 10,06% và 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10,02%. Tuy nhiên trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, nhất là giá xăng, dầu tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế của nước ta nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Nếu không tháo gỡ được những vướng mắc của 04 công trình điện gió, giải ngân vốn đầu tư phát triển đạt mức thấp, không phát sinh sản phẩm công nghiệp mới...dự báo tăng trưởng quý II và 6 tháng đầu năm 2026 của tỉnh sẽ không đạt được kế hoạch đề ra và dự báo chỉ tăng trưởng từ 7-8% so cùng kỳ năm trước.3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTrong quý I năm 2026, ngành nông nghiệp tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Sản xuất vụ Đông xuân năm nay tương đối thuận lợi về thời tiết, kênh mương dẫn nước được gia cố cải tạo đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng. Các loại cây lâu năm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng phát triển tốt, đặc biệt giá hồ tiêu duy trì ở mức cao kỷ lục tạo động lực cho người dân đầu tư chăm sóc. Chăn nuôi phát triển ổn định. Công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được giám sát chặt chẽ, xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh. Lâm nghiệp chú trọng công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô, đồng thời đẩy mạnh diện tích rừng trồng mới và giao khoán bảo vệ rừng. Thủy sản phát triển tích cực với sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng, hứa hẹn một năm sản xuất thuận lợi. Chương trình Nông thôn mới và OCOP tiếp tục đạt nhiều kết quả thực chất với số lượng sản phẩm đạt chuẩn ngày càng tăng.a) Nông nghiệpLúa đông xuân: Tính đến ngày 20/3/2026, toàn tỉnh gieo trồng 75.810 ha, giảm 0,22% so với cùng kỳ năm trước; Nguyên nhân do một số diện tích lúa tại một số địa phương ở phía Đông chuyển sang mục đích xây dựng công trình giao thông. Đến nay, một số diện tích lúa gieo sạ trà sớm đã thu hoạch được 76.500 tấn, tăng 4,72% so với cùng kỳ năm trước.Cây hằng năm: Tính từ đầu vụ Đông xuân đến ngày 20/3/2026 đã gieo trồng được: Ngô 5.620 ha, tăng 1,5%, sản lượng ước đạt 3.880 tấn, tăng 4,86%; khoai lang 2.240 ha, giảm 1,64%, sản lượng ước đạt 672 tấn, tăng 7,52%; lạc 580 ha, giảm 1,71%, sản lượng ước đạt 12 tấn, tăng 10,09%; đậu tương 40 ha, giảm 3,8%, sản lượng ước đạt 37 tấn, tăng 5,71%; rau các loại 8.914 ha, tăng 1,0%, sản lượng ước đạt 73.189 tấn, tăng 6,67%; đậu các loại 1.460 ha, giảm 0,57%, sản lượng ước đạt 625 tấn, tăng 4,57% so cùng kỳ năm trước.Nhìn chung, việc sản xuất vụ Đông xuân năm nay tương đối thuận lợi về thời tiết, kênh mương dẫn nước được gia cố cải tạo đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng.Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng ([1]). Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật.Cây lâu năm: Diện tích cây cà phê toàn tỉnh ước tính 217.654 ha, tăng 1,58%, chiếm 55,59% tổng diện tích cây lâu năm. Hiện nay, cây cà phê đang được đầu tư chăm sóc, phát tán bờ lô, bón phân kích thích ra hoa, đậu quả, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng.Diện tích cây cao su toàn tỉnh ước tính 33.151 ha, giảm 0,61%, chiếm 8,47% tổng diện tích cây lâu năm; Sản lượng mủ cao su khai thác 3 tháng đầu năm ước đạt khoảng 8.400 tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, cây cao su bước vào mùa thay lá. Các vườn cây hầu hết tạm dừng khai thác mủ để dưỡng cây, chuẩn bị cho vụ thu hoạch mới vào khoảng tháng 5/2026. Diện tích cây tiêu toàn tỉnh ước tính 28.804 ha, tăng 1,78% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 7,36% tổng diện tích cây lâu năm; Ước tính sản lượng đạt 82.450 tấn, tăng 5,32% so với cùng kỳ năm trước. Giá hồ tiêu tại Đắk Lắk vẫn duy trì ở ngưỡng cao kỷ lục. Việc giá tiêu cao giúp người dân phấn khởi và chăm sóc cho cây tiêu tốt hơn để đạt được sản lượng tốt nhất.Diện tích cây điều toàn tỉnh ước tính 26.408 ha, giảm 4,27%, chiếm 6,74%, tổng diện tích cây lâu năm; Sản lượng điều ước đạt khoảng 40.850 tấn, tăng 4,85% so với cùng kỳ năm trước. Cây điều đang chịu áp lực lớn từ việc chuyển đổi sang trồng sầu riêng và các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao hơn.Diện tích cây sầu riêng ước đạt 41.821 ha, tăng 5,76%, chiếm 52,54% trong tổng diện tích cây ăn quả của tỉnh. Ước sản lượng sầu riêng thu hoạch trái vụ trong 3 tháng đạt 120 tấn, tăng 44,58% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, sầu riêng chính vụ đang trong giai đoạn ra hoa và đậu quả non. Nông dân đang tập trung cao độ cho việc tưới nước và bón phân trong bối cảnh thời tiết khô hạn đặc trưng của Tây Nguyên.Diện tích cây bơ ước đạt 3.760 ha, giảm 7,99%, chiếm 4,72% trong tổng diện tích cây ăn quả của tỉnh; Ước sản lượng bơ trái vụ 3 tháng đầu năm đạt 58 tấn, tăng 4,32% so với cùng kỳ năm trước. Quý I là thời điểm các giống bơ nội địa (bơ sáp, bơ 034) đang trong giai đoạn ra hoa và đậu quả non. Thời tiết nắng nóng đặc trưng của Tây Nguyên trong quý này đòi hỏi chế độ tưới tiêu khắt khe để tránh rụng trái sinh lý.Tình hình sâu bệnh trên cây công nghiệp lâu năm: Thời điểm hiện nay là thời tiết khô hanh, các loại dịch bệnh có xu hướng phát triển mạnh trên diện rộng, các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh.Chăn nuôi: Trong quý I/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, tổng đàn vật nuôi được duy trì, sản lượng sản phẩm chăn nuôi tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn và gia cầm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của dân cư trong dịp Tết Nguyên Đán. Công tác tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc khử trùng, kiểm dịch động vật và giám sát dịch bệnh được triển khai theo kế hoạch. Tuy nhiên, dịch bệnh trên động vật vẫn tiềm ẩn nguy cơ, đặc biệt là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi và bệnh Dại trên động vật vẫn xảy ra trên một số địa bàn trong tỉnh([2]). Trong thời gian tới cần tiếp tục tăng cường tiêm phòng, giám sát dịch bệnh và thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh.Đến cuối tháng 3/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm dự ước như sau:Đàn trâu hiện có 26.957 con, giảm 4,14% so với cùng kỳ năm trước. Ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I/2026 ước đạt 665 tấn, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước.Đàn bò hiện có 367.292 con, giảm 6,85% so với cùng kỳ năm trước. Ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I/2026 là 11.254 tấn, tăng 4,67% so cùng kỳ năm trước.Đàn lợn hiện có 1.053.121 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,33%. Ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I/2026 là 62.975 tấn, tăng 6,24% so với cùng kỳ năm trước.Đàn gia cầm hiện có 21.282 nghìn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,99% là do các hộ nuôi gia cầm theo quy mô lớn tăng([3]). Sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng quý I/2026 ước đạt 21.135 tấn, tăng 7,42% so cùng kỳ năm trước.Sản lượng trứng gia cầm ước quý I/2026 là 105.715 nghìn quả, tăng 6,67% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng sữa bò quý I/2026 ước đạt 6.250 tấn, tăng 2,46% so với cùng kỳ.Trong tháng 3/2026, công tác kiểm tra gia súc, gia cầm trước khi xuất, nhập tỉnh, quá cảnh và kiểm soát giết mổ cũng được chú trọng, đã kiểm dịch xuất tỉnh 2.675.329 con (trâu 385 con, bò 2.218 con, heo 192.105 con, gà 2.414.516 con, vịt + ngan 66.105 con); kiểm dịch nhập tỉnh được 3.903.360 con (trâu 2 con, bò 1.286 con, heo 130.387 con, gà 2.810.087 con, vịt + ngan 961.598 con). Lũy kế quý I/2026, kiểm dịch xuất tỉnh hơn 4,7 triệu con; kiểm dịch nhập tỉnh gần 6,7 triệu con.b) Lâm nghiệpTình hình sản xuất lâm nghiệp quý I/2026 trên địa bàn tỉnh được đánh giá là duy trì đà tăng trưởng ổn định. Tập trung cao độ vào công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô và chuẩn bị tốt các điều kiện kỹ thuật cho kế hoạch trồng rừng cả năm.Phát triển rừng: Diện tích rừng trồng mới của tỉnh trong quý I/2026 ước đạt 1.247,8 ha, tăng 4,59% so với cùng kỳ năm trước (trong đó, diện tích rừng sản xuất trồng mới là 1.209 ha, tăng 4,58%; diện tích rừng phòng hộ trồng mới là 31,5 ha, tăng 5%; đặc dụng trồng mới là 7,3 ha, tăng 4,29%). Diện tích rừng trồng được chăm sóc là 4.453 ha, tăng 4,74%. Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 11.200 ha, tăng 4,07%. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 302.120 ha, tăng 8,71%. Cây lâm nghiệp trồng phân tán ước 0,52 triệu cây, tăng 4%. Khai thác lâm sản: Ước sản lượng gỗ khai thác trong tháng 3 trên địa bàn tỉnh đạt 44,2 ngàn m3 gỗ, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, sản lượng gỗ khai thác được 103.521 m3, tăng 4,37%, chủ yếu sản lượng gỗ nguyên liệu giấy trong nhân dân; Ước sản lượng củi khai thác quý I/2026 là 345.600 ster, tăng 2,98% so với cùng kỳ năm trước.Quản lý bảo vệ rừng: Các cấp, các ngành tăng cường các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao trách nhiệm trong quản lý rừng tự nhiên; tập trung chỉ đạo các chủ rừng thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, phát triển rừng; đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản. Trong quý I/2026, trên địa bàn tỉnh lực lượng Kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chủ rừng và các ngành chức năng phát hiện và lập biên bản để xử lý các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp gồm 187 vụ, trong đó: 04 vụ khai thác rừng trái pháp luật, 07 vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng, 124 vụ phá rừng trái pháp luật, 01 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ động vật rừng, 25 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 21 vụ tàng trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến lâm sản trái pháp luật, 05 vụ vi phạm quy định về quản lý hồ sơ lâm sản trong vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản. Tang vật vi phạm gồm: Phương tiện, máy móc, công cụ tạm giữ: 31 loại; Gỗ các loại: 51,791 m3; 36 cá thể và 45 kg động vật rừng; 151,654 ster củi; 7.150 kg và 3.750 cây lâm sản các loại. Đã xử lý 140 vụ, trong đó xử phạt vi phạm hành chính 138 vụ, xử lý hình sự 02 vụ; số tiền thu sau xử lý đã nộp ngân sách nhà nước là 282,675 triệu đồng.c) Thủy sản  Trong quý I/2026, tình hình nuôi trồng và đánh bắt thủy sản (đặc biệt là nuôi trồng) diễn biến tích cực, tăng trưởng đều, hứa hẹn cho một năm nuôi trồng thuận lợi.Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 3/2026, ước đạt 9.636,1 tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026 ước đạt 21.327 tấn, tăng 7,15%.- Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng 3/2026 ước đạt 8.392 tấn, tăng 7,54% so với cùng kỳ, chia ra: Cá các loại 7.146 tấn, tăng 8,14% (trong đó: Cá ngừ đại dương 580 tấn, tăng 5,1% và chiếm 6,9% trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển); tôm 39 tấn, tăng 2,82%; thủy sản khác 1.207 ngàn tấn, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 19.487,9 tấn, tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá đạt 16.203,1 tấn, tăng 7,68%; tôm đạt 105,7 tấn, tăng 4,73%; thủy sản khác đạt 3.179,1 tấn, tăng 5,44% so với cùng kỳ năm trước.- Sản lượng thủy sản khai thác nội địa tháng 3/2026 ước đạt 51,8 tấn, tăng 10,14% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản khai thác nội địa ước đạt 150 tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước.- Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 3/2026 ước đạt 1.192,3 tấn, tăng 7,14%. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.689,1 tấn, tăng 5,74% so với cùng kỳ năm trước.d) Chương trình Xây dựng nông thôn mớiCác ngành, địa phương tiếp tục tập trung triển khai các nội dung thuộc Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đã được Quốc hội kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2026 để đảm bảo hoàn thành dự toán, kế hoạch và mục tiêu đã đề ra; tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Đến nay, toàn tỉnh có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới và 764 sản phẩm OCOP của 374 chủ thể.4. Công nghiệpChỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 3 và quý I năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá. Các ngành công nghiệp cấp I duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, nổi bật trong đó chính là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 12,16% so với cùng kỳ năm trước, giữ vai trò động lực chính của toàn ngành.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 3/2026 tăng 22,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 6,29%; chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,23%([4]); chỉ số ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 30,54%; chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,98%.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý I/2026 tăng 12,03% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 5,57%, sản lượng các sản phẩm khai khoáng biến động trái chiều; trong đó, đá xây dựng khác giảm 5%, còn đá cẩm thạch, travertine tăng mạnh, góp phần duy trì mức tăng chung của toàn ngành. Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,16%, chỉ số này tăng ở hầu hết các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 33,12%, thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên đạt 394,5 triệu viên, tăng 33,12%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 25,59%, dăm gỗ đạt 46.279 tấn, tăng 28,14%; sản xuất đồ uống tăng 16,83%, bia đóng chai đạt 18 triệu lít, tăng 11,40%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,28%, trong đó cá ngừ đóng hộp đạt 1.818,8 tấn, tăng 26,24%, cà phê bột các loại đạt 15.097,4 tấn, tăng 18,36%, hạt điều khô đạt 31,177,9 tấn, tăng 13,35%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,61%, đá lát lề đường đạt 112.632 m2, tăng 20,41%; sản xuất trang phục tăng 6,42%, quần áo các loại 7.910,2 nghìn cái, tăng 11,63%; riêng ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 5,02% đã hạn chế mức tăng chung của ngành. Chỉ số ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt trong tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước, điện sản xuất đạt 2.278,2 triệu kWh, tăng 19,01% và điện thương phẩm đạt 980 triệu kWh, tăng 6,71%. Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,93%, sản phẩm nước uống được đạt 15.552,9 nghìn m3, tăng 13,30% và dịch vụ thu gom xử lý rác thải đạt 36,7 tỷ đồng, tăng 6,14%.Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2026 tăng 39,10% so với tháng trước và tăng 48,66% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành tăng 38,42% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2026 nhìn chung tích cực nhưng không đồng đều giữa các ngành. Một số ngành có mức tăng khá như: sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 27,48%, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 20,91%, sản xuất đồ uống tăng 19,26%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,29% và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,79%. Bên cạnh đó, một số ngành có mức tăng thấp hơn như sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,92% và sản xuất trang phục tăng 10,49%, phản ánh nhu cầu thị trường chưa ổn định, chịu tác động của chi phí đầu vào và nhu cầu tiêu dùng còn thấp.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2026 tăng 23,24% so với tháng trước và giảm 29,38% so với cùng thời điểm năm trước, cho thấy lượng tồn kho có xu hướng tăng trở lại trong ngắn hạn tuy nhiên vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, phản ánh khả năng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp nhìn chung được cải thiện.Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2026 tăng 0,58% so với tháng trước và tăng 1,27% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu sử dụng lao động có xu hướng ổn định và tăng nhẹ. Tính chung quý I/2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo loại hình doanh nghiệp, lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,72%, tiếp tục là khu vực thu hút lao động; trong khi khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 2,58% và khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 10,33%. Xét theo ngành công nghiệp cấp I, lao động tăng ở ngành khai khoáng (tăng 14,54%), ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (tăng 0,56%) và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (tăng 2,54%); riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm nhẹ 0,02%. Sự biến động lao động diễn ra không đồng đều giữa các ngành và loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên xét chung toàn ngành, tình hình sử dụng lao động không có nhiều thay đổi.Nhìn chung, sản xuất công nghiệp quý I/2026 trên địa bàn tỉnh chịu tác động đan xen của cả yếu tố thuận lợi và khó khăn. Trong bối cảnh các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên Đán, hoạt động sản xuất công nghiệp cơ bản được duy trì. Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều biến động, đặc biệt là xung đột địa chính trị tại khu vực Trung Đông làm gia tăng giá xăng dầu, kéo theo chi phí nguyên vật liệu và logistics tăng cao; cùng với đó, một số ngành hàng, nhất là dệt may xuất khẩu, chịu tác động do đơn hàng giảm. Bên cạnh đó, khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và đổi mới công nghệ, ảnh hưởng đến khả năng nâng cao năng suất và thúc đẩy chuyển đổi số. Hạ tầng kỹ thuật tại một số khu, cụm công nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ, các hạng mục về giao thông, logistics và xử lý môi trường còn là điểm nghẽn, làm giảm hiệu quả sản xuất và thu hút đầu tư. Nguồn nguyên liệu đầu vào cho một số ngành chế biến nông sản chưa ổn định do tính mùa vụ, ảnh hưởng của thời tiết và biến động giá cả, dẫn đến một số nhà máy chưa hoạt động hết công suất. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp đã chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, tiết giảm chi phí, tìm kiếm thị trường tiêu thụ và nâng cao hiệu quả hoạt động. Nhờ vậy, mặc dù còn nhiều khó khăn, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động, từng bước thích ứng với điều kiện mới, góp phần ổn định sản xuất và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong quý I/2026.5. Hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xãa) Về hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp (DN)Tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước; tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, tỉnh tổ chức các hoạt động gặp mặt, động viên, khen thưởng doanh nghiệp tiêu biểu nhân dịp Tết Nguyên Đán, góp phần khích lệ cộng đồng doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh.Quý I/2026, tình hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục có nhiều biến động, ước tính có 990 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 6.020 tỷ đồng (tăng 96,43% về số doanh nghiệp nhưng giảm 53,26% về số vốn so với cùng kỳ năm trước), có 300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 25,52%); bên cạnh đó, có 200 doanh nghiệp giải thể, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 900 doanh nghiệp, tăng 9,09%.Trong quý I/2026, bức tranh doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thể hiện sự đan xen giữa tín hiệu tích cực và yếu tố thách thức. Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tăng, cho thấy môi trường kinh doanh có những cải thiện nhất định và niềm tin thị trường dần được củng cố. Tuy nhiên, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao, phản ánh năng lực chống chịu của khu vực doanh nghiệp còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu do phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ; trước tác động của tình hình kinh tế thế giới còn nhiều biến động, khả năng chống chịu và năng lực tài chính còn yếu. Nhiều doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, doanh thu thấp hoặc không có doanh thu, khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng, nợ thuế lớn, gặp khó khăn trong chi trả tiền lương cho người lao động. Bên cạnh đó, một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế về năng lực quản trị, chiến lược kinh doanh chưa phù hợp, chậm chuyển đổi số và chưa kịp thời thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Do đó, việc tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ thiết thực, nâng cao hiệu quả điều hành và tăng cường khả năng thích ứng của doanh nghiệp là yêu cầu quan trọng trong thời gian tới.b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp chế biến, chế tạoKết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2026 cho thấy 30,68% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn so với quý trước; 51,14% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 18,18% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.Dự kiến quý II/2026, có 31,82% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ thuận lợi hơn so với quý I/2026; 47,73% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 20,45% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Xét theo các ngành công nghiệp chủ yếu, triển vọng sản xuất kinh doanh quý II/2026 có sự phân hóa rõ rệt giữa các ngành. Một số ngành có mức độ lạc quan cao, trong đó ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu có toàn bộ doanh nghiệp đánh giá tình hình thuận lợi; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất cũng có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá thuận lợi cao hơn so với tỷ lệ đánh giá khó khăn, phản ánh xu hướng tích cực. Một số ngành có xu hướng tương đối ổn định, khi số doanh nghiệp đánh giá thuận lợi cao hơn hoặc gần tương đương với số doanh nghiệp đánh giá khó khăn như sản xuất chế biến thực phẩm và sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác, cho thấy kỳ vọng duy trì hoạt động sản xuất trong điều kiện ít biến động. Ngược lại, một số ngành có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá khó khăn cao hơn so với tỷ lệ đánh giá thuận lợi như chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế; bên cạnh đó, ngành sản xuất trang phục có tỷ lệ đánh giá thuận lợi và khó khăn tương đương, còn ngành sản xuất đồ uống có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá khó khăn chiếm ưu thế, cho thấy triển vọng còn nhiều thách thức.Về khối lượng sản xuất, có 34,09% số doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất quý I/2026 tăng so với quý trước; 47,73% số doanh nghiệp đánh giá ổn định và 18,18% số doanh nghiệp đánh giá giảm. Xu hướng quý II/2026 so với quý I/2026, có 31,82% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 53,41% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 14,77% số doanh nghiệp dự báo giảm.Về đơn đặt hàng, có 31,33% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới quý I/2026 tăng so với quý trước; 43,37% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 25,30% số doanh nghiệp đánh giá giảm. Xu hướng quý II/2026 so với quý I/2026, có 31,33% số doanh nghiệp dự kiến số lượng đơn đặt hàng mới tăng; 46,99% số doanh nghiệp dự kiến ổn định và 21,69% số doanh nghiệp dự kiến giảm.c)Tình hình kinh tế tập thể: Trong quý I năm 2026, ước có 20 hợp tác xã thành lập mới; lũy kế toàn tỉnh có khoảng 990 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã còn hoạt động. Các hợp tác xã chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống người dân. 6. Hoạt động dịch vụGiá xăng, dầu trong tháng 3/2026 tăng cao đã tác động mạnh tới doanh thu các ngành dịch vụ giảm so với tháng trước. Tính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng vẫn tăng cao so với cùng kỳ năm trước (+14,09%) là do nhu cầu tiêu dùng, sản xuất phục vụ cho xuất khẩu hàng hóa và các chương trình kích cầu du lịch trong dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026.Tình hình thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, lưu thông thông suốt. Nhiều doanh nghiệp, trung tâm thương mại, siêu thị và cửa hàng bán lẻ tổ chức các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, giảm giá nhiều mặt hàng nhằm kích cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026. Tuy nhiên, trong tháng 3, trước tình hình xung đột leo thang tại Iran và các nước Trung Đông, thị trường xăng dầu trong nước và thế giới có nhiều biến động, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn cung xăng dầu phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của Nhân dân; Ban Chỉ đạo 389 tỉnh đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh, đồng thời, theo dõi, nắm bắt tình hình thị trường, diễn biến cung cầu, giá bán xăng dầu, nhằm tránh ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của các cơ sở kinh doanh xăng dầu, giúp ổn định thị trường, tránh gây tâm lý bất an cho người dân; chưa phát hiện trường hợp nào vi phạm về găm hàng, tạo khan hiếm nguồn cung xăng dầu, ngừng bán hàng không có lý do chính đáng, tự ý tăng giá, bán không đúng giá niêm yết, kinh doanh xăng dầu nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không đảm bảo chất lượng.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026 ước đạt 16.525,9 tỷ đồng, giảm 6,33% so với tháng trước và tăng 12,05% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 13.685,8 tỷ đồng, giảm 6,45% so với tháng trước, tăng 11,83% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 82,81% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026; so với cùng kỳ năm trước, một số mặt hàng tăng như: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 168,40%; nhiên liệu khác tăng 39,46%; ô tô các loại tăng 20,25%... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.845,3 tỷ đồng, giảm 4,97% so với tháng trước, tăng 14,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 225,5 tỷ đồng, giảm 10,96% và tăng 12,12%; dịch vụ ăn uống ước đạt 1.619,9 tỷ đồng, giảm 4,07% và tăng 14,96%. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 9,4 tỷ đồng, tăng 11,77% và tăng 17,95%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 985,3 tỷ đồng, giảm 7,27% so với tháng trước và tăng 10,47% so cùng kỳ năm 2025.Tính chung quý I/2026, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 50.887,7 tỷ đồng, tăng 14,09% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 42.138,2 tỷ đồng, tăng 13,68% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 82,81% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung, đó là mặt hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 155,96%; nhiên liệu khác tăng 26,03%; ô tô các loại tăng 50,72%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,30%;…Một số mặt hàng có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: Vật phẩm văn hoá giáo dục chỉ tăng 3,04%; Hàng may mặc tăng 7,92%; hàng hoá khác tăng 8,34%; %;…đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt gần 5.631 tỷ đồng, tăng 16,65% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 11,07% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 674,8 tỷ đồng, tăng 22,71%; dịch vụ ăn uống đạt 4.956,2 tỷ đồng, tăng 15,87%. Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch đạt 24,7 tỷ đồng, tăng 46,90%. Dịch vụ khác đạt 3.093,9 tỷ đồng, tăng 14,87% so với cùng kỳ năm trước.Các hoạt động vui Xuân đón Tết được tổ chức sôi nổi, thu hút đông đảo Nhân dân và du khách đến tham quan, trải nghiệm, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong dịp đầu xuân, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương, kích cầu tiêu dùng và thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ trên địa bàn.Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Tháng 3/2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 565.564 lượt khách, giảm 5,70% so với tháng trước, tăng 8,64% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Lượt khách ngủ qua đêm là 403.800 lượt khách giảm 6,76% và tăng 17,83%, lượt khách trong ngày là 161.764 lượt giảm 2,94% và tăng 5,26%. Tính chung quý I/2026, tổng số lượt khách phục vụ là 1.676.848 lượt, tăng 17,81% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lượt khách ngủ qua đêm là 1.207.347 lượt, tăng 17,83%, khách trong ngày là 469.501 lượt, tăng 17,75%.Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour tháng 3/2026 là 2.174 lượt, tăng 16,19% so với tháng trước và tăng 51,82% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 tổng số lượt khách du lịch theo tour là 5.546 lượt, tăng 107,25%, trong đó: Khách đi trong nước là 5.546 lượt, tăng 107,25% so với cùng kỳ năm trước.b) Vận tải hành khách và hàng hoáGiá xăng dầu tăng mạnh trong tháng 3/2026 đã ảnh hưởng không nhỏ đến doanh thu dịch vụ vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2026. Một số doanh nghiệp vận tải trên địa bàn tỉnh tiếp tục vận chuyển, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân song giá vé vận chuyển hàng khách và cước hàng hóa ngày đã tăng 20-30%.Tháng 3/2026, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 883,5 tỷ đồng, giảm 1,89% so với tháng trước, tăng 6,05% so cùng kỳ năm trước, trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 248,4 tỷ đồng, giảm 1,01% và tăng 6,37%; vận tải hàng hóa đạt 537,8 tỷ đồng giảm 1,12% và tăng 6,39; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 51,5 tỷ đồng, giảm 10,46% và tăng 3,99%; dịch vụ bưu chính chuyển phát ước đạt 45,7 tỷ đồng, giảm 4,88% so với tháng trước và tăng 2,90% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách ước đạt 2.196 ngàn lượt hành khách và 307 triệu lượt hành khách.km, so với tháng trước giảm 0,81% về khối lượng vận chuyển và giảm 2,24% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 3,24% về khối lượng vận chuyển và tăng 4,42% về khối lượng luân chuyển; Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.391 ngàn tấn và 447 triệu tấn.km, so với tháng trước giảm 5,47% về khối lượng vận chuyền và giảm 9,26% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 6,22% về khối lượng vận chuyển và tăng 8,43% về khối lượng luân chuyển.Tính chung quý I/2026, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 2.637,1 tỷ đồng, tăng 11,06% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 731,2 tỷ đồng, tăng 12,41%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.609,5 tỷ đồng, tăng 10,24%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 159,2 tỷ đồng, tăng 12,06%; bưu chính chuyển phát đạt 137,2 tỷ đồng, tăng 12,58%; Ước tính vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 6.548 ngàn lượt hành khách và 902 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước trước tăng 10,13% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,53% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 4.303 ngàn tấn và 1.382 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,30% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,84% về khối lượng luân chuyển hàng hóa. c) Chuyển đổi sốCông tác chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo được quan tâm chỉ đạo và triển khai đồng bộ. Đã xây dựng Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030; Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo UBND tỉnh về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06. Đồng thời, xây dựng dự thảo Quyết định ban hành Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số của các sở, ban, ngành và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Triển khai Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 55 năm 2026 trên địa bàn tỉnh; cấp phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến đối với thiết bị đặt trên phương tiện nghề cá và thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo[5].II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm Ngân hàng: Đến cuối quý I/2026, tổng nguồn vốn huy động ước đạt 171.200 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ và tăng 2,32% so với cuối năm 2025 (tăng thêm 3.887 tỷ đồng); tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn ước đạt 271.800 tỷ đồng, tăng 16,99% so với cùng kỳ và tăng 4,34% so với cuối năm 2025 (tăng thêm 11.310 tỷ đồng); nợ xấu chiếm 1,0% tổng dư nợ cho vay. Dư nợ cho vay của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh ước đạt 15.311 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ và tăng 5,86% so với cuối năm 2025.Bảo hiểm: Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ước quý I/2026 đạt 2.114,1 tỷ đồng, đạt 26,16% kế hoạch (KH), tăng 6,10% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi từ BHXH, BHYT, BHTN là 2.411,7 tỷ đồng, đạt 19,0% KH, tăng 2,83%. Ước số người tham gia bảo hiểm y tế là 2.645.480 người, đạt 99,30%, tăng 5,69%; 2. Đầu tư và xây dựng2.1. Đầu tưQuý I/2026, công tác giải phóng mặt bằng chậm, thủ tục đầu tư kéo dài và tiến độ thi công nhiều dự án bị chậm, không phát sinh dự án đầu tư mới; thêm vào đó, thiếu vật liệu, biến động giá và sự phối hợp giữa các đơn vị chưa hiệu quả đã làm cho vốn đầu tư thực hiện quý I/2026 trên địa bàn tỉnh giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đầu từ khu vực dân cư chính là điểm sáng trong bức tranh đầu tư của tỉnh tăng 4,95% so với cùng kỳ năm trước.* Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý: Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 3/2026 ước đạt 847,8 tỷ đồng, tăng 12,25% so với tháng trước và giảm 9,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 830,7 tỷ đồng, tăng 11,68% so với tháng trước và giảm 9,95% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 97,98% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 17,1 tỷ đồng, tăng 49,49% so với tháng trước và tăng 35,33% so với cùng kỳ năm trước.Ước quý I/2026 vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh là 2.271,8 tỷ đồng, giảm 5,77% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.229,6 tỷ đồng, chiếm 98,14% trong tổng vốn, giảm 6,04% so với cùng quý năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 42,2 tỷ đồng, tăng 11,25% so cùng kỳ năm trước. *Vốn đầu tư thực hiện: Huy động vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh quý I/2026 ước đạt 11.588,8 tỷ đồng, giảm 25,02% so với quý IV/2025, giảm 5,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn Nhà nước đạt gần 3.542 tỷ đồng, giảm 40,62% so với quý trước và giảm 14,89% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước (dân cư và tư nhân) đạt 7.940,9 tỷ đồng, giảm 11,59% so với quý IV/2025 và tăng 4,95% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 105,9 tỷ đồng, giảm 79,14% so với quý IV/2025 và giảm 80,17% so cùng kỳ năm trướcTính đến ngày 20/3/2026, toàn tỉnh đã giải ngân 466,848 tỷ đồng, đạt 4,97% kế hoạch[6]. Hoàn thành việc tham mưu cấp có thẩm quyền cho phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2025 sang năm 2026 nguồn vốn ngân sách trung ương để chủ đầu tư tiếp tục triển khai thực hiện và giải ngân cho 30 dự án, với số vốn là 2.815.239,314 triệu đồng.Một số công trình, dự án có tiến độ và giá trị thực hiện lớn tiếp tục được đầu tư thực hiện như: Dự án thành phần 3 (Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột giai đoạn 1) ước thực hiện 431.120 triệu đồng; Đầu tư xây dựng bệnh viện sản nhi ước thực hiện 88.060 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển tỉnh phú yên, đoạn kết nối huyện tuy an - thành phố tuy hòa (giai đoạn 1) ước thực hiện 76.070 triệu đồng; Hồ Suối Cái 73.960 triệu đồng; Nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho các tỉnh bị hạn hán 73.960 triệu đồng; Đường Đông Tây Buôn Ma Thuột (Giai đoạn 2) 67.720 triệu đồng; Nâng cấp khoa ung bướu thành trung tâm ung bướu thuộc bệnh viện vùng Tây Nguyên ước thực hiện 55.945 triệu đồng; Dự án chuyển đổi Nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VNSAT) 50.930 triệu đồng; Xây dựng Hệ thống chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030 ước thực hiện 47.585 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc Cầu An Hải ước đạt 47.550 triệu đồng; Kè chống sạt lở bờ tả Sông Ba kết hợp phát triển hạ tầng đô thị đoạn qua thôn Vĩnh Phú 35.230 triệu đồng;...Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư quý I/2026 giảm so với cùng kỳ năm trước vì kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 giảm so với năm 2025; bên cạnh đó các dự án trọng điểm quốc gia do Bộ Xây dựng quản lý như dự án đường bộ cao tốc bắc nam phía đông đang ở giai đoạn hoàn thiện nên khối lượng thực hiện giảm so cùng kỳ 2025. Đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các Nhà máy điện gió: Krông Búk 1; Krông Búk 2; Cư Né 1; Cư Né 2,… trong năm 2025 thực hiện đầu tư với giá trị lớn và hoàn thành trong năm 2025. Trong năm 2026, tỉnh chưa có dự án lớn của khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) khởi công mới trên địa bàn nên vốn khu vực FDI giảm so với năm trước.Về thu hút đầu tư: Công tác xúc tiến đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm triển khai thực hiện. Tỉnh đã chủ động làm việc, trao đổi với một số nhà đầu tư lớn và các nhà đầu tư tiềm năng như: Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Hòa Phát, Xuân Cầu Holdings, Xuân Thiện Group, T&T Group, Pacific Construction Group (Trung Quốc) và một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn khác để giới thiệu về tiềm năng của tỉnh và mời gọi các doanh nghiệp, nhà đầu tư nghiên cứu, đề xuất dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh. Tính chung quý I/2026, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 05 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 2.995,83 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 10 dự án (trong đó có 02 dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư, với tổng mức tăng 807,5 tỷ đồng), tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư triển khai dự án theo quy định.2.2. Xây dựngQuý I/2026, ngành xây dựng tỉnh tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị; đầu tư kết cấu hạ tầng trong các khu, cụm công nghiệp, đầu tư phát triển nhà ở, khu dân cư đô thị mới; đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, các dự án xây dựng lớn. Nhiều hạng mục công trình được xây dựng và hoàn thiện như các công trình điện gió, điện mặt trời, các hệ thống đường giao thông, xây dựng trụ sở làm việc trong các khu hành chính đã đóng góp rất lớn vào giá trị sản xuất toàn ngành xây dựng quý. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế có nhiều biến động, giá xăng đâu tăng cao nên một số doanh nghiệp xây dựng vẫn còn gặp khó khăn về vốn, giá nguyên vật liệu tăng cao dẫn tới việc triển khai các dự án còn chậm, chưa hoàn thành kế hoạch đề ra.Tỉnh đang xem xét, phê duyệt đề cương nhiệm vụ và dự toán kinh phí xây dựng điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2030; đề xuất thành lập Quỹ nhà ở địa phương trên địa bàn tỉnh; nghiên cứu chấp thuận chủ trương đầu tư 03 dự án các dự án nhà ở xã hội[7].Ước quý I/2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng (giá so sánh 2020) đạt gần 6.557 tỷ đồng, tăng 6,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công trình kỹ thuật dân dụng đạt 3.277,5 tỷ đồng, giảm 2,37%, chiếm 49,98% tổng giá trị sản xuất; công trình nhà các loại đạt 2.666,8 tỷ đồng, tăng 4,17%, chiếm 40,67%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 612,7 tỷ đồng, tăng 131,35%. Nhìn chung, giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 tuy có tăng song chưa đạt được mục tiêu của tỉnh đề ra là do tiến độ thực hiện và giải ngân các nguồn vốn xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh vẫn còn chậm, thiếu đất đắp cho công trình, thiếu vốn để thực hiện; biến động giá vật liệu, xây dựng… Các dự án ngoài nhà nước, vốn đầu tư nước ngoài chưa thu hút được nhiều dự án lớn, chủ yếu các dự án thực hiện từ các năm trước, dự án mới với vốn đầu tư nhỏ…3. Tài chínhMột số chính sách miễn, giảm thuế có hiệu lực từ 01/01/2026 cộng với cùng kỳ năm 2025 phát sinh khoản thu đột biến từ đấu giá quyền sử dụng đất[8] là những nguyên nhân làm cho tổng thu ngân sách nhà nước quý I/2026 không tăng cao như cùng kỳ các năm trước. Chi NSNN đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả trong khả năng cân đối ngân sách tỉnh. Ưu tiên nguồn lực cho chi đầu tư phát triển, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội và phòng chống dịch bệnh trên địa bàn. Ngay từ đầu năm, công tác thu ngân sách nhà nước được tập trung chỉ đạo, triển khai quyết liệt với nhiều giải pháp trọng tâm, đồng bộ; tăng cường quản lý các nguồn thu, đẩy mạnh chống thất thu, xử lý nợ đọng thuế; đồng thời tập trung hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý thu, phòng, chống gian lận thương mại và hạn chế thất thu ngân sách nhà nước.Tính đến hết 31/3, Tổng thu NSNN ước đạt 4.969.064 triệu đồng, đạt 29,03% dự toán TW và 28,06% dự toán HĐND tỉnh, tăng 6,10%. Trong đó thu nội địa ước đạt 3.759.703 triệu đồng, đạt 33,97% dự toán TW và đạt 33,97% dự toán HĐND tỉnh, tăng 17,26%, trong đó thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.894.092 triệu đồng, đạt 39,22% dự toán TW và đạt 39,22% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 35,35%. Thu xổ số kiến thiết ước đạt 150.338 triệu đồng, đạt 37,58% dự toán TW giao và đạt 37,58% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 12,25%. Thu tiền sử dụng đất đạt 1021.535 triệu đồng, đạt 18,57% dự toán TW và đạt 16,77% dự toán HĐND, giảm 21,73%. Thu xuất, nhập khẩu đạt 28.319 triệu đồng, đạt 19,13% dự toán TW và đạt 19,13% dự toán HĐND, giảm 1,85% so với cùng kỳ.- Chi ngân sách nhà nước: Tính đến hết 31/3, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 10.442.304 triệu đồng, đạt 26,11% dự toán TW giao và đạt 25,30% dự toán HĐND tỉnh giao, giảm 1,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Chi thường xuyên đạt 6.181.892 triệu đồng, đạt 20,55% dự toán TW giao và đạt 20,55% dự toán HĐND giao, tăng 12,63%. Chi đầu tư phát triển đạt 4.260.413 triệu đồng, đạt 46,24% dự toán TW giao và đạt 40,69% dự toán HĐND, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước.4. Xuất, nhập khẩuTrong quý I năm 2026, hoạt động xuất khẩu tiếp tục được quan tâm và đạt kết quả tích cực. Các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết, chủ động duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ, nhất là đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Dự báo trong những tháng tiếp theo xuất nhập khẩu của tỉnh có thể chịu tác động bất lợi nếu xung đột tại Iran và khu vực Trung Đông tiếp tục kéo dài hoặc lan rộng, như giá xăng dầu biến động khiến cước vận tải biển và chi phí bảo hiểm hàng hải tăng, làm gia tăng chi phí đầu vào, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng theo hợp đồng đã ký kết.Tổng kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2026 ước đạt 344 triệu USD, giảm 3,03% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 ước đạt 950 triệu USD, tăng 5,20%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 450 triệu USD, tăng 7,14% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu tháng 3 ước đạt 259 triệu USD, giảm 5,98% so cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 ước đạt 700 triệu USD, tăng 5,82% so với cùng kỳ năm trước, đạt 23,97% kế hoạch. Sản lượng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: cà phê 61.000 tấn, giảm 2,68% , hạt điều 10.500 tấn, tăng 2,40%, cao su 1.650 tấn, giảm 18,80%; tiêu 9.000 tấn, tăng 19,33%, rau củ quả 155 triệu USD, tăng 120,80%, hải sản 25 triệu USD, tăng 31,58%....Giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản duy trì ở mức cao, góp phần làm kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, đạt mục tiêu đề ra.Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 3 ước thực hiện 85 triệu USD, tăng 13,90% so cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 ước đạt 250 triệu USD, tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước, đạt 28,74% kế hoạch. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.5. Chỉ số giáa) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Sau Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026, tình hình cung cầu thị trường trên địa bàn tỉnh nguồn cung hàng hóa ổn định, giá cả nhiều mặt hàng tăng đột biến dịp Tết cũng được bình ổn. Tuy nhiên, trong tháng 3/2026, do ảnh hưởng của tình hình chính trị và kinh tế trên Thế giới, đặc biệt xung đột quân sự ở Trung Đông làm giá xăng dầu, giá vàng, giá các loại hàng hoá biến động mạnh; xuất, nhập khẩu của các mặt hàng trong nước gặp nhiều khó khăn nên tình hình giá cả các mặt hàng tiêu dùng tháng này cũng tăng khá cao.So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,47%, tăng 5,35% so với cùng kỳ năm trước tăng 5,35%, so với tháng 12 năm trước tăng 2,12%; Chỉ số giá bình quân quý bình quân quý I/2026 tăng 4,12%.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 tăng 1,47%[9]. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 08 nhóm có chỉ số giá tăng nhẹ; 02 nhóm giảm giá và 01 nhóm không đổi so với tháng trước. Nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:Nhóm giao thông tăng 11,83% làm cho CPI chung tăng 1,23 điểm phần trăm do nguồn cung giảm bởi tình hình chiến sự căng thẳng ở Trung Đông cụ thể xăng tăng 29,37%, dầu diesel tăng 56,64%, giá dịch vụ giao thông công cộng tăng cao 8,85%...Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,08% làm CPI chung tăng 0,33 điểm phần trăm, chủ yếu do giá gas và các loại chất đốt khác tăng 22,88%. Nhóm đồ uống và Thuốc lá tăng 1,1% cụ thể đồ uống không cồn tăng 2,51%; rượu, bia tăng 0,73%; thuốc hút tăng 0,71%, do nguyên liệu nhập khẩu tăng, chi phí logistic tăng. Nhóm giáo dục tăng 0,55% ở một số mặt hàng văn phòng phẩm. Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,33% do mặt hàng đồ trang sức tăng 2,88% do giá vàng, bạc tăng cao; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,46%; hiếu hỷ tăng 0,62%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18% do máy giặt tăng 1,53%; đồ nhựa và cao su tăng 1,36%... Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14% do giá nguyên vật liệu, giá vận chuyển, giá nhập khẩu tăng. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,13% do dịch vụ giải trí tăng 0,26% do giá vé xem phim, ca nhạc tăng 9,35%.Ở chiều ngược lại có 02/11 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyển thông giảm 1,43% do giá điện thoại đi động và các phụ kiện đi kèm giảm để kích cầu tiêu dùng. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,22%, trong đó lương thực giảm 0,22%, thực phẩm giảm 0,12%, ăn uống ngoài gia đình giảm 0,67%. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giá không đổi so với tháng trước.Bình quân quý I/2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,12%. Có 10/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 11,99%. Tiếp đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,04%, trong đó thực phẩm tăng 4,36%, ăn uống ngoài gia đình tăng 5,22%. Nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 3,23%. Nhóm giáo dục tăng 3,77%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 4,0%. Nhóm giao thông tăng 2,54%.. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,76% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, tết. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,95%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,75% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,0%. Nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,67%, trong đó dịch vụ y tế tăng 0,48%.Có 01 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyền thông giảm 1,25% đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2026.  Hiện nay, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã và đang theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, lạm phát trên thế giới và kịp thời cảnh báo các nguy cơ ảnh hưởng đến tình hình trong nước. Đặc biệt, trong việc đánh giá, nhận định các mặt hàng, nguyên vật liệu có khả năng thiếu hụt tạm thời hay trong dài hạn để từ đó đưa ra được chính sách phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa một cách bình thường. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Công thương và Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, đồng thời kết hợp Quỹ bình ổn xăng, dầu để hạn chế mức tăng giá của mặt hàng này. Thông tin kịp thời, chính xác và rõ ràng các chính sách, giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ nhằm loại bỏ thông tin sai lệch về giá cả thị trường, không để xảy ra hiện tượng lạm phát do tâm lý.b) Chỉ số giá vàng, giá đô la MỹGiá vàng trong nước tháng 3/2026 biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá đô la giảm là do tình hình chính trị căng thẳng ở một số quốc gia lớn trên thế giới. Sức mua của loại hàng hóa này cũng ở mức bình thường. Giá vàng tháng 3/2026 tăng 12,25% so với tháng trước; giá Đô la Mỹ giảm 0,85%. Bình quân quý I/2026, giá vàng tăng 86,0%; giá Đô la Mỹ tăng 2,96% so với cùng kỳ năm trước.c) Chỉ số giá sản xuấtTình hình chính trị thế giới có nhiều biến động, ảnh hưởng đến giá cả toàn cầu và nước ta, điều này đã ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất. Cụ thể:Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm có liên quan tăng 1,03% và tăng 2,72%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 2,08% và tăng 4,89%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 0,20% và tăng 9,02%.Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý I/2026 giảm 1,18% so với quý trước và giảm 0,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 10,01% so quý trước và giảm 15,38% so cùng kỳ năm trước chủ yếu giảm ở nhóm giá cà phê nhân giảm sâu do nguồn cung dồi dào và tâm lý lo ngại rủi ro từ xung động chính trị ở Trung Đông; chỉ số giá sản phẩm khai khoáng khác tăng 1,28% và tăng 78,59% do nguồn đất sét dùng sản xuất gạch xây dựng ngày càng khan hiếm; chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu khác tăng 4,63% và tăng 7,12%; chỉ số giá điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,07% và giảm 8,18%; chỉ số giá sản phẩm nước tự nhiên khai thác tăng 1,18% và tăng 0,7%; chỉ số giá dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ có giá không đổi...III. Một số vấn đề xã hội1. Lao động, việc làm Thị trường lao động trên địa bàn tỉnh trong quý I/2026 cơ bản ổn định. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng nhẹ so với quý trước và cùng kỳ; thu nhập của người lao động tiếp tục được cải thiện, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng ở khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng, tình trạng thiếu việc làm còn xảy ra ở một số lĩnh vực do hoạt động sản xuất, kinh doanh còn gặp khó khăn, chi phí đầu vào tăng và tiến độ đầu tư chậm.Quy mô lực lượng lao động tiếp tục duy trì ở mức cao, phản ánh khả năng tham gia và đáp ứng nhu cầu lao động của nền kinh tế trên địa bàn tỉnh. Cơ cấu lao động theo khu vực thành thị – nông thôn và theo giới tính nhìn chung ổn định, phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của địa phương, trong đó khu vực nông thôn và lao động nam vẫn chiếm tỷ trọng lớn. So với cùng kỳ năm trước, lực lượng lao động nam tăng chủ yếu ở khu vực nông thôn, gắn với sự phát triển của các hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, góp phần tạo thêm việc làm và nâng cao khả năng thu hút lao động.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý I/2026 dự ước 1.639,83 nghìn người, tăng 0,72 nghìn người (tăng 0,04%) so với quý trước và tăng 14,19 nghìn người (tăng 0,87%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lực lượng lao động khu vực thành thị chiếm 25,80%, giảm 0,03% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn chiếm 74,20%, tăng 1,19%. Chia theo giới tính, lực lượng lao động nam chiếm 54,33%, tăng 2,17% so với cùng kỳ năm trước; lực lượng lao động nữ chiếm 45,67%, giảm 0,62%.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc quý I/2026 dự ước 1.614,01 nghìn người, tăng 0,71 nghìn người (tăng 0,04%) so với quý trước và tăng 12,55 nghìn người (tăng 0,78%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lao động có việc làm ở khu vực thành thị chiếm 25,75%, tăng 0,87% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn chiếm 74,25%, tăng 0,75%. Chia theo giới tính, lao động nam chiếm 54,40%, tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước; lao động nữ chiếm 45,60%, tăng 0,22%.Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Lao động khu vực dịch vụ đạt 455,84 nghìn người, chiếm 28,24%, tăng 12,62% so với quý trước và tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh sự phục hồi và phát triển của hoạt động thương mại, du lịch, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên Đán và các chương trình kích cầu du lịch trên địa bàn. Lao động khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 216,57 nghìn người, chiếm 13,42%, tăng 0,04% so với quý trước nhưng giảm 3,56% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy hoạt động sản xuất cơ bản ổn định nhưng còn chịu ảnh hưởng bởi tiến độ đầu tư và triển khai dự án. Trong khi đó, lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 941,60 nghìn người, chiếm 58,34%, giảm 5,09% so với quý trước nhưng tăng 0,97% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do yếu tố mùa vụ khi kết thúc thời gian thu hoạch một số cây trồng chủ lực, người lao động chuyển sang các lĩnh vực khác. Tỷ lệ thất nghiệp: Tình hình thất nghiệp của người lao động có xu hướng tăng. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I/2026 dự ước 31,95 nghìn người, tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp chung của lực lượng lao động 1,95%, tăng 0,37 điểm phần trăm so với quý trướcThu nhập bình quân tháng của người lao động làm công hưởng lương trong quý I/2026 dự ước 8.991,01 nghìn đồng, tăng 6,08% so với quý trước và tăng 13,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động nam có thu nhập bình quân ước đạt 9.617,85 nghìn đồng, gấp 1,27 lần mức thu nhập bình quân của lao động nữ; lao động làm việc tại khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân gấp 1,17 lần so với khu vực nông thôn.Trong quý I/2026, thị trường lao động trên địa bàn tỉnh nhìn chung duy trì ổn định và có dấu hiệu phục hồi sau Tết Nguyên Đán; lực lượng lao động dồi dào, số người có việc làm tăng, thu nhập của người lao động tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, lao động có tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường; cùng với tác động của biến động kinh tế thế giới, chi phí đầu vào tăng, đơn hàng giảm và số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giải thể còn ở mức cao đã ảnh hưởng đến việc làm và làm gia tăng tình trạng thiếu việc làm ở một số lĩnh vực. Công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm tiếp tục được triển khai đồng bộ; các chính sách bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ học nghề và giải quyết việc làm được thực hiện kịp thời. Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động được đẩy mạnh với 08 phiên giao dịch việc làm, 17 buổi tư vấn, định hướng nghề nghiệp và 07 hội nghị tuyên truyền, qua đó đã tư vấn việc làm cho khoảng 19,20 nghìn lượt người, giới thiệu việc làm cho 380 người và cung cấp thông tin thị trường lao động cho hơn 22,55 nghìn lượt tổ chức, cá nhân; đồng thời tư vấn cho khoảng 950 lượt người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Ước tính quý I/2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 11,76 nghìn người, đạt 21% kế hoạch đề ra; xuất khẩu lao động khoảng 0,46 nghìn người, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường lao động cơ bản ổn định, song vẫn tiềm ẩn những khó khăn, đòi hỏi tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động thích ứng với biến động của thị trường trong thời gian tới.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được quan tâm thực hiện.Nhân dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026, toàn tỉnh đã tổ chức thăm, tặng quà cho các đối tượng chính sách, người có công với tổng kinh phí hơn 43 tỷ đồng([10]); đã hỗ trợ cho 33.306 hộ với 95.079 khẩu, tổng khối lượng gạo hỗ trợ đạt 1.426,86 tấn (trong đó, nguồn hỗ trợ từ Trung ương chiếm 95,94% và nguồn địa phương 4,06%). Công tác quản lý, chi trả chế độ được thực hiện đầy đủ, đúng quy định. Toàn tỉnh hiện quản lý hơn 128 nghìn hồ sơ đối tượng hưởng các chế độ chính sách; số đối tượng hưởng trợ cấp hằng tháng khoảng 17,7 nghìn lượt người, với kinh phí chi trả hơn 52 tỷ đồng/tháng. Trong quý I năm 2026, đã giải quyết chế độ đối với 497 hồ sơ người có công, thân nhân người có công và các đối tượng liên quan đủ điều kiện theo quy định. Công tác hỗ trợ các đối tượng bảo trợ xã hội tiếp tục được triển khai kịp thời, tổng kinh phí hỗ trợ theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP đạt 243,8 tỷ đồng; hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không thuộc Nghị định 20/2021/NĐ-CP đạt 23,6 tỷ đồng. Toàn tỉnh đã hỗ trợ 174.047 lượt người yếu thế, trong đó chủ yếu là đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng (84.870 lượt người) và người cao tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội (74.668 lượt người); ngoài ra, có 480 lượt đối tượng được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội, 6.533 lượt người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn và 7.496 lượt trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hỗ trợ.Về nhà ở xã hội, trong quý I năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 01 dự án nhà ở xã hội khởi công với 506 căn, tổng diện tích sàn xây dựng 48.180 m²; đồng thời có 02 dự án đang triển khai xây dựng với 572 căn, tổng diện tích sàn 57.025 m². Đồng thời, tỉnh đã hoàn thành “Chiến dịch Quang Trung”, thần tốc xây dựng mới, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân bị thiệt hại do bão, lũ trên địa bàn theo kế hoạch, bảo đảm người dân có nhà để đón Tết. Theo đó, 892/892 nhà hư hỏng nặng đã được sửa chữa và 606/606 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi đã được xây dựng hoàn thành, đạt 100% kế hoạch.3. Y tếNgành y tế tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường đầu tư trang thiết bị, giáo dục về y đức, củng cố nhân lực, nâng cao kỹ năng giao tiếp, giáo dục sức khỏe và chăm sóc bệnh nhân. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm thực hiện; các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân; trong quý I năm 2026 đã khám 576.660 lượt, điều trị nội trú cho 71.342 lượt, điều trị ngoại trú cho 18.000 lượt, chuyển viện nội trú: 3.260 lượt. Tăng cường công tác giám sát, theo dõi tình hình, báo cáo và xử lý dịch bệnh. Trong tháng 3/2026, toàn tỉnh ghi nhận 159 ca mắc bệnh tay chân miệng; 171 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 13 ca mắc bệnh thủy đậu; 01 ca mắc bệnh sởi; không có ca mắc viêm não Nhật Bản. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 371 ca mắc bệnh tay chân miệng; 445 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 22 ca mắc bệnh thủy đậu; 01 ca mắc bệnh sởi; không có ca mắc viêm não Nhật Bản.Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (cân nặng theo độ tuổi) 13,3%; số giường bệnh đạt 31,5 giường/vạn dân; số bác sỹ đạt 9,06 bác sỹ/vạn dân. Chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục được triển khai; đến nay tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin đạt 6,1%. Số người tham gia bảo hiểm y tế đạt 2.645.480, tỷ lệ bao phủ bao hiểm y tế đạt 92%.Công tác kiểm tra, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn được tập trung triển khai thực hiện. Trong quý I, trên địa bàn xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Dliê Ya vào ngày 28/02/2026, với 06 người mắc và phải nhập viện điều trị, không có trường hợp tử vong (tăng 01 vụ và tăng 06 người mắc so với cùng kỳ năm trước).        4. Giáo dục- Đào tạoTrong quý I năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã chủ động triển khai các nhiệm vụ theo chỉ đạo của UBND tỉnh, bảo đảm tiến độ và chất lượng đề ra. Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được duy trì ổn định với 1.378 cơ sở giáo dục; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên cơ bản đáp ứng yêu cầu giảng dạy và quản lý, với hơn 38 nghìn cán bộ, giáo viên và trên 711 nghìn học sinh, học viên các cấp học. Chất lượng giáo dục tiếp tục được giữ vững, tỷ lệ huy động học sinh đến trường đạt mức cao; trong đó, tỷ lệ trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo đạt khoảng 99,71%, góp phần củng cố phổ cập giáo dục trên địa bàn. Trong kỳ, ngành đã tổ chức thành công Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT năm học 2025–2026, với 114 học sinh đạt giải (gồm 03 giải Nhất, 21 giải Nhì, 34 giải Ba và 56 giải Khuyến khích), thể hiện chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được nâng cao. Bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức Lễ khởi công xây dựng các Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại xã Ea Rốk và xã Ea Bung.       5. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao       Văn hóa: Công tác tuyên truyền, cổ động trực quan và tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật trong quý I/2026 được triển khai kịp thời, bám sát chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, góp phần phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và các sự kiện lớn, trọng tâm là tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026–2031. Hoạt động văn hóa, nghệ thuật diễn ra sôi nổi, toàn tỉnh đã tổ chức khoảng 21 lễ hội và 5 sự kiện văn hóa, tập trung chủ yếu trong dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026, cùng với các hoạt động dâng hương tại di tích và các sự kiện văn hóa lớn, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống. Đồng thời, đã tham mưu xây dựng, hoàn thiện các chương trình, đề án phát triển văn hóa; tổ chức các hoạt động sáng tác, quảng bá và xây dựng thương hiệu văn hóa địa phương.        Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được quan tâm, với việc xây dựng các chương trình, chính sách bảo tồn di sản giai đoạn 2026–2030; triển khai kiểm kê di sản, điều chỉnh định hướng xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh “Tri thức trồng và chế biến cà phê” và phối hợp khảo sát, đánh giá các di tích trên địa bàn. Các hoạt động văn hóa cơ sở, gia đình và thư viện được duy trì hiệu quả; phong trào xây dựng đời sống văn hóa và “Bộ quy tắc ứng xử Người Đắk Lắk văn minh - thân thiện - mến khách” được triển khai đồng bộ; hoạt động thư viện có nhiều đổi mới, góp phần phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng. Hoạt động nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh tiếp tục được đẩy mạnh, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Trong quý I/2026, đã tổ chức khoảng 80 buổi biểu diễn nghệ thuật; đồng thời thực hiện khoảng 400 suất chiếu phim thương mại và hơn 250 buổi chiếu phim lưu động kết hợp tuyên truyền, phục vụ các sự kiện lớn, thu hút đông đảo người dân tham gia; tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn về điều kiện tổ chức và trang thiết bị phục vụ. Công tác đối ngoại văn hóa được quan tâm triển khai, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa.         Thể thao: Công tác thể dục, thể thao tiếp tục được triển khai đồng bộ. Đã tham mưu ban hành Kế hoạch phát triển thể dục, thể thao giai đoạn 2026–2030, kế hoạch năm 2026 và các nội dung thực hiện Kết luận số 70-KL/TW; đồng thời hướng dẫn triển khai Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” và chuẩn bị Đại hội Thể dục thể thao các cấp. Hoạt động thể thao diễn ra sôi nổi với nhiều sự kiện quy mô lớn, nổi bật như Giải chạy “New Year Run 2026”, Lễ hội đua ngựa truyền thống Gò Thì Thùng Xuân Bính Ngọ 2026, Giải Pickleball ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch mở rộng; đồng thời tổ chức tập huấn, thi đấu giao lưu và hỗ trợ chuyên môn cho các hoạt động thể thao cơ sở. Về thể thao thành tích cao, toàn tỉnh có 493 vận động viên thuộc 18 môn được đào tạo, huấn luyện; có 115 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia, gồm 39 kiện tướng và 76 vận động viên cấp I.         6. Thiệt hai do thiên taiTrong tháng 3/2026 không ghi nhận thiên tai; tính chung quý I/2026, trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai.7. Tình hình vi phạm môi trường Từ ngày 26/02/2026 đến ngày 25/3/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 6 vụ vi phạm môi trường, xử lý 8 vụ, số tiền xử phạt là 105,3 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm đã phát hiện gấp 2 lần (tăng 3 vụ), số vụ đã xử lý gấp 4 lần (tăng 6 vụ), số tiền xử phạt giảm 57,02%.Tính chung từ ngày 26/12/2025 đến ngày 25/3/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 49 vụ vi phạm môi trường, xử lý 46 vụ, tổng số tiền xử phạt là 1.008,3 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 53,13%, số vụ đã xử lý tăng 64,29%, số tiền xử phạt tăng 38,50%.        8. Tình hình an ninh và trật tự an toàn giao thông        Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2026 cơ bản ổn định; các lực lượng chức năng tăng cường quản lý địa bàn, kịp thời phát hiện, xử lý các vụ việc phát sinh, không để hình thành “điểm nóng”. Các kế hoạch, phương án bảo vệ, bảo đảm an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, các dịp lễ, Tết và các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng được triển khai hiệu quả. Đặc biệt, đã bảo đảm tuyệt đối an toàn chuyến thăm, chúc Tết của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng và tham dự Lễ khởi công xây dựng trường học liên cấp tại xã Ea Rốk.      Tình hình cháy, nổ: Tình hình cháy, nổ vẫn còn diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do ý thức chấp hành các quy định về phòng cháy, chữa cháy của một bộ phận người dân và cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa cao; nguy cơ cháy, nổ vẫn tiềm ẩn tại các khu dân cư, cơ sở sản xuất và trong sinh hoạt hàng ngày. Từ ngày 15/02/2026 đến ngày 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, nổ, không có người chết và không có người bị thương, thiệt hại tài sản ước tính khoảng 94 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ tăng 50,00%, giá trị tài sản thiệt hại giảm 24,80%. Tính chung từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy, nổ, làm 04 người chết và 01 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 2.202 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ gấp 2 lần và giá trị tài sản thiệt hại gấp 3,47 lần.Tình hình tai nạn giao thông: Tai nạn giao thông có xu hướng giảm ở cả ba tiêu chí (số vụ, số người chết và bị thương), cho thấy hiệu quả của các giải pháp tăng cường tuần tra, kiểm soát và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông. Từ ngày 15/02/2026 đến ngày 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 32 vụ tai nạn giao thông, làm chết 23 người, bị thương 18 người; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 13,51%, số người chết giảm 23,33% và số người bị thương giảm 10,00%. Tính chung từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 113 vụ tai nạn giao thông, làm chết 87 người, bị thương 61 người; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 23,65%, số người chết giảm 17,92% và số người bị thương giảm 38,38%.        Tóm lại, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới biến động khó lường đã tác động mọi mặt của nền kinh tế. Song với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt của Chính phủ và nỗ lực của Chính quyền, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I/2026 của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá 7,47%. Các chỉ tiêu thống kê cho thấy kinh tế vĩ mô của tỉnh tiếp tục ổn định, sản xuất công nghiệp, dịch vụ trên đà tăng trưởng tích cực, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì tăng trưởng và là “trụ đỡ” của nền kinh tế, xuất khẩu hàng hóa tiếp tục đạt mức tăng cao; ngành du lịch tăng trưởng tích cực. Công tác an sinh xã hội được quan tâm kịp thời; công tác hỗ trợ dịch bệnh, thiên tai tại các địa phương bị ảnh hưởng được thực hiện nhanh, hiệu quả.       Bước sang quý II/2026, dự báo dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Xung đột tại Trung Đông ngày càng căng thẳng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến môi trường an ninh và kinh tế toàn cầu. Các chuỗi cung ứng, thị trường năng lượng và tài chính quốc tế đối mặt nhiều rủi ro, làm cho triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới có xu hướng chậm lại và tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn.        Trong nước, dự báo khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi. Thiên tai, biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan, bất thường diễn biến phức tạp, gây tác động lớn đến sản xuất và đời sống, đặt ra nhiều thách thức và áp lực đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế - xã hội.       Đối với tỉnh Đắk Lắk, việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10,02% trở lên (năm 2026) dự báo sẽ rất nhiều khó khăn, thách thức; đòi hỏi các cấp, ngành và địa phương cần phải tiếp tục nỗ lực cao hơn nữa, triển khai công việc với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, linh hoạt và sáng tạo hơn; bám sát các mục tiêu, chỉ tiêu và kịch bản tăng trưởng đã đề ra, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 – 2030 của tỉnh. Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng đề ra, một số giải pháp chủ yếu như sau:       Một là, Tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các Chương trình, Đề án, Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, của Tỉnh. Rà soát, đánh giá và dự báo tình hình thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026; trên cơ sở đó điều chỉnh kịch bản các quý còn lại năm 2026 phù hợp với tình hình thực tế.       Hai là, Theo dõi chặt chẽ tình hình thu, chi ngân sách nhà nước, kịp thời tham mưu UBND tỉnh các giải pháp điều hành ngân sách linh hoạt, hiệu quả nhằm bảo đảm cân đối ngân sách địa phương. Thực hiện các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; khẩn trương tham mưu phân bổ hết nguồn vốn kế hoạch đầu tư công năm 2026       Ba là, Tập trung chăm sóc cây trồng và thu hoạch vụ Đông Xuân, chuẩn bị triển khai sản xuất vụ Hè Thu năm 2026; bố trí thời vụ và cơ cấu giống sản xuất hợp lý. Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng trang trại, hiện đại, bền vững, an toàn dịch bệnh       Bốn là, Tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam đoạn qua địa bàn tỉnh, dự án cao tốc Khánh Hoà - Buôn Ma Thuột (giai đoạn 1) nhằm sớm đưa vào khai thác, vận hành. Đồng thời, chủ động nghiên cứu, cập nhật đầy đủ các chủ trương, định hướng, chỉ đạo mới liên quan đến dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; kịp thời triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của địa phương, bảo đảm đồng bộ, đúng yêu cầu.       Năm là, Đẩy nhanh tiến độ triển khai công tác chuẩn bị, kêu gọi đầu tư 08 dự án năng lượng phía Tây[11], 04 dự án năng lượng phía Đông[12] theo Quy hoạch tỉnh và các công trình phát triển, truyền tải, phân phối điện, nhất là năng lượng tái tạo. Theo dõi sát diễn biến tình hình Trung Đông; kịp thời thông tin, cảnh báo đến doanh nghiệp về các tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu.       Sáu là, Chỉ đạo, thực hiện quyết liệt công tác thu thuế; tăng cường quản lý thu, chống thất thu, trốn thuế, xử lý nợ đọng thuế, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các loại thuế, phí theo quy định, nộp NSNN.       Bảy là, Chú trọng thực hiện các chính sách an sinh xã hội; chính sách giảm nghèo, ưu tiên nguồn lực thực hiện chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần nâng cao mức sống của người dân. Nâng cao chất lượng các tiêu chí và chất lượng thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn./.[1] Cây lúa: Chuột cắn phá tỷ lệ hại (TLH) 5-30%, diện tích nhiễm (DTN) 53,5 ha (Ia Lốp, Ia Rvê, Tây Hòa, Hòa Mỹ, Đông Hòa, Phú Hoà 2, Bình Kiến..); ốc bươu vàng mật độ 5-8 con/m2, DTN 12,5 ha (Phú Hoà 1, Phú Hoà 2); đạo ôn lá TLH 5-30%, DTN 11 ha (Đồng Xuân, Xuân Phước, Tuy An Tây, Đắk Liêng, Ea Wer...); sâu cuốn lá nhỏ TLH 5-10%, DTN 07 ha (Ea Kar, Cư Yang, Tân tiến, M’Đrắk...); sâu đục thân TLH 3-7%, DTN 06 ha (Tân Tiến, Ea Knuếc, Ea Súp, Ea Rốc).Cây sắn: Khảm lá virus TLH 5-100%, DTN 3.954,5 ha (Sông Hinh, Ea Bá, Ea Ly, Ea Súp, Ia Rvê, Ia Lốp, Ea Rốc, Tây Sơn, Vân Hòa, Sơn Hòa, Suối Trai, Ea Kar, Ea Knốp, Xuân Lãnh,...).Cây ngô: Sâu keo mùa thu TLH 2-8 con/m2, DTN 08 ha (Krông Búk, Phú Hoà 1, Phú Hoà 2). Cây mía: Bệnh đốm vàng TLH 10-80%, DTN 922,6 ha (Ea Bá, Ea Ly, Đức Bình, Sông Hinh, Tây Sơn, Vân Hòa, Sơn Hòa, Suối Trai); sâu đục thân TLH 3-12%, DTN 95,6 ha (Tây Sơn, Vân Hòa, Sơn Hòa, Suối Trai, Ea Knốp).[2] Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Luỹ kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh dịch bệnh phát sinh làm chết và tiêu huỷ 824 con lợn, khối lượng tiêu hủy 43.510 kg, tại 22 xã, phường, 38 thôn, buôn.Bệnh Dại: Trong quý I/2026 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, phát hiện và ghi nhận ghi nhận 03 ca bệnh Dại động vật. Tổng số con chết và tiêu huỷ do mắc bệnh Dại, nghi mắc bệnh Dại là 5 con. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk, từ đầu năm đến nay ghi nhận có 01 trường hợp nghi tử vong do bệnh Dại trên người tại xã Buôn Đôn.[3] Trong đó đàn gà 17.497 nghìn con, tăng 2,17% so với cùng kỳ năm trước.[4] Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp II chủ yếu có chỉ số tăng khá: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 27,48%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 20,91%, sản xuất đồ uống tăng 19,26%.[5] Tại Quyết định số 562/QĐ-UBND ngày 12/02/2026 của UBND tỉnh.[6] Trong đó: Ngân sách trung ương đã giải ngân 82,356 tỷ đồng, đạt 3,83% kế hoạch; ngân sách địa phương đã giải ngân 384,492 tỷ đồng, đạt 5,31% kế hoạch[7] Gồm: Dự án Khu dân cư nông thôn kết hợp du lịch sinh thái xã Ea Kpam và xã Cư M’gar, huyện Cư M’gar; Dự án Khu dân cư trung tâm phường Tân Hoà (này là phường Tân Lập); Dự án Nhà ở xã hội tại khu phố Phước Hậu, phường Bình Kiến.[8] Quý I năm 2025 phát sinh khoản thu đột biến từ đấu giá quyền sử dụng đất tại số 02 đường Mai Hắc Đế, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, với số thu ngân sách hơn 568 tỷ đồng[9] Khu vực thành thị tăng 1,01%; khu vực nông thôn tăng 1,78%[10] Quà thực hiện theo Nghị quyết số 418/NQ-CP ngày 28/12/2025 của Chính phủ: 24.971 người; với tổng kinh phí: 9.988.400.000 đồng. Quà của Chủ tịch nước: Tổng số đối tượng được tặng quà: 29.576 người; với tổng kinh phí thực hiện: 8.940.300.000 đồng. Quà của tỉnh: 60 đơn vị; 30 người có công tiểu biểu và 34.277 người có công, với tổng kinh phí thực hiện: 21.119.400.000 đồng. Quà của xã từ nguồn Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, nguồn vận động địa phương và xã hội hóa: Tổng số đối tượng được tặng quà: 11.121 người; với tổng kinh phí: 3.378.300.000 đồng.[11] Gồm: (1) Nhà máy điện gió Easin 1 công suất 100MW; (2) Nhà máy điện gió Krông Búk 3 công suất 100MW; (3) Nhà máy điện gió Thuận Phong Đắk Lắk công suất 100MW; (4) Nhà máy điện gió Tân Lập – Ea Hồ công suất 50MW; (5) Nhà máy điện gió Cư Pơng 1,2 công suất 80MW; (6) Nhà máy điện gió Krông Năng 1.1 và 1.2 (mỗi dự án công suất 40MW); (7) Nhà máy điện gió NT 1 (45MW); NT 2 (30MW); (8) Nhà máy điện gió Ea Sin công suất 77MW).[12] Gồm: (1) Nhà máy điện gió Xanh Nam Việt, công suất 49MW; (2) Nhà máy điện gió LRSH Sơn Hòa giai đoạn 1, công suất 82MW; (3) Nhà máy điện sinh khối Phú Yên, công suất 30MW; (4) Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt và phát điện Trung An, công suất 15MW.

Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 02 và 2 tháng đầu năm 2026
  •   03/03/2026 14:57

Thực hiện Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 22/12/2025 của Ban Bí thư, Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 31/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 02-CT/TU ngày 31/12/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tổ chức đón Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026; Công văn số 1028/VPCP-TH ngày 01/02/2026 của Văn phòng Chính phủ về việc tổ chức, phân công trực và báo cáo tình hình chuẩn bị, tổ chức Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026; Công văn số 577-CV/TU ngày 05/02/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc báo cáo tình hình tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trước, trong và sau Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026 nhìn chung ổn định và tiếp tục tăng trưởng.  Công tác chuẩn bị và tổ chức đón Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026 được triển khai chủ động, đồng bộ, bám sát chỉ đạo của Trung ương và Tỉnh ủy; các hoạt động đón Tết diễn ra an toàn, tiết kiệm, lành mạnh; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và an toàn giao thông cơ bản được đảm bảo; thị trường hàng hóa ổn định, không xảy ra khan hiếm, sốt giá; công tác chăm lo an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng; Nhân dân đón Tết vui tươi, phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, công tác tuyên truyền, trang trí đô thị, chiếu sáng công cộng được tổ chức phong phú, phù hợp điều kiện thực tế của địa phương, tạo không khí vui tươi, phấn khởi nhưng vẫn bảo đảm tiết kiệm, không phô trương, hình thức; bảo đảm cung ứng điện, nước, viễn thông, y tế phục vụ Nhân dân và các hoạt động vui Xuân, lễ hội đầu năm. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc tổ chức Tết tại một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai còn gặp khó khăn. 1.    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 02 năm 2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho công tác gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân năm 2026; chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, không để xảy ra dịch bệnh nguy hiểm trên diện rộng; công tác an toàn thực phẩm, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và thị trường được triển khai đồng bộ, bảo đảm nguồn cung thực phẩm phục vụ Nhân dân; hoạt động lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng được duy trì chặt chẽ. 1.1. Sản xuất cây hàng năm Tính đến ngày 20/02/2026, ước tính toàn tỉnh đã gieo cấy được 73.470 ha lúa vụ Đông xuân 2025-2026, giảm 2,37% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do một số diện tích lúa tại một số địa phương ở phía đông chuyển sang mục đích xây dựng công trình giao thông. Cây hàng năm khác: Cùng với việc gieo cấy lúa Đông xuân, các địa phương trên toàn tỉnh đã gieo trồng ngô được 4.705 ha, tăng 0,75%; khoai lang 1.380 ha, tăng 2,22%; đậu tương 22 ha, tăng 2,38%; lạc 305 ha, tăng 1,67%; rau các loại 5.230 ha, tăng 2,55%; đậu các loại 1.360 ha, tăng 1,49% so với cùng kỳ năm trước. Bà con nông dân đang khẩn trương chăm sóc và thu hoạch các sản phẩm như: rau, đậu và thực phẩm để cung ứng cho người tiêu dùng. Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng ([1]). Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường. 1.2. Cây lâu năm Hiện nay các địa phương đang tập trung chăm sóc vườn cây như: Tỉa cành, tạo tán để vườn thông thoáng, giảm nơi cư trú của rệp sáp; vệ sinh vườn, dọn cỏ dại, bón phân cân đối để cây khỏe mạnh và phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Diện tích một số cây trồng chính như sau: Cà phê 217.026 ha, cao su 33.782 ha, tiêu 28.804 ha, điều 26.409 ha, sầu riêng 41.828 ha. Tình hình sâu bệnh trên cây lâu năm: Thời điểm hiện nay là mùa khô hanh, sâu bệnh tập trung vào các đối tượng chích hút và bệnh nấm do thiếu nước hoặc chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn. Các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh, cụ thể dịch bệnh đã xảy ra trên từng loại cây trồng([2]). 1.3. Công tác chăn nuôi, thú y Chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của dân cư trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên Đán. Tỉnh tiếp tục định hướng phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại tập trung, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tình hình chăn nuôi trong tháng 02/2026 như sau: Ước số lượng đàn trâu có 24.676 con, giảm 5,54%; đàn bò hiện có 354.906 con, giảm 9,03% (trong đó, đàn bò sữa có 5.009 con, tăng 7,91%); đàn lợn thịt hiện có 1.064.201 con, tăng 2,75%; đàn gia cầm hiện có 20.714 nghìn con, tăng 1,48% (trong đó, đàn gà khoảng 17.497 nghìn con, tăng 2,17%) so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh đến nay vẫn ổn định, dịch bệnh chỉ xảy ra rải rác ở một vài nơi, diễn biến bệnh vẫn đang được kiểm soát([3]). Tuy vậy, các ngành, các cấp có liên quan vẫn tích cực chỉ đạo chính quyền địa phương và nhân dân thực hiện tốt công tác giám sát nhằm phát hiện, điều trị và xử lý kịp thời, tránh để dịch bệnh lây lan, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân, tăng cường công tác phòng chống dịch ở các chốt kiểm dịch đầu mối ra vào tỉnh và công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn tỉnh. Công tác kiểm dịch: Trong tháng 02/2026, Chi cục thú y đã kiểm dịch xuất tỉnh được 974.229 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Trâu 153 con, bò 548 con, heo 60.418 con, gà 909.510 con, vịt + ngan 3.600 con. Lũy kế kiểm dịch xuất tỉnh 02 tháng đầu năm 2026 là 2.034.149 con. Kiểm dịch nhập tỉnh tháng 02/2026 được 1.367.662 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Bò 102 con, heo 56.051 con, gà 977.834 con, vịt + ngan 333.675 con; thịt trâu bò 678 kg, thịt gia cầm 31.347 kg, thịt heo 13.708 kg; Gia súc, gia cầm xuất, nhập tỉnh với mục đích chăn nuôi (xuất tỉnh: Heo 20.886 con, gà 834.005 con; nhập tỉnh: Heo 52.399 con, gà 997.834 con, vịt + ngan 333.675 con). Lũy kế kiểm dịch nhập tỉnh 02 tháng đầu năm 2026 là 2.771.398 con. 1.4. Lâm nghiệp Công tác quản lý, bảo vệ, PCCC rừng được các ngành chức năng, các địa phương và các chủ rừng chú trọng thực hiện. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép vẫn còn xảy ra. Khai thác lâm sản: Trong tháng 02/2026, sản lượng gỗ toàn tỉnh khai thác ước đạt 33.600 m3 gỗ, tăng 1,60% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 2 tháng đầu năm sản lượng gỗ khai thác được 59.251 m3, tăng 1,27%, chủ yếu gỗ nguyên liệu giấy. Phát triển rừng: Các công ty lâm nghiệp, các đơn vị đã và đang tiến hành làm đất, giống để chuẩn bị cho kế hoạch công tác đăng ký trồng rừng năm 2026. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang nghiệm thu kết quả trồng cây phân tán năm 2025 trên địa bàn tỉnh từ nguồn chi trả Dịch vụ môi trường. Quản lý bảo vệ rừng: UBND tỉnh đã chỉ đạo cho các ngành chức năng phải thường xuyên tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các chủ rừng, đơn vị triển khai công tác PCCCR và tổ chức triển khai công tác phòng chống chặt phá rừng tại các địa phương, đơn vị; đảm bảo công tác trực 24/24 giờ, cảnh báo và xử lý kịp thời tình huống xảy ra phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép... Trong tháng 02/2026, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 56 vụ (01 vụ khai thác rừng trái pháp luật, 04 vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng, 12 vụ phá rừng trái pháp luật, 27 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 10 vụ tàng trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến lâm sản trái pháp luật, 02 vụ vi phạm quy định về quản lý hồ sơ lâm sản trong vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản), lâm sản tịch thu 30,288 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 06 chiếc các loại, tổng các khoản thu 201,425 triệu đồng, tổng số tiền nộp ngân sách 190,425 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm 2026 đến nay, tổng số vụ vi phạm là 139 vụ, lâm sản tịch thu 41,253 m3 gỗ các loại và 99,648 ster củi các loại, phương tiện tịch thu 23 chiếc các loại, tổng các khoản thu 258,175 triệu đồng, tổng số tiền đã nộp ngân sách 242,175 triệu đồng. 1.5. Thủy sản Tỉnh đang cơ cấu lại ngành thủy sản theo hướng bền vững và hiện đại; tập trung vào phòng ngừa dịch bệnh và tái tạo nguồn lợi tự nhiên, trọng tâm là quy hoạch lại vùng nuôi trồng gắn với bảo vệ môi trường, chuyển đổi phương thức hoạt động từ khai thác tận diệt sang khai thác và nuôi trồng bền vững. Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 02/2026 ước đạt 6.569,7 tấn, tăng 2,12% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 11.153,5 tấn, tăng 1,96%. Trong đó: - Sản lượng thủy sản khai thác biển: tháng 02/2026 ước đạt 6.267 tấn, tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 4.820 tấn, tăng 2,27%, (trong đó, Cá ngừ đại dương 370 tấn, tăng 2,21% và chiếm 7,6% trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển); tôm 38 tấn, tăng 2,7%; thủy sản khác 1.409 tấn, tăng 1,66%. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10.558,5 tấn, tăng 1,92% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 8.600 tấn, tăng 1,9%, tôm 64,5 tấn, tăng 2,38%; thủy sản khác 1.894 tấn, tăng 1,99%. - Sản lượng thủy sản khai thác nội địa: tháng 02/2026 ước đạt 47,9 tấn, tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 98,2 tấn, tăng 2,85%. - Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 02/2026 ước đạt 254,8 tấn, tăng 1,63% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 151,1 tấn, tăng 0,73%; tôm 103,2 tấn, tăng 3%; thủy sản khác 0,5 tấn, giảm 4%. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 496,8 tấn, tăng 2,53% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 304,1 tấn, tăng 2,38%; tôm 189,5 tấn, tăng 2,72%; thủy sản khác 3,3 tấn, tăng 6,21%. 1.6. Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) Các ngành và các địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương trình xây dựng NTM; chú trọng nâng cao chất lượng các tiêu chí và chất lượng thực hiện chương trình, tập trung hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận xã đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao. Tính đến nay, toàn tỉnh Đắk Lắk (mới) có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Trong đó, có 04/26 xã đạt nông thôn mới nâng cao, đạt 15,38%; không có xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 764 sản phẩm OCOP (gồm: 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao, 10 sản phẩm tiềm năng 4 sao và 656 sản phẩm đạt 3 sao, 43 sản phẩm hết hạn; 2 sản phẩm bị thu hồi) của 372 chủ thể([4])2. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá. Nhìn chung, các ngành công nghiệp cấp I duy trì xu hướng tăng  so với cùng kỳ năm trước, nổi bật trong đó chính là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 13,49% so với cùng kỳ năm trước, giữ vai trò động lực chính của toàn ngành. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 02/2026 tăng 11,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 1,08%; chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,30%([5]); chỉ số ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 15,48%; chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,26%. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 02 tháng đầu năm 2026 tăng 11,90% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 11,30% là do các doanh nghiệp khai thác đá tăng công suất hoạt động nhằm phục vụ các công trình xây dựng, trong đó sản phẩm đá xây dựng khác đạt 154,5 nghìn m3, tăng 15,70%. Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,49%, chỉ số này tăng ở hầu hết các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 30,49%, dăm gỗ đạt 26.684 tấn, tăng 34,91%; sản xuất đồ uống tăng 21,12%, bia đóng chai đạt 14,2 triệu lít, tăng 36,50%; sản xuất thiết bị điện tăng 16,76%, cuộn cảm dùng cho bộ nguồn cấp điện đạt 111,8 triệu chiếc, tăng 16,76%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,13%, đá lát lề đường đạt 72.803m2, tăng 32,80%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,28%, trong đó cá ngừ đóng hộp đạt 1.004,8 tấn, tăng 18,77%, cà phê bột các loại đạt 9.890,6 tấn, tăng 17,67%, hạt điều khô đạt 19.266,7 tấn, giảm 7,46%; riêng ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 10,54% đã hạn chế mức tăng chung của ngành. Chỉ số ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt trong tăng 8,61% so với cùng kỳ năm trước, điện sản xuất đạt 1.529,9 triệu kWh, tăng 13,06% và điện thương phẩm đạt 604,1 triệu kWh, tăng 8,29%. Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,57%, nước uống được đạt 10.268,7 nghìn m3, tăng 7,36% và dịch vụ thu gom xử lý rác thải đạt 24 tỷ đồng, tăng 7,99%. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 02 tháng đầu năm 2026 giữ ổn định so với năm trước, song có sự dịch chuyển giữa các khu vực. Xét theo loại hình doanh nghiệp, lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,95%; trong khi khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 14,31%; khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,74%. Xét theo ngành cấp I, lao động tăng 17,86% ở ngành khai khoáng; tăng 2,34% ở ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải; ngược lại, giảm 0,33% ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; giảm 0,50% ở ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí. Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 02 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh diễn ra trong bối cảnh đan xen cả yếu tố thuận lợi và khó khăn. Hoạt động sản xuất của nhiều doanh nghiệp được duy trì ổn định, từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần giữ vững nhịp độ tăng trưởng chung của toàn ngành. Tuy nhiên, khu vực công nghiệp vẫn đối mặt với không ít thách thức; khó khăn về tiếp cận vốn và công nghệ, đặc biệt ở doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế khả năng đổi mới thiết bị, nâng cao năng suất và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số; hạ tầng tại một số khu, cụm công nghiệp chưa đồng bộ, nhất là các hạng mục giao thông kết nối, logistics và xử lý môi trường, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và thu hút đầu tư; bên cạnh đó, một số nhà máy chế biến nông sản hoạt động chưa hết công suất do phụ thuộc vào tính mùa vụ và nguồn nguyên liệu đầu vào chưa ổn định, chịu tác động của thời tiết và biến động giá cả trong niên vụ trước. Sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn giữ được xu hướng tăng trưởng, song quá trình phát triển còn tiềm ẩn nhiều yếu tố cần tiếp tục được tháo gỡ nhằm nâng cao tính bền vững trong thời gian tới. 3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao tính minh bạch và thuận lợi trong hoạt động kinh doanh; đẩy mạnh các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và cơ hội phát triển tiếp tục được quan tâm thực hiện, góp phần ổn định hoạt động doanh nghiệp. Trong tháng 02/2026, dự ước có 216 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 2.740 tỷ đồng (tăng 57,66% về doanh nghiệp và gấp 4,7 lần về số vốn so với cùng kỳ năm trước), 26 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 4%); bên cạnh đó, có 52 doanh nghiệp giải thể (gấp 3,5 lần) và 71 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 61,36%). Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, có 670 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 4.700 tỷ đồng (gấp 2,4 lần về số doanh nghiệp nhưng giảm 58,33% về số vốn so với cùng kỳ năm trước), 260 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 26,83%); trong khi đó, có 135 doanh nghiệp giải thể (gấp 2,9 lần) và 795 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 4,61%). Trong 02 tháng đầu năm 2026, bức tranh doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thể hiện sự đan xen giữa tín hiệu tích cực và yếu tố thách thức. Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường có xu hướng tăng, cho thấy động lực khởi sự kinh doanh và khả năng phục hồi của một bộ phận doanh nghiệp đang dần cải thiện. Tuy nhiên, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường thông qua giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động vẫn ở mức đáng chú ý, phản ánh sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp còn hạn chế trước những biến động của thị trường. Vì vậy, việc duy trì các giải pháp hỗ trợ thiết thực, nâng cao hiệu quả điều hành và tăng cường khả năng thích ứng của doanh nghiệp tiếp tục là yêu cầu quan trọng trong thời gian tới. 4. Đầu tư Do tháng 02/2026 trùng với dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026 nên việc thực hiện các dự án đầu tư còn chậm so với tiến độ cùng kỳ năm trước. Sau kỳ nghỉ tết, Chính phủ và UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt trong việc đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công nhằm thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển KT-XH năm 2026. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 02/2026 ước đạt 740,5 tỷ đồng, tăng 10,74% so với tháng trước, giảm 12,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn cấp tỉnh ước đạt 728,2 tỷ đồng, tăng 11,14% so với tháng trước và giảm 13,04% so với cùng kỳ năm trước; nguồn vốn cấp xã thực hiện ước đạt 12,3 tỷ đồng, giảm 8,72% so tháng trước và tăng 43,96% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn ước đạt 1.409,2 tỷ đồng, bằng 13,20% kế hoạch năm, giảm 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.383,3 tỷ đồng, chiếm 98,16% tổng nguồn vốn, giảm 4,64% so với cùng kỳ chủ yếu là tăng ở nguồn vốn ODA và vốn cân đối ngân sách tỉnh; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 25,9 tỷ đồng, chiếm 1,84% tổng nguồn vốn, tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước.Hình 8. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý 02 tháng năm 2026 chia theo nguồn vốn Hiện nay các chủ đầu tư, nhà thầu tiếp tục thi công các dự án, công trình chuyển tiếp từ năm trước sang, đồng thời thực hiện một số hạng mục công trình phục vụ Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026. Trong tháng 02/2026, một số hoạt động thi công các dự án, công trình đã tạm dừng trong thời gian nghỉ Tết để công nhân, kỹ sư về quê sum họp cùng gia đình. Bên cạnh đó, thời gian khởi động lại sau kỳ nghỉ cũng cần thêm vài ngày để ổn định tổ chức và bổ sung vật tư. Vì vậy, khối lượng thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trong tháng 2/2026 còn thấp so với kế hoạch năm, tuy nhiên đây là yếu tố khách quan và đã được tính toán trong phương án điều hành dự án, vì vậy vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 02 tháng đầu năm 2026 giảm 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng tiếp tục tham mưu UBND tỉnh giao chi tiết kế hoạch đầu tư công năm 2026 nguồn ngân sách địa phương để thực hiện 01 đề án và 03 dự án đã hoàn thiện thủ tục đầu tư, với tổng vốn là 371.614 triệu đồng. Tính đến ngày 23/02/2026, tỉnh đã giải ngân 406,94 tỷ đồng, đạt 4,33% kế hoạch. Hoàn thành việc tham mưu cấp có thẩm quyền cho phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2025 sang năm 2026 nguồn vốn ngân sách trung ương để chủ đầu tư tiếp tục triển khai thực hiện và giải ngân cho 30 dự án, với số vốn là 2.815 tỷ đồng. Một số công trình, dự án có tiến độ và giá trị thực hiện lớn tiếp tục được đầu tư như: Dự án thành phần 3 (Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Buôn Ma Thuột – Khánh Hoà) ước đạt 267.280 triệu đồng; Đầu tư xây dựng bệnh viện sản nhi ước đạt 54.600 triệu đồng; Nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho các tỉnh bị hạn hán ước đạt 45.860 triệu đồng; Hồ Suối Cái ước đạt 45.860 triệu đồng; Xây dựng Hệ thống chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến 2030 ước đạt 42.040 triệu đồng; Đường Đông Tây TP Buôn Ma Thuột (giai đoạn 2) ước đạt 37.980 triệu đồng; Nâng cấp Khoa Ung bướu thành Trung tâm Ung Bướu thuộc Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên ước đạt 34.685 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc Cầu An Hải ước đạt 29.480 triệu đồng; Dự án chuyển đổi Nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VNSAT) ước đạt 28.400 triệu đồng; Kè chống sạt lở bờ tả sông ba kết hợp phát triển hạ tầng đô thị đoạn qua thôn Vĩnh Phú ước đạt 21.840 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển tỉnh Phú Yên, đoạn kết nối huyện Tuy an - Thành phố tuy hòa (giai đoạn 1) ước đạt 21.840 triệu đồng;… Tình hình thu hút đầu tư: Trong tháng, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 01 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 2.150 tỷ đồng; đồng thời, điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 05 dự án. Luỹ kế từ đầu năm đến nay, đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 05 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 2.995,83 tỷ đồng; đồng thời, điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 09 dự án. 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Tài chính: Ngay từ đầu năm, tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai nhiều giải pháp trọng tâm điều hành công tác thu ngân sách nhà nước. Chi ngân sách vẫn đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước; đảm bảo an sinh xã hội. - Thu ngân sách nhà nước: Tính đến hết ngày 28/02/2026, tổng thu NSNN đạt 3.777.398 triệu đồng, đạt 22,07% dự toán TW và đạt 21,33% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 6,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thu nội địa ước đạt 2.825.725 triệu đồng, đạt 25,53% dự toán TW dự toán HĐND tỉnh, tăng 18,17%, trong đó thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.511.545 triệu đồng, đạt 31,29% dự toán TW và dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 37,88%. Thu xổ số kiến thiết ước đạt 112.318 triệu đồng, đạt 28,08% dự toán TW giao và dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 22,72%. Thu tiền sử dụng đất đạt 818.436 triệu đồng, đạt 14,88% dự toán TW và đạt 13,44% dự toán HĐND, giảm 21,48%. Thu xuất, nhập khẩu đạt 20.919 triệu đồng, đạt 14,13% dự toán TW và dự toán HĐND, tăng 12,37% so với cùng kỳ. - Chi ngân sách nhà nước: Tính đến hết 28/02/2026, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 5.385.605 triệu đồng, đạt 13,47% dự toán TW giao và đạt 13,05% dự toán HĐND tỉnh giao, giảm 37,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Chi thường xuyên đạt 4.416.244 triệu đồng, đạt 14,68% dự toán TW giao và dự toán HĐND giao, tăng 13,92%. Chi đầu tư phát triển đạt 969.362 triệu đồng, đạt 10,52% dự toán TW giao và đạt 9,26% dự toán HĐND giao, giảm 79,47% so với cùng kỳ năm trước. Ngân hàng: Ước tính đến ngày 28/02/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 171.500 tỷ đồng, tăng 2,5% so với đầu năm; dư nợ cho vay ước đạt 272.000 tỷ đồng, tăng 4,4% so với đầu năm; nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng 0,99% trên tổng dư nợ, duy trì trong ngưỡng an toàn. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Trung ương. Ước tính đến ngày 28/02/2026, dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 14.955 tỷ đồng, tăng 3,39%, với 330.033 khách hàng còn dư nợ. Công tác bảo hiểm: Trong tháng, toàn tỉnh ước có 76 nghìn người tham gia BHXH, BHYT, BHTN; tính chung 02 tháng đầu năm 2026, có 2.550 nghìn người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, đạt 94% kế hoạch, tăng 2% so cùng kỳ. Tổng số tiền thu được là 1.631,041 tỷ đồng (đạt 19% kế hoạch, tăng 14% so cùng kỳ); tổng số tiền chi là 1.568,836 tỷ đồng (đạt 12% kế hoạch, tăng 9% so cùng kỳ); tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN là 552 tỷ đồng. 6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch 6.1. Tình hình thị trường hàng hóa trong dịp Tết Nhằm triển khai thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, đáp ứng nhu cầu mua sắm của Nhân dân trong dịp cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026, UBND tỉnh đã chỉ đạo các doanh nghiệp, siêu thị, trung tâm thương mại, chợ trên địa bàn tỉnh tăng cường công tác dự trữ hàng hóa, nhất là các loại hàng hóa nhu yếu phẩm phục vụ người tiêu dùng trong dịp Tết([6]). Thực hiện việc niêm yết giá và bán đúng giá niêm yết đối với mặt hàng thiết yếu.  Nguồn cung hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn được đảm bảo dồi dào, không xảy ra tình trạng khan hiếm cục bộ, sốt giá gây biến động thị trường. Đối với các mặt hàng thiết yếu trong diện bình ổn, các doanh nghiệp đã chấp hành tốt cam kết đảm bảo nguồn hàng thiết yếu phục vụ với mức giá ổn định hoặc thấp hơn giá thị trường từ 5 - 10% trong suốt dịp Tết, đồng thời triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá sâu từ 10 - 50% đối với nhiều mặt hàng thiết yếu nhằm kích cầu tiêu dùng.  Giá cả các mặt hàng tiêu dùng trên thị trường tỉnh ở thời điểm trước Tết diễn biến tương đối ổn định, giá cả có tăng nhẹ so với ngày thường, mức tăng phổ biến khoảng 5 - 7% đối với một số mặt hàng phục vụ Tết. Các cơ quan chức năng đã tích cực triển khai kế hoạch kiểm tra, kiểm soát thị trường trước và trong dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026, nhằm ngăn chặn việc các đối tượng lợi dụng tình hình thị trường sôi động để đưa hàng cấm, hàng nhập lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng vào thị trường tiêu thụ và những hành vi gian lận thương mại([7]). 6.2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng  Tháng 02/2026 chính là thời điểm trước, trong và sau dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ nên nhu cầu sản xuất hàng hóa và dịch vụ tăng chính là nguyên nhân làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong kỳ tăng khá cao (+13,94%), trong đó nổi bật là ngành dịch vụ lữ hành (+58,79%). Thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh trước Tết Nguyên Đán rất phong phú, nhộn nhịp, sức mua, bán, trao đổi hàng hóa chuẩn bị đón Tết của người diễn ra sôi động và tăng từ 10-15% so với cùng kỳ năm trước. Người dân đi mua sắm tại các chợ lớn và các khu Trung tâm thương mại ngày càng đông, thương mại điện tử ngày càng phát triển và có giá trị lớn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành thương mại. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 02/2026 ước đạt gần 12.923,6 tỷ đồng, tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 15,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.045,5 tỷ đồng, tăng 0,50% so với tháng trước và tăng 14,91% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước như: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 170,08%; Ô tô các loại tăng 29,52%; Vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 17,74%, Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 18,24%... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.855,8 tỷ đồng, tăng 0,65% so với tháng trước, tăng 20,39% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 7,1 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước và tăng 30,74% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.015,1 tỷ đồng, giảm 2,94% so với tháng trước và tăng 16,40% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 25.815,5 tỷ đồng, tăng 13,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 20.040,7 tỷ đồng, tăng 13,68%, chiếm 77,63% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 02 tháng năm 2026. Một số mặt hàng bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 227,05%; ô tô các loại tăng 50,32%; phương tiện đi lại tăng 14,88%;... Một số mặt hàng có mức tăng thấp hơn mức tăng chung như: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình chỉ tăng 0,99%; hàng may mặc tăng 2,22%; hàng hoá khác tăng 5,77%;…Các mặt hàng này đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 3.699,6 tỷ đồng, tăng 20,39%, chiếm 14,33%. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 415,3 tỷ đồng, tăng 19,05%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 3.284,3 tỷ đồng, tăng 14,50%. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 14,1 tỷ đồng, tăng 58,79%, chiếm 0,05%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 2.061,0 tỷ đồng, tăng 14,41%, chiếm 7,98%. Phân theo nhóm, ngành hàng thì dịch vụ thì tăng trưởng cao nhất là ngành dịch vụ sửa chữa máy tính và đồ dùng cá nhân tăng 26,53%; dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 24,73%; dịch vụ khác tăng 17,87%...Một số ngành có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí chỉ tăng 4,79%, dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,20% so với cùng kỳ năm trước… Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh đã chủ động ban hành kế hoạch tổ chức các loại hình dịch vụ du lịch phục vụ khách đến tham quan, vui xuân dịp Tết; Xây dựng kế hoạch hỗ trợ, phối hợp với các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh trong công tác đón khách du lịch đến với Đắk Lắk trước, trong và sau dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026. Ước tháng 2/2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 554.131 lượt khách tăng 8,33% so với tháng trước, tăng 24,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lượt khách ngủ qua đêm là 407.333 lượt khách tăng 9,96% và tăng 28,28%; lượt khách trong ngày là 146.798 lượt, tăng 4,06% và tăng 15,81%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 1.065.654 lượt khách, tăng 18,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lượt khách ngủ qua đêm là 777.786 lượt khách tăng 18,25%; lượt khách trong ngày là 287.868 lượt, tăng 17,47%. Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour tháng 2/2026 là 1.746 lượt, tăng 16,32% so với tháng trước và tăng 99,32% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026 là 3.247 lượt, tăng 161,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đi trong nước là 3.247 lượt, tăng 220,53%. 6.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Trong tháng 02/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 305 triệu USD, tăng 1,33% so với tháng trước, tăng 9,0% cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 606 triệu USD, tăng 10,70% so với cùng kỳ năm trước, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 276 triệu USD, tăng 23,84% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu tháng 02/2026 của tỉnh ước đạt 218 triệu USD, giảm 2,24% so với tháng trước, tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, đạt 441 triệu USD, tăng 14,50% so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng cà phê đạt 31.000 tấn, giảm 13,41%; hồ tiêu đạt 6.000 tấn, tăng 29,73%, điều 7.300 tấn, tăng 15,21%; cao su 1.050 tấn, giảm 44,21%; hàng rau quả 98 triệu USD, tăng 145,77%, hải sản 22,5 triệu USD, linh kiện điện tử 4 triệu USD... Các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết. Hoạt động xuất khẩu vẫn đang trên đà tăng trưởng; bên cạnh đó, một số mặt hàng giảm nhẹ do bắt đầu vào niên vụ mới nên nguồn cung dự trữ chuyển qua không còn nhiều.Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu tháng 02/2026 ước đạt 87 triệu USD, tăng 11,54%, tăng 20,63% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026 đạt 165 triệu USD, tăng 1,67% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.6.4. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la MỹTrong dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026, giá cả thị trường không có biến động lớn, các mặt hàng không xảy ra tình trạng khan hiếm, thiếu hàng, sốt giá gây bất ổn thị trường. Người dân không còn tâm lý mua tích trữ nhiều hàng hóa trong dịp Tết và tiêu dùng tiết kiệm hơn. Những mặt hàng thiết yếu tiêu thụ trong dịp Tết Nguyên Đán được các doanh nghiệp và nhà sản xuất, kinh doanh chuẩn bị khá đầy đủ để phục vụ cho nhân dân mua sắm. Hàng hóa bán trên thị trường cơ bản được niêm yết giá và bán theo giá niêm yết. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tình hình mưa lũ, thiên tai xảy ra nghiêm trọng trong năm 2025, đặc biệt tại khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk, đời sống và thu nhập của một số khu vực dân cư bị ảnh hưởng, dẫn đến sức mua tại khu vực này giảm so với cùng kỳ năm trước. Khu vực phía Tây tỉnh Đắk Lắk, nhờ giá các mặt hàng nông sản chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng… duy trì ở mức cao, thu nhập của người dân ổn định nên sức mua đến thời điểm hiện tại có xu hướng tăng. Chính điều này đã tác động không nhỏ đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 2/2026.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2/2026 có xu hướng tăng 0,82% so với tháng 01/2026; tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước; so với tháng 12 năm trước tăng 0,64%. Chỉ số giá bình quân 02 tháng năm 2026 tăng 3,52%. Trong tháng 02/2026, so với tháng trước có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm giao thông tăng 1,42% (làm cho CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm) do giá xăng tăng 1,98%, dầu diesel tăng 6,33% theo giá thế giới; giá vé xe và các dịch vụ tăng mạnh do có phụ thu ngày Tết([8]). Tiếp đến là nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,27% (CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm) là do nhu cầu dịp Tết tăng cụ thể: Giá bia các loại tăng 1,66%; giá nước khoáng và nước có gas cũng tăng 1,04%; thuốc hút tăng 1,17%; giá rượu các loại tăng 0,44%...([9]). Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,09% (CPI chung tăng 0,36 điểm phần trăm), trong đó cả 3/3 mặt hàng chính đều tăng: Lương thực tăng 0,39%([10]), thực phẩm tăng 0,73% đặc biệt là nhóm thịt các loại, rau, củ, quả tăng do cung lớn hơn cầu([11]); ăn uống ngoài gia đình tăng 2,27% do có phụ thu phí ngày tết. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,97% do nhu cầu mua sắm chuẩn bị Tết tăng([12]). Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,82% do chủ yếu Giá nhà ở thuê và nhà ở thuộc sở hữu tính quy đổi tăng 1,73%, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,15%..., bên cạnh đó một số mặt hàng trong nhóm này giảm như: giá gas giảm 2,83%, giá nước sinh hoạt giảm 0,06%... Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,43% là do hàng hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 1,83%; dịch vụ giải trí tăng 0,17% do giá vé xem phim, ca nhạc tăng 6,07%...Nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,40% chủ yếu do máy điều hoà nhiệt độ tăng 3,40%; đồ điện tăng 1,39%; giường, tủ, bàn ghế tăng 1,01%...([13]) Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,35%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04% do giá một số loại thuốc tăng nhẹ. Ở chiều ngược lại có 01 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,12% chủ yếu ở các mặt hàng thiết bị điện tử như điện thoại, ti vi để kích cầu tiêu dùng. Có 01 nhóm hàng ổn định đó là nhóm giáo dục, không có sự biến động so với tháng trước.   Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 02 tháng năm 2026 tăng 3,52%. Có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó: tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 11,59%; tiếp đến là nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,26% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, Tết. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 3,09%. Nhóm giáo dục tăng 3,59% (trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,90%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,97%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,67% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, Tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng, một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng, các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,86% (trong đó: Thực phẩm tăng 4,33%, ăn uống ngoài gia đình tăng 5,28%). Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,84%. Nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,74% (dịch vụ y tế tăng 0,67%) là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng. Ở một diễn biến khác, toàn tỉnh có 02/11 nhóm hàng giảm, trong đó giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm 1,76%, tiếp đó là nhóm thông tin truyền thông giảm 0,8% đã tác động tích cực đến chỉ số giá bình quân 02 tháng năm 2026. Chỉ số giá vàng tháng 02/2026 tăng 12,25% so với tháng trước, bình quân 02 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 86,0% là do giá vàng tăng theo giá thế giới và sức mua tăng song chỉ là nhất thời trong ngắn hạn do ảnh hưởng của ngày vía Thần tài (10 tháng giêng âm lịch). Chỉ số giá Đô la Mỹ giảm 0,85% so với tháng trước, bình quân 02 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 2,96%. Sức mua của mặt hàng này ở mức bình thường. 6.5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh trước trong và sau Tết Nguyên Đán diễn ra an toàn và thông suốt. Doanh thu vận tải và khối lượng luân chuyển, vận chuyển hành khách và hàng hóa tiếp tục tăng so với cùng kỳ do nhu cầu di chuyển, đi lại, sản xuất của người dân tăng cao trong dịp Tết Nguyên Đán. Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát tháng 02/2026 ước đạt 871,9 tỷ đồng, tăng 2,20% so với tháng trước, tăng 12,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách đạt 239,8 tỷ đồng, tăng 3,39% và tăng 12,26%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 534,9 tỷ đồng, tăng 1,35% và tăng 12,38%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 51,6 tỷ đồng tăng 2,93% và tăng 10,38%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt 45,6 tỷ đồng, tăng 5,39% so tháng trước và tăng 15,61% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 1.725,1 tỷ đồng, tăng 11,92% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 471,7 tỷ đồng, tăng 13,12%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.062,7 tỷ đồng, tăng 11,34%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 101,7 tỷ đồng, tăng 9,94%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt gần 89 tỷ đồng, tăng 14,92% so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển và luân chuyển hành khách trong tháng 02/2026 ước đạt 2.209 nghìn lượt khách và 292 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng 3,28% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 3,77%; so với cùng kỳ năm trước tăng 12,66% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 8,85%.  Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.468 nghìn tấn và 462 triệu tấn.km, so với tháng trước tăng 2,01% về khối lượng vận chuyển và tăng 4,41% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 10,99% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,95% về khối lượng luân chuyển. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 4.347 nghìn lượt hành khách và 573 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,82% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,31% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 2.908 nghìn tấn và 904 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 10,71% về khối lượng vận chuyển và tăng 9,82% về khối lượng luân chuyển. 7. Khoa học công nghệ và chuyển đổi số Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được triển khai đúng kế hoạch, bảo đảm quy trình, thủ tục theo quy định. Tiếp tục phối hợp thực hiện 01 nhiệm vụ cấp quốc gia; hướng dẫn, quản lý 22 đề tài, nhiệm vụ cấp tỉnh được chuyển tiếp sang năm 2026. Tổ chức họp Hội đồng KH&CN đánh giá, nghiệm thu 03 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, kết quả 03/03 nhiệm vụ được xếp loại Đạt; đồng thời công nhận kết quả 01 nhiệm vụ theo quy định. Công tác chuyển đổi số được quan tâm, chỉ đạo triển khai đồng bộ, hiệu quả. Thực hiện quét an toàn thông tin và dán tem kiểm định an toàn thông tin theo quy định của Ủy ban bầu cử cho các máy tính phục vụ triển khai hệ thống phần mềm Quản lý thông tin bầu cử trên Mạng truyền số liệu chuyên dùng, bảo đảm an toàn, thông suốt đến Ủy ban bầu cử các cấp. 8. Một số vấn đề xã hội 8.1. An sinh xã hội Công tác chăm lo Tết cho các đối tượng chính sách, các hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn tỉnh nhận được sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các cơ quan, đơn vị, địa phương; đã huy động nguồn lực từ nguồn xã hội hóa và dùng ngân sách địa phương để quan tâm, chăm lo và tặng quà Tết cho các đối tượng. Kết quả chăm lo Tết cho các đơn vị, cá nhân tiêu biểu, đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo: Tổng số đối tượng được tặng quà: 167.911 người, tổng số tiền: 67.164.400.000 đồng([14]). Kết quả tặng quà theo Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 của Chủ tịch nước: Tổng số đối tượng được tặng quà: 29.653 người; Tổng số tiền: 8.963.700.000 đồng Kết quả tặng quà theo Nghị quyết số 27/2025/NQ-HĐND ngày 24/12/2025 của HĐND tỉnh: Tặng quà cho 61 đơn vị và 102.554 người, với tổng số tiền: 55.242.900.000 đồng([15]).  Kết quả chăm lo Tết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo: Tổng số hộ nghèo được tặng quà là 34.411 hộ, kinh phí thực hiện 23.892.500.000 đồng. Tính đến thời điểm báo cáo, 100% hộ nghèo trên địa bàn tỉnh đã được tặng quà Tết theo kế hoạch. Tình hình trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội: Đã chỉ đạo UBND các xã, phường tổ chức chi trả trợ cấp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội tháng 02 hoặc tháng 3 năm 2026 trước Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026 cho 317.523 lượt người, với tổng kinh phí 3.001.549,07 triệu đồng. Trong đó: có 43/102 địa phương hoàn thành chi trả 03 tháng; 59/102 địa phương hoàn thành chi trả 02 tháng. Toàn tỉnh hỗ trợ gạo dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026 cho 33.306 hộ, 95.079 khẩu với 1.426,86 tấn gạo([16]);  Đến thời điểm báo cáo, toàn tỉnh tổ chức tặng quà cho 28.163 người là đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và đối tượng khó khăn khác, tổng kinh phí 14.886.470.000 đồng.  Thăm và chúc mừng các chức sắc tôn giáo: Tỉnh đã tổ chức thăm và tặng quà các chức sắc tôn giáo trên địa bàn tỉnh với số lượng 101 phần quà, mỗi suất trị giá 1.000.000 đồng, tổng kinh phí: 101.000.000 đồng.  Tình hình lương, thưởng Tết cho người lao động: Qua khảo sát, tổng hợp báo cáo từ 106 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh: Về tiền lương: Mức lương bình quân năm 2025 đạt 10 triệu đồng/người/tháng. Cao nhất là 204 triệu đồng/tháng (Cao nhất tại một số doanh nghiệp đặc thù, vị trí quản lý). Về thưởng Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026: Có 86/106 doanh nghiệp có kế hoạch thưởng Tết; mức thưởng bình quân: 5,9 triệu đồng/người; mức thưởng cao nhất: 140 triệu đồng/người; mức thưởng thấp nhất: 300.000 đồng/người. Tình hình nợ lương: 100% doanh nghiệp báo cáo không nợ lương người lao động. Quan hệ lao động ổn định, không xảy ra đình công. 8.2. Lao động việc làm Công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm được triển khai đầy đủ, kịp thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Tỉnh đã trao đổi với thành phố Gyeongsan và huyện Cheongsong (Hàn Quốc) về ký kết Bản ghi nhớ hợp tác (MOU) trong lĩnh vực lao động, tạo cơ sở thúc đẩy đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trong tháng, có 102 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Công tác tư vấn và giới thiệu việc làm được thực hiện thường xuyên, hiệu quả. Đã tư vấn việc làm cho 4.766 lượt người; giới thiệu việc làm cho 65 lượt người; cung cấp thông tin thị trường lao động cho các đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình, cơ sở kinh doanh và người lao động là 5.246 lượt. Công tác tư vấn đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được triển khai tích cực, với 398 lượt người được tư vấn. Công tác hỗ trợ người lao động, chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Trong tháng, đã ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 727 người, với tổng số tiền chi trả hơn 18 tỷ đồng. Tư vấn học nghề cho 584 lượt người hưởng trợ cấp thất nghiệp. Công tác an toàn, vệ sinh lao động được quan tâm, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc. Trong tháng, đã xác nhận khai báo việc sử dụng máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động cho 01 đơn vị theo quy định. 8.3. Hoạt động văn hóa, thể thao Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và du lịch mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 trên địa bàn tỉnh bảo đảm phong phú, thiết thực, an toàn, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của Nhân dân và du khách. Văn hóa: Triển khai thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng trên lĩnh vực văn hóa - văn nghệ; tổ chức tuyên truyền cổ động trực quan chào mừng Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026), mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 và chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.Tổ chức thành công Chương trình nghệ thuật đêm Giao thừa đón Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026 gắn với kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức tối ngày 16/02/2026 (29 tháng Chạp năm Ất Tỵ) tại Quảng trường 10/3 (phường Buôn Ma Thuột) và Quảng trường Phú Yên (phường Tuy Hòa). Đồng thời, tổ chức Không gian trình diễn Hội hô hát Bài chòi Xuân Bính Ngọ từ ngày 12/02/2026 đến ngày 21/02/2026 tại Trung tâm Văn hóa - Du lịch tỉnh; các chương trình biểu diễn văn hóa cồng chiêng, nghệ thuật quần chúng phục vụ Nhân dân và du khách tại khu vực phía Tây và phía Đông của tỉnh trong các ngày từ mồng 3 đến mồng 6 Tết; triển khai chương trình tuyên truyền lưu động “Đảng soi đường - Xuân thắm quê hương” từ ngày 09/02 đến ngày 28/02/2026. Bảo tàng Đắk Lắk, Bảo tàng Phú Yên, Di tích lịch sử quốc gia Đình Lạc Giao, Di tích đặc biệt Nhà đày Buôn Ma Thuột tổ chức các hoạt động trưng bày, triển lãm, các hoạt động trải nghiệm văn hóa truyền thống như: Triển lãm mỹ thuật “Dấu son giữa đại ngàn”; Triển lãm ảnh “Nét đẹp lễ hội miền biển Đắk Lắk”; Hội Báo Xuân Bính Ngọ năm 2026. Bên cạnh đó, tỉnh triển khai tổ chức các chương trình nghệ thuật phục vụ vùng biên giới như “Thắm tình Biên cương”, “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” tại xã Buôn Đôn và xã Tuy An Đông; phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh chuẩn bị tổ chức Ngày Thơ Việt Nam (Đêm thơ Nguyên Tiêu) tại Tháp Nhạn, phường Tuy Hòa… Thể thao: Tổ chức các hoạt động thể dục thể thao mừng Đảng, mừng Xuân để phục vụ Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026 (Giải đua thuyền xã Krông Ana, Hội đua ngựa truyền thống Gò Thì Thùng,…). Phối hợp tổ chức Chương trình toàn dân tập luyện Thể dục thể thao. Cử 01 cử vận động viên tham dự giải Vô địch Boxing U19 Vòng loại Olympic trẻ năm 2026. Toàn tỉnh hiện tập trung đào tạo, huấn luyện và thi đấu 19 môn với 474 vận động viên; trong đó có 105 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia (38 Kiện tướng, 67 cấp I. 8.4. Giáo dục - Đào tạo Trong tháng, các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì việc tổ chức dạy và học theo đúng kế hoạch năm học 2025–2026. Hoàn thiện các dự án được lựa chọn tham dự Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh THCS và THPT năm học 2025 - 2026. Hướng dẫn các đơn vị nộp hồ sơ tham dự Kỳ thi chọn học sinh THPT cấp tỉnh năm học 2025 - 2026 theo đúng quy định. Công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục được chú trọng. Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị tổng kết công tác kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2021–2025, qua đó đánh giá kết quả đạt được, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới. Về đầu tư cơ sở vật chất, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự lễ khởi công xây dựng Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học Cơ sở tại xã Ea Rốk. Đây là công trình được triển khai theo chủ trương của Bộ Chính trị về đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền, góp phần phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới. Bên cạnh đó, học sinh Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh đã xuất sắc vượt qua hàng nghìn thí sinh đến từ 34 tỉnh, thành phố trên cả nước đoạt Giải Quán quân cuộc thi “Tiếng nói Xanh” mùa 3, góp phần khẳng định chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh, khả năng hội nhập và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ tỉnh nhà đối với các vấn đề toàn cầu. 8.5. Công tác Y tế Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tỉnh quan tâm thực hiện, các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân; trong tháng, tổng số lượt khám chữa bệnh toàn tỉnh là 313.169 lượt, nội trú 36.249 lượt, ngoại trú 9.507 lượt, chuyển viện (nội trú) 185 trường hợp. Tăng cường công tác giám sát, theo dõi tình hình, báo cáo và xử lý dịch bệnh. Trong tháng 02/2026, toàn tỉnh ghi nhận 212 ca mắc bệnh tay chân miệng; 274 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 09 ca mắc bệnh thủy đậu; không có ca tử vong. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, tình hình dịch bệnh trên địa bàn được kiểm soát, số ca mắc không tăng đột biến, không ghi nhận ổ dịch lớn([17]). Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về bảo đảm an toàn thực phẩm, nhất là trong dịp Tết, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm([18]). Trong tháng 02 và 02 tháng đầu năm không xảy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm. 8.6. Tình hình vi phạm môi trường Từ ngày 26/01/2026 đến ngày 25/02/2026 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường, xử lý 20 vụ, số tiền xử phạt là 575,5 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm đã phát hiện không tăng không giảm, số vụ đã xử lý tăng 42,86%, số tiền xử phạt gấp 3,5 lần. Tính chung từ 26/12/2025 đến ngày 25/02/2026 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện 43 vụ vi phạm môi trường, xử lý 38 vụ, tổng số tiền xử phạt là 903 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 48,28%, số vụ đã xử lý tăng 46,15%; số tiền xử phạt tăng 86,96%. 8.7. Tình hình thiên tai Từ ngày 26/01/2026 đến ngày 28/02/2026, toàn tỉnh không xảy ra thiên tai. Tính chung từ ngày 25/12/2025 đến ngày 25/01/2026 không xảy ra thiên tai. 8.8. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn trong thời gian trước trong và sau tết cơ bản được giữ vững và ổn định; đặc biệt, trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tích cực chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới; các mặt công tác bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của Nhân dân diễn ra bình thường, chưa phát sinh các vấn đề phức tạp, nổi cộm. Công tác nắm tình hình, quản lý địa bàn, quản lý đối tượng được tăng cường; các lực lượng chức năng chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật. Tính đến 18/02/2026, Công an tỉnh đã đạt được những kết quả nổi bật sau: + Triệt xóa đường dây lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, tổng số tiền trên 51 triệu USD, tương đương 1.275 tỷ đồng. + Đấu tranh chuyên án, triệt xóa 01 đường dây mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng lớn, thu giữ 9,2kg ma túy, 11.184 viên ma túy tổng hợp, 02 khẩu súng; phát hiện, bắt giữ 02 đối tượng có hành vi tàng trữ, buôn bán hàng cấm là 11.390 bao thuốc lá điếu nhập lậu. + Triệt xóa 02 đường dây đánh bạc, tổ chức đánh bạc dưới hình thức cá độ trên Internet, số tiền giao dịch trên 60 tỷ đồng. + Phát hiện, bắt quả tang 04 vụ - 21 đối tượng đánh bạc tại xã Dliê Ya, Ia Rvê và Phú Xuân; thu giữ 9,8 triệu đồng và một số vật dụng phục vụ đánh bạc…  Tăng cường các biện pháp nắm tình hình về âm mưu, ý đồ chống phá của các thế lực thù địch, phản động, FULRO lưu vong; tăng cường các biện pháp bảo vệ các mục tiêu, công trình trọng điểm; triển khai nghiêm túc, hiệu quả các phương án, kế hoạch bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn các sự kiện mừng Đảng, mừng Xuân và các lễ hội đầu xuân. Phát huy vai trò của người có uy tín, chức sắc, chức việc trong tôn giáo; đẩy mạnh đấu tranh, xử lý các hoạt động mê tín dị đoan, tà đạo, đạo lạ, tuyệt đối không để các đối tượng lợi dụng các dịp lễ hội, nơi công cộng, các địa điểm tập trung đông người để công khai hóa hoạt động. Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/01/2026 đến ngày 14/02/2026 toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, không có người chết và người bị thương, thiệt hại tài sản ước tính khoảng 1.588 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy tăng 33,33%, thiệt hại tài sản gấp 3,1 lần. Tính chung từ ngày 15/12/2025 đến 14/02/2026 toàn tỉnh xảy ra 07 vụ cháy, làm 04 người chết và 01 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 2.108 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, gấp 2,3 lần về số vụ cháy, gấp 4,1 lần về giá trị tài sản thiệt hại. Tình hình giao thông: Tổ chức ra quân tổng kiểm soát nồng độ cồn vào lúc 10 giờ 00 sáng ngày mồng 01 Tết. Trong thời gian Tết Nguyên Đán, lực lượng Cảnh sát giao thông đã phát hiện, lập biên bản 874 trường hợp vi phạm trật tự, an toàn giao thông. Trong đó: vi phạm nồng độ cồn 260 trường hợp, vi phạm tốc độ 344 trường hợp, xử lý xe kinh doanh vận tải 13 trường hợp. Từ ngày 15/01/2026 đến 15/02/2026, toàn tỉnh đã xảy ra 40 vụ tai nạn giao thông, làm chết 29 người, bị thương 20 người, thiệt hại tài sản 762,2 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí: giảm 35,48% số vụ tai nạn, giảm 40,82% số người chết và giảm 55,56% số người bị thương. Tính chung từ 15/12/2025 đến 15/02/2026, toàn tỉnh đã xảy ra 81 vụ tai nạn giao thông, làm chết 64 người, bị thương 33 người, thiệt hại tài sản 1.126,4 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, giảm 27,03% số vụ tai nạn, giảm 15,79% số người chết và giảm 58,23% số người bị thương. 9. Phương hướng, nhiệm vụ sau Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026 Một là, Tiếp tục tăng cường quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội sau Tết bảo đảm trang trọng, an toàn, đúng quy định; thực hiện nếp sống văn minh, không để xảy ra mê tín dị đoan, thương mại hóa lễ hội; gắn bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh với phát triển du lịch bền vững. Hai là, Tập trung chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương nhanh chóng ổn định tình hình, đảm bảo đưa các hoạt động sản xuất, kinh doanh, học tập và công tác trở lại bình thường; tiếp tục theo dõi, quản lý chặt chẽ tình hình thị trường, giá cả hàng hóa, dịch bệnh và trật tự an toàn xã hội. Ba là, Quán triệt và thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính ngay sau kỳ nghỉ Tết; tập trung quán triệt, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; chuẩn bị và tổ chức tốt công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 theo đúng quy định./. [1] Cây lúa: Chuột cắn phá tỷ lệ hại (TLH) 5-20%, diện tích nhiễm (DTN) 19 ha; ốc bươu vàng mật độ 5-7 con/m², DTN 12,5 ha; bọ trĩ TLH 3-10%, DTN 12,3 ha; bệnh vàng lá sinh lý TLH 5-30%, DTN 10 ha; sâu cuốn lá nhỏ TLH 6-14%, DTN 6,2 ha.Cây sắn: Khảm lá virus TLH 10-100%, DTN 3.280 ha; bọ phấn TLH 4-10%, DTN 02 ha; đốm nâu virus TLH 5-11%, DTN 01 ha.Cây ngô: Sâu keo mùa thu mật độ 2-8 con/m², DTN 11,5 ha.Cây mía: Bệnh đốm vàng TLH 7-80%, DTN 780 ha; sâu đục thân TLH 4-10%, DTN 76 ha.[2] Cây cà phê: Bệnh khô cành TLH 5-20%, DTN 44 ha; mọt đục cành TLH 4-14%, DTN 30,8 ha; rệp sáp TLH 6-20%, DTN 40,5 ha; bệnh gỉ sắt TLH 3-22%, DTN 16 ha; bọ cánh cứng ăn lá cà phê TLH 4-18%, DTN 18 ha; rệp vảy TLH 5-10%, DTN 07 ha; bệnh nấm hồng TLH 4-15%, DTN 06 ha; bệnh vàng lá thối rễ TLH 8-16%, DTN 05 ha.Cây hồ tiêu: Bệnh chết nhanh TLH 2-20%, DTN 135 ha; bệnh chết chậm TLH 3-10%, DTN 32,5 ha; bọ xít lưới TLH 5-20%, DTN 06 ha; rệp sáp TLH 5-16%, DTN 09 ha; bệnh đốm tảo TLH 5-16%, DTN 04 ha.Cây điều: Bệnh thán thư TLH 6-12%, DTN 15 ha; bọ xít muỗi TLH 5-15%, DTN 23 ha; bọ vòi voi TLH 5-12%, DTN 03 ha; sâu đục thân cành TLH 4-8%, DTN 02 ha.Cây cao su: Bệnh loét sọc mặt cạo TLH 4-15%, DTN 22 ha; bệnh khô miệng cạo TLH 4-15%, DTN 8 ha.Cây sầu riêng: Bệnh cháy lá chết đọt TLH 3-25%, DTN 85 ha; rầy bông TLH 3-12%, DTN 65 ha; rầy nhảy TLH 5-20%, DTN 58 ha; bệnh đốm rong TLH 5-15%, DTN 45 ha; nhện đỏ TLH 5-20%, DTN 56 ha; mọt đục cành TLH 3-15%, DTN 40 ha; bệnh chảy gôm TLH 3-11%, DTN 36 ha.[3]Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh làm chết và tiêu huỷ 297 con lợn, khối lượng tiêu huỷ 15.103 kg, tại 38 hộ, 19 thôn/buôn, 10 xã/phường mới (Krông Pắc, Ea Ktur, Dang Kang, Đức Bình, Ea Bá, Cư M'gar, Ea Phê, Đắk Liêng, Dliê Ya, Bình Kiến). Luỹ kế từ đầu năm đến nay phát sinh làm chết và tiêu huỷ 598 con lợn, tổng khối lượng tiêu huỷ 30.438 kg, tại 54 hộ, 33 thôn/buôn, 20 xã/phường.[4] Trong đó: 75 hợp tác xã; 88 doanh nghiệp và 208 hộ kinh doanh/cơ sở sản xuất; 01 tổ hợp tác.[5] Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp II chủ yếu có chỉ số tăng khá: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 35,5%, sản xuất đồ uống tăng 32,08%, sản xuất thiết bị điện tăng 29,47%;[6] Tổng trị giá trị hàng hóa dự trữ 1.018,37 tỷ đồng.[7] Kết quả kiểm tra, kiểm soát tính đến thời điểm báo cáo, cụ thể như sau: Tổng số vụ kiểm tra: 328 vụ, trong đó: Số vụ xử lý: 296 vụ; số hành vi vi phạm xử lý: 313 hành vi. Tổng số tiền thu nộp NSNN: 4.456.290.400 đồng; trong đó: Thu xử phạt vi phạm hành chính: 3.166.500.000 đồng; bán hàng hóa tịch thu: 1.289.765.400 đồng. Giá trị hàng hóa tịch thu: 1.082.610.000 đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy: 1.623.662.742 đồng.[8] Giá các phương tiện đi lại tăng 0,05%, tăng nhiều ở mặt hàng xe máy tăng 0,13%. Giá phụ tùng tăng 1,00% do chi phí sản xuất, chi phí nhập khẩu tăng. Giá dịch vụ khác đối với phương tiện vận tải cá nhân tăng 11,25%, tăng nhiều ở dịch vụ ngày Tết, dịch vụ trông giữ xe tăng 14,26%; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 3,83%; thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 2,97%. Dịch vụ giao thông công cộng tăng 8,09%, tăng ở các mặt hàng: giá vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 5,68%; giá vận tải đường hàng không tăng 21,07%... Giá bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,69%.[9] Bia chai tăng 1,13%, bia lon tăng 1,70%; nước khoáng tăng 1,56%, nước giải khát có gas tăng 0,76%, nước quả ép 1,29%, nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 1,35%.[10] Gạo tẻ ngon tăng 0,92%; gạo nếp tăng 2,02%; bột mì và ngũ cốc khác tăng 2,34%; lương thực chế biến tăng 1,31% do giá bánh mỳ tăng 0,60%, bún, bánh phở, bánh đa tăng 1,82%, mì sợi, mì, phở/ cháo ăn liền tăng 1,16%, miến tăng 1,32%, bột ngô tăng 1,14%, ngũ cốc ăn liền tăng 2,16%, ngũ cốc khác tăng 1,17%... [11] Giá thịt gia súc tăng 7,59%, giá thịt lợn tăng 8,96%, giá thịt bò tăng 3,93%, giá nội tạng động vật tăng 2,44%, giá thịt gia súc đông lạnh tăng 2,97%. Cá tươi, hoặc ướp lạnh tăng 1,91%; tôm tươi hoặc ướp lạnh tăng 2,86%; thuỷ hải sản tươi sống khác tăng 0,91%. Giá chuối tăng 8,04%; quả có múi giảm 3,26%, táo tăng 2,16%, xoài tăng 3,67%, quả tươi khác tăng 4,85%...[12] Vải các loại tăng 1,23%; quần áo may sẵn tăng 1,05%; may mặc khác tăng 1,61%; mũ nón tăng 0,83%; giày dép tăng 0,57%; dịch vụ may mặc tăng 3,14% do công may vá tăng dịp Tết; dịch vụ giày dép tăng 0,90%. [13] Đồ dùng nấu ăn tăng 0,53%; đồng hồ treo tường, để bàn, gương tăng 1,19%; đồ dùng kim loại tăng 1,72%; đồ nhựa, cao su tăng 0,63%; hàng thuỷ tinh, sành, sứ tăng 0,31%; hàng dệt trong nhà tăng 1,10%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,14%; vật phẩm tiêu dùng khác tăng 0,38%; giá sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,12%; dịch vụ gia đình tăng 0,18%.[14] Đối với người có công với cách mạng: 24.971 người, tổng số tiền: 9.988.400.000 đồng. Đối với đối tượng bảo trợ xã hội và hưu trí xã hội: 142.940 người, tổng số tiền: 57.176.000.000 đồng.[15]16 Đoàn công tác do Lãnh đạo tỉnh làm Trưởng Đoàn triển khai thăm, tặng quà cho 61 đơn vị và 30 người có công tiêu biểu, tổng kinh phí thực hiện là 456.000.000 đồng (trong đó tiền mặt 380.000.000 đồng, quà hiện vật là 76.000.000 đồng). Các xã, phường thăm, tặng quà: Tổng số đối tượng người có công được tặng quà: 34.277 người; tổng số tiền: 20.663.400.000 đồng. Quà do Bảo hiểm xã hội chi trả: Tổng số người hưởng lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội hàng tháng được tặng quà: 68.247 người, tổng số tiền: 34.123.500.000 đồng (quà tiền mặt: 500.000 đồng/người).[16]Trong đó: Kinh phí Trung ương hỗ trợ cho 32.277 hộ, 91.265 khẩu với 1.368,975 tấn gạo; kinh phí địa phương hỗ trợ cho 1.029 hộ, 3.814 khẩu với 57,885 tấn gạo.[17] Ghi nhận 212 ca mắc bệnh tay chân miệng; 274 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 09 ca mắc bệnh thuỷ đậu.[18] Đã triển khai 47 đoàn kiểm tra liên, tổng số cơ sở thực phẩm được kiểm tra là 1.226 cơ sở, số cơ sở đạt yêu cầu là 1.124 cơ sở, chiếm tỷ lệ 91,7%; số cơ sở vi phạm là 102 cơ sở, số cơ sở bị xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm là 10 cơ sở, hình thức phạt tiền với tổng số tiền phạt là 26,4 triệu đồng.

Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 01 năm 2026
  •   05/02/2026 13:19

Hoà chung với không khí cả nước chào mừng thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, chính quyền và nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã sôi nổi phát động phong trào thi đua lao động, sản xuất và công tác trên mọi lĩnh vực. Tinh thần chủ động, sáng tạo và đoàn kết được lan tỏa mạnh mẽ, trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống người dân. Nhiều công trình, sáng kiến và mô hình hiệu quả được triển khai đạt được những thành tích thiết thực chào mừng sự kiện trọng đại của đất nước. Thực hiện Chỉ thị số 55-CT-TW ngày 22/12/2025 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026; Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 01/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh trước Tết Nguyên Đán Bính Ngọ diễn biến sôi động. Chỉ số sản xuất công nghiệp; tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng cao do nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Các hoạt động mua sắm chuẩn bị Tết của người dân diễn ra sôi nổi, hàng hóa dồi dào, phong phú, sức mua của người dân tăng. Nhiều lễ hội văn hoá, thể thao và du lịch được tổ chức với không khí vui tươi, chào mừng thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Khách du lịch đến với tỉnh tiếp tục tăng cao. Các hoạt động an sinh xã hội được triển khai kịp thời, hiệu quả, an ninh trật tự xã hội được đảm bảo, quốc phòng được giữ vững. Tuy nhiên, sản xuất vụ Đông Xuân 2025-2026 còn chậm tiến độ so với cùng kỳ; dịch bệnh trên gia súc, gia cầm vẫn còn xảy ra ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh; số người chết do tai nạn giao thông tăng so với cùng kỳ năm trước.  1.    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 01 năm 2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho công tác gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân năm 2026; chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát; Hoạt động lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Ngay từ đầu năm, các địa phương và ngành chức năng trong tỉnh đã bám sát tình hình, chỉ đạo bà con nông dân ổn định sản xuất, giám sát chặt chẽ tình hình sâu bệnh, dịch bệnh; chủ động gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân năm 2026; chuẩn bị lương thực, thực phẩm cung cấp cho thị trường trong dịp Tết Nguyên Đán sắp tới. 1.1. Sản xuất cây hàng năm Tính đến ngày 20/01/2026, ước tính toàn tỉnh đã gieo cấy được 73.101 ha lúa vụ Đông xuân 2025-2026, giảm 2,47% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng đợt lũ lụt cuối tháng 11/2025, một số địa phương ở phía đông có tiến độ gieo trồng chậm. Cây hàng năm khác: Cùng với việc gieo cấy lúa Đông xuân, các địa phương trên toàn tỉnh đã gieo trồng ngô được 4.625 ha, tăng 0,76%; khoai lang 1.140 ha, tăng 0,88%; đậu tương 19 ha, tăng 2,15%; lạc 280 ha, tăng 0,72%; rau các loại 4.445 ha, tăng 1,02%; đậu các loại 1.158 ha, tăng 1,22% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh việc chăm sóc các cây trồng cạn, bà con nông dân tập trung chăm sóc hoa, cây cảnh để kịp phục vụ Tết Nguyên Đán (Bính Ngọ 2026). Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng[1]. Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường. 1.2. Cây lâu năm Hiện nay các địa phương đang tập trung chăm sóc vườn cây như: tỉa cành, tạo tán để vườn thông thoáng, giảm nơi cư trú của rệp sáp; vệ sinh vườn, dọn cỏ dại, bón phân cân đối để cây khỏe mạnh và phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Diện tích một số cây trồng chính như sau: Cà phê 217.026 ha, cao su 33.782 ha, tiêu 28.804 ha, điều 26.409 ha, sầu riêng 41.828 ha. Tình hình sâu bệnh trên cây lâu năm: Hiện nay, thời tiết đang là mùa khô hanh, sâu bệnh tập trung vào các đối tượng chích hút và bệnh nấm do thiếu nước hoặc chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn. Các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh, cụ thể dịch bệnh đã xảy ra trên từng loại cây trồng[2]. 1.3. Công tác chăn nuôi, thú y Chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và nỗ lực đảm bảo nguồn cung thực phẩm, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên Đán. Tỉnh tiếp tục định hướng phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại tập trung, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tình hình chăn nuôi trong tháng 01/2026 như sau: Ước số lượng đàn trâu có 30.357 con, giảm 1,31%; đàn bò hiện có 402.039 con, giảm 0,83% (trong đó, đàn bò sữa có 4.642 con, tăng 3,29%); đàn lợn thịt hiện có 1.067.852 con, tăng 3,48%; đàn gia cầm hiện có 20.818 nghìn con, tăng 1,03% (trong đó, đàn gà khoảng 18.023 nghìn con, tăng 1,09%) so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh đến nay vẫn ổn định, dịch bệnh chỉ xảy ra rải rác ở một vài nơi, diễn biến bệnh vẫn đang được kiểm soát[3]. Tuy vậy, các ngành, các cấp có liên quan vẫn tích cực chỉ đạo chính quyền địa phương và nhân dân thực hiện tốt công tác giám sát nhằm phát hiện, điều trị và xử lý kịp thời, tránh để dịch bệnh lây lan; tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân, tăng cường công tác phòng chống dịch ở các chốt kiểm dịch đầu mối ra vào tỉnh và công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn tỉnh. Sau những ảnh hưởng nặng nề của bão lũ vào cuối năm 2025, các doanh nghiệp và cơ quan chức năng của tỉnh đã và đang hỗ trợ người dân về con giống, thức ăn, vắc xin phòng chống dịch bệnh để khôi phục sản xuất, nhằm duy trì được nguồn thực phẩm phục vụ nhu cầu của thị trường. Công tác kiểm dịch: Trong tháng 01/2026, Chi cục Thú y đã kiểm dịch xuất tỉnh được 1.059.920 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Bò 5.860 con, heo 80.895 con, gà 961.178 con, vịt và ngan 11.987 con. Kiểm dịch nhập tỉnh tháng 01/2026 được 1.403.736 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Trâu 2 con, bò 1.059 con, heo 42.201 con, gà 926.159 con, vịt và ngan 434.315 con; thịt trâu bò 1.613 kg, thịt gia cầm 23.696 kg, thịt heo 16.869 kg. 1.4. Lâm nghiệp Công tác quản lý, bảo vệ, PCCC rừng được các ngành chức năng, các địa phương và các chủ rừng chú trọng thực hiện. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép vẫn còn xảy ra. Khai thác lâm sản: Trong tháng 01/2026, sản lượng gỗ toàn tỉnh khai thác ước đạt 25.651 m3, tăng 0,85% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu gỗ nguyên liệu giấy. Phát triển rừng: Các công ty lâm nghiệp và các đơn vị đã và đang tiến hành làm đất, giống để chuẩn bị cho kế hoạch công tác đăng ký trồng rừng năm 2026. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang nghiệm thu kết quả trồng cây phân tán năm 2025 trên địa bàn tỉnh từ nguồn chi trả Dịch vụ môi trường. Quản lý bảo vệ rừng: UBND tỉnh đã chỉ đạo cho các ngành chức năng phải thường xuyên tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các chủ rừng, đơn vị triển khai công tác PCCCR và tổ chức triển khai công tác phòng chống chặt phá rừng tại các địa phương, đơn vị; đảm bảo công tác trực 24/24 giờ, cảnh báo và xử lý kịp thời tình huống xảy ra phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép... Trong tháng 01/2026, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 83 vụ (54 vụ phá rừng trái pháp luật, 01 vụ khai thác rừng trái pháp luật, 12 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 10 vụ tàng trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến lâm sản trái pháp luật, 04 vụ vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng, 02 vụ vi phạm quy định về quản lý hồ sơ lâm sản trong vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản), lâm sản tịch thu 11,136 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 17 chiếc các loại, tổng các khoản tiền thu và nộp ngân sách 56,750 triệu đồng.  1.5. Thủy sản Tỉnh đang cơ cấu lại ngành thủy sản theo hướng bền vững và hiện đại; tập trung vào phòng ngừa dịch bệnh và tái tạo nguồn lợi tự nhiên. Trọng tâm là quy hoạch lại vùng nuôi trồng gắn với bảo vệ môi trường, chuyển đổi phương thức hoạt động từ khai thác tận diệt sang khai thác và nuôi trồng bền vững.  Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 01/2026, ước đạt 4.583,83 tấn, tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: + Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng 01/2026 ước đạt 4.291,5 tấn, tăng 1,61% so với cùng kỳ, chia ra: Cá các loại 3.780 tấn, tăng 1,44%, (trong đó: Cá ngừ đại dương 240 tấn, tăng 3,45%, chiếm 6,4% trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển); tôm 26,5 tấn, tăng 1,92%; thủy sản khác 485 tấn, tăng 2,97%. + Sản lượng thủy sản khai thác nội địa tháng 01/2026 ước đạt 50,3 tấn, tăng 2,67% so với cùng kỳ năm trước. + Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 01/2026 ước đạt 242,03 tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 153 tấn, tăng 4,06%; tôm 86,26 tấn, tăng 2,39%; thủy sản khác 2,77 tấn, tăng 8,2%. 1.6. Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) Các ngành và các địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương trình xây dựng NTM; chú trọng nâng cao chất lượng các tiêu chí và chất lượng thực hiện chương trình, tập trung hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận xã đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao. Tính đến nay, toàn tỉnh Đắk Lắk (mới) có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới (tỉnh Đắk Lắk cũ 13/61 xã, tỉnh Phú Yên cũ 13/27 xã). Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới 29,55% (tỉnh Đắk Lắk cũ: 21,3%, tỉnh Phú Yên cũ: 48,1%). Trong đó, có 04/26 xã đạt nông thôn mới nâng cao, đạt 15,38%; không có xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 764 sản phẩm OCOP (gồm: 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao, 10 sản phẩm tiềm năng 4 sao và 656 sản phẩm đạt 3 sao, 43 sản phẩm hết hạn; 2 sản phẩm bị thu hồi) của 372 chủ thể[4]2. Sản xuất công nghiệpHoạt động sản xuất công nghiệp của tỉnh trong tháng 01/2026 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định (+15,86% so với cùng kỳ năm trước). Các doanh nghiệp đã chủ động huy động nguồn lực, tăng công suất và mở rộng thị trường tiêu thụ để đáp ứng nhu cầu dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026, Qua đó, sản lượng nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo như cá ngừ đóng hộp, hạt điều khô, cà phê, bia đóng chai, quần áo… có mức tăng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 01/2026 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 15,86% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 23,56% so với cùng kỳ năm trước là do các doanh nghiệp khai thác đá tăng công suất hoạt động nhằm phục vụ các công trình xây dựng, trong đó sản phẩm đá xây dựng khác đạt 154,5 nghìn m3, tăng 15,70%. Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,83%, chỉ số này tăng ở hầu hết các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 42,57%, đá lát lề đường đạt 38.811m2, tăng 66,44%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 29,15%, dăm gỗ đạt 12.550 tấn, tăng 27,05%; sản xuất đồ uống tăng 18,57%, bia đóng chai đạt 6,8 triệu lít, tăng 18,86%; sản xuất thiết bị điện tăng 15,87%, cuộn cảm dùng cho bộ nguồn cấp điện đạt 55,7 triệu chiếc, tăng 15,87%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,94%, trong đó cá ngừ đóng hộp đạt 752 tấn, tăng 53,16%, hạt điều khô đạt 10.753,9 tấn, tăng 2,77%, cà phê bột các loại đạt 4.384,1 tấn, tăng 25,39%; sản xuất trang phục tăng 12,22%; riêng ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 21,42% đã tác động làm giảm chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01/2026.  Chỉ số ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt trong tăng 16,42% so với cùng kỳ năm trước, điện sản xuất đạt 918,4 triệu kWh, tăng 19,93% và điện thương phẩm đạt 279,5 triệu kWh, tăng 6,48%. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng nhẹ 2,14%, nước uống được đạt 4.618,3 nghìn m3, tăng 2,06% và dịch vụ thu gom xử lý rác thải đạt 12,3 tỷ đồng, tăng 5,89%. 3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Tỉnh tiếp tục đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo; bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển. Trong tháng 01/2026, dự ước có 350 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 1.600 tỷ đồng (gấp 2,4 lần về số doanh nghiệp nhưng giảm 85,04% về số vốn so với cùng kỳ năm trước), 220 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 19,57%). Bên cạnh đó, có 70 doanh nghiệp giải thể (gấp 2,4 lần) và 700 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 0,43%). Nhìn chung, khu vực doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng 01 có nhiều biến động; mặc dù số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng, song số doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng kinh doanh vẫn ở mức cao, cho thấy môi trường sản xuất, kinh doanh vẫn tiềm ẩn nhiều thách thức, đòi hỏi các cấp, ngành tiếp tục theo dõi sát tình hình, triển khai đồng bộ và kịp thời các giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp ổn định hoạt động và phát triển bền vững trong thời gian tới. 4. Đầu tư Công tác đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung chỉ đạo quyết liệt; tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị, chủ đầu tư khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn nhằm phấn đấu hoàn thành giải ngân 100% kế hoạch năm 2026. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 01/2026 ước đạt 655,1 tỷ đồng, giảm 39,86% so với tháng trước, tăng 4,00% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn cấp tỉnh ước đạt 641,9 tỷ đồng, chiếm 97,99% tổng nguồn vốn, giảm 40,06% so với tháng trước và tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước; chủ yếu là tăng ở nguồn vốn nước ngoài (ODA) và Vốn cân đối ngân sách tỉnh, trong đó Thu từ quỹ sử dụng đất tăng cao; nguồn vốn cấp xã thực hiện ước đạt 13,2 tỷ đồng, giảm 28,80% so tháng trước và giảm 20,72% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến hết ngày 22/01/2026 vốn đầu tư công năm 2026 đã giải ngân 473,711 tỷ đồng, tương đương khoảng 2,97%. Một số công trình, dự án có tiến độ và giá trị thực hiện lớn tiếp tục được đầu tư trong tháng 01/2026 như: Dự án thành phần 3 (Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Buôn Ma Thuột – Khánh Hoà) ước đạt 122.400 triệu đồng; Đầu tư xây dựng bệnh viện sản nhi ước đạt 25.000 triệu đồng; Nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho các tỉnh bị hạn hán 21.000 triệu đồng; Hồ Suối Cái 21.000 triệu đồng; Xây dựng Hệ thống chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến 2030 ước đạt 19.250 triệu đồng; Nâng cấp Khoa Ung bướu thành Trung tâm Ung Bướu thuộc Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên ước đạt 15.880 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc Cầu An Hải ước đạt 13.500 triệu đồng; Đường Đông Tây thành phố Buôn Ma Thuột (giai đoạn 2) ước đạt 12.380 triệu đồng; Kè chống sạt lở bờ tả Sông Ba kết hợp phát triển hạ tầng đô thị đoạn qua thôn Vĩnh Phú ước đạt 10.000 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển tỉnh Phú Yên, đoạn kết nối huyện Tuy An - thành phố Tuy Hòa (giai đoạn 1) ước đạt 10.000 triệu đồng;... + Về kế hoạch đầu tư công năm 2026: Thực hiện Nghị quyết số 55/NQ-HĐND và Nghị quyết số 56/NQ-HĐND ngày 24/12/2025 của HĐND tỉnh, UBND đã giao 10.469,316 tỷ đồng; trong đó đã phân bổ chi tiết 9.016,346 tỷ đồng để triển khai các nhiệm vụ, dự án. Hiện các đơn vị đang hoàn thiện thủ tục để tổ chức thực hiện và giải ngân theo quy định. + Về tình hình triển khai thực hiện các dự án Trung ương đầu tư trên địa bàn tỉnh: Hiện nay, tỉnh đang khẩn trương giải quyết các tồn tại và khắc phục các thiệt hại do mưa lũ gây ra trong quá trình thi công Dự án đầu tư xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025, đoạn qua địa bàn tỉnh; đến nay, khối lượng thi công đạt khoảng 96,8% giá trị hợp đồng. Đối với Dự án thành phần 3 thuộc Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột giai đoạn 1, khối lượng thi công dự án đến nay đạt 90,9%; tỉnh đang tập trung chỉ đạo hoàn thiện các hạng mục còn lại để bảo đảm tiến độ theo kế hoạch. Đối với Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đoạn qua địa bàn tỉnh, hiện tỉnh đang triển khai các thủ tục thành lập Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng nhằm tăng cường chỉ đạo, điều phối, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời giữa các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị của địa phương với các Bộ, ngành Trung ương và các đơn vị liên quan trong việc giải quyết các thủ tục, tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bàn giao mặt bằng phục vụ thi công dự án; đồng thời, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh, tạo điều kiện thuận lợi nhất để Chủ đầu tư triển khai dự án, đáp ứng tiến độ theo yêu cầu của Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, tỉnh đang thực hiện điều chỉnh Chủ đầu tư thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phục vụ dự án; theo đó, các đơn vị được giao nhiệm vụ gồm: Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng Tuy An và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng Tuy Hòa. + Về thu hút đầu tư: Tỉnh đã ban hành chương trình hành động số 02/CTr-UBND ngày 16/01/2026 thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026, nhằm tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, thông thoáng, cạnh tranh lành mạnh, góp phần thúc đẩy hoạt động thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 03 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 842 tỷ đồng; đồng thời, điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 03 dự án. 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Tài chính: Ngay từ đầu năm, tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai nhiều giải pháp trọng tâm điều hành công tác thu ngân sách nhà nước. Chi ngân sách vẫn đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước; đảm bảo an sinh xã hội. - Thu ngân sách nhà nước: Tính đến hết ngày 31/01, tổng thu NSNN đạt 2.647.641 triệu đồng, đạt 15,47% dự toán TW và đạt 14,953% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 22,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thu nội địa ước đạt 1.945.321 triệu đồng, đạt 17,58% dự toán TW và đạt 17,58% dự toán HĐND tỉnh, tăng 35,55%, trong đó thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.068.047 triệu đồng, đạt 22,11% dự toán TW và đạt 22,11% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 43,63%. Thu xổ số kiến thiết ước đạt 68.594 triệu đồng, đạt 17,15% dự toán TW giao và đạt 17,15% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 12,04%. Thu tiền sử dụng đất đạt 622.622 triệu đồng, đạt 11,32% dự toán TW và đạt 10,22% dự toán HĐND, giảm 5,41%. Thu xuất, nhập khẩu đạt 11.104 triệu đồng, đạt 7,5% dự toán TW và đạt 7,50% dự toán HĐND, tăng 15,71% so với cùng kỳ. - Chi ngân sách nhà nước: Tính đến hết 31/01, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 1.672.252 triệu đồng, đạt 4,18% dự toán TW giao và đạt 4,05% dự toán HĐND tỉnh giao, giảm 59,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Chi thường xuyên đạt 1.671.252 triệu đồng, đạt 5,55% dự toán TW giao và đạt 5,55% dự toán HĐND giao, giảm 46,49%. Chi đầu tư phát triển chưa phát sinh trong kỳ báo cáo. Ngân hàng: Ước tính đến ngày 31/01/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 169.000 tỷ đồng, tăng 1% so với đầu năm; dư nợ cho vay ước đạt 263.100 tỷ đồng, tăng 1% so với đầu năm; nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng 0,98% trên tổng dư nợ, duy trì trong ngưỡng an toàn. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Trung ương. Ước tính đến ngày 31/01/2026, dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 14.464 tỷ đồng, với 326.146 khách hàng còn dư nợ. Công tác bảo hiểm: Ước tính đến hết tháng 01 năm 2026, toàn tỉnh có 2.474.000 người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, đạt 92,86% kế hoạch, tăng 1,06% so với cùng kỳ. Tổng số tiền thu được là 600 tỷ đồng (đạt 7,43% kế hoạch, giảm 33,36% so với cùng kỳ); tổng số tiền chi là 722,82 tỷ đồng (đạt 5,69% kế hoạch, tăng 11,84% so với cùng kỳ); tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN là 432 tỷ đồng. 6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch 6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng  Nhu cầu sản xuất hàng hóa và dịch vụ chuẩn bị cho Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026 tăng chính là nguyên nhân làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong kỳ tăng khá cao (+12,88%), trong đó nổi bật là ngành dịch vụ lữ hành (+153,63%). Thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh trước Tết Nguyên Đán rất phong phú, nhộn nhịp, sức mua, bán, trao đổi hàng hóa chuẩn bị đón Tết của người diễn ra sôi động và tăng từ 10-15% so với cùng kỳ năm trước. Người dân đi mua sắm tại các chợ lớn và các khu Trung tâm thương mại ngày càng đông, thương mại điện tử ngày càng phát triển và có giá trị lớn; nguồn cung hàng hóa phục vụ Tết được đảm bảo, mặt bằng giá cơ bản ổn định, nhu cầu người dân tăng khá trong dịp Tết Nguyên Đán.Hình 11. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01 giai đoạn 2022-2026 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2026 ước đạt gần 17.969 tỷ đồng, tăng 5,75% so với tháng trước và tăng 12,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.021,8 tỷ đồng, tăng 4,96% so với tháng trước và tăng 12,86% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 83,60% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2026. Một số mặt hàng bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 82,47%; phương tiện đi lại tăng 14,74%; ô tô các loại tăng 32,46%... Một số mặt hàng có mức tăng thấp hơn mức tăng chung như: Hàng may mặc tăng 3,17%; hàng hoá khác tăng 9,85%;…Các mặt hàng này đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.889,7 tỷ đồng, tăng 10,48% so với tháng trước, tăng 12,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 209,9 tỷ đồng, tăng 12,75% và tăng 16,15%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 1679.8 tỷ đồng, tăng 10,20% và tăng 12,37%. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 8,7 tỷ đồng, tăng 3,50% so với tháng trước và tăng 153,63% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.048,8 tỷ đồng, tăng 9,0% so với tháng trước và tăng 12,85% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nhóm, ngành hàng thì dịch vụ thì tăng trưởng cao nhất là ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 20,70%; dịch vụ sửa chữa máy tính và đồ dùng cá nhân tăng 18,13%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 14,30%...Một số ngành có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí chỉ tăng 3,07%, dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 4,35% so với cùng kỳ năm trước… Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 524.356 lượt khách tăng 3,23% so với tháng trước, tăng 14,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lượt khách ngủ qua đêm là 380.688 lượt khách tăng 4,48% và tăng 11,90%; lượt khách trong ngày là 370.636 lượt, tăng 4,22% và tăng 11,81%. Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour trong tháng là 1.405 lượt, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 281,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khách đi trong nước là 1.267 lượt, tăng 1,60% và tăng 308,71%. 6.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất khẩu tiếp tục được quan tâm, các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết. Trong tháng 01/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 301 triệu USD, tăng 12,49% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 145 triệu USD, tăng 66,17% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu tháng 01/2026 của tỉnh ước đạt 223 triệu USD, đạt 7,63% so với KH, tăng 25,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cà phê đạt 15.000 tấn, tăng 1,24% so với cùng kỳ năm trước; hồ tiêu đạt 3.200 tấn, tăng 38,47%, điều 3.800 tấn, tăng 1,41%; cao su 600 tấn, giảm 40,36%; hàng rau quả 58 triệu USD, tăng 167,77%, hải sản 11,4 triệu USD, linh kiện điện tử 2,5 triệu USD... Các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết. Hoạt động xuất khẩu vẫn đang trên đà tăng trưởng; bên cạnh đó, một số mặt hàng giảm nhẹ do bắt đầu vào niên vụ mới nên nguồn cung dự trữ chuyển qua không còn nhiều. Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu tháng 01/2026 ước đạt 78 triệu USD, đạt 9% so với KH, giảm 13,49% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.6.3. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la MỹChỉ số giá tiêu dùng tháng 01/2026 có xu hướng giảm so với tháng 12/2025. Giá lương thực, thực phẩm các loại rau, củ, quả giảm. Giá xăng dầu giảm theo giá thế giới. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 01/2026 giảm 0,19% so với tháng trước; tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước; so với tháng 12 năm trước giảm 0,19%. Chỉ số giá bình quân 01 tháng năm 2026 tăng 3,14%.Trong tháng 01/2026, so với tháng trước có 08/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất là Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,97% do nhu cầu mua sắm chuẩn bị Tết tăng[5]. Tiếp đến là nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,60% chủ yếu do hàng thuỷ tinh, sành, sứ tăng 2,67%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 1,17%...[6]. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,57% do chủ yếu do dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 1,53%; giá gas tăng 6,08% theo giá thế giới. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,54% là do nhu cầu tăng cụ thể: thuốc lá tăng 0,54%; bia chai tăng 1,01%; rượu mạnh tăng 1,0%...Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,48%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,16% chủ yếu do hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 1,5%, du lịch trọn gói tăng 0,29%... Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% do giá một số loại thuốc tăng nhẹ. Nhóm giáo dục tăng 0,01%. Ở chiều ngược lại có 03/11 nhóm hàng giảm giá, trong đó giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm 2,15% (làm cho CPI chung giảm 0,22 điểm phần trăm) giá nhiên liệu giảm 5,28% trong đó xăng giảm 5,53% theo giá thế giới…[7]Tiếp đến là nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,38% chủ yếu ở các mặt hàng như: Dịch vụ viễn thông giảm 0,15%; thiết bị thông tin và truyền thông giảm 0,69[8]. Nhóm là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,36% (CPI chung giảm 0,12 điểm phần trăm), trong đó cả 2/3 mặt hàng chính đều tăng: Lương thực giảm 0,18%[9], thực phẩm giảm 0,91% đặc biệt là nhóm rau, củ, quả giảm mạnh do cung lớn hơn cầu[10]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,78%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 01 tháng năm 2026 tăng 3,14%. Có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó: tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 11,91%; nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,04% (dịch vụ y tế tăng 1,01%) là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng…; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,58% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, Tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng, một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng, các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92% (trong đó: thực phẩm tăng 3,47%, ăn uống ngoài gia đình tăng 4,57%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,66% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, Tết; tương tự, nhóm May mặc, giày dép và mũ nón tăng 2,63%; nhóm giáo dục tăng 3,59% (trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,90%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,87%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,16%. Ở một diễn biến khác, toàn tỉnh có 02/11 nhóm hàng giảm, trong đó giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm 2,12%, tiếp đó là nhóm thông tin truyền thông giảm 0,85% đã tác động tích cực đến chỉ số giá bình quân 01 tháng năm 2026. Chỉ số giá vàng tháng 01/2026 tăng 4,53% so với tháng trước, bình quân 01 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 79,72% là do giá vàng tăng theo giá thế giới. Chỉ số giá Đô la Mỹ giảm 0,09% so với tháng trước, bình quân 01 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 3,35%. Sức mua của những mặt hàng này ở mức bình thường. 6.4. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động ngành vận tải, kho bãi tháng 01/2026 tiếp tục tăng trưởng, nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa cho sản xuất và xuất khẩu trước Tết Nguyên Đán tăng mạnh. Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát tháng 01/2026 ước đạt 878,8 tỷ đồng, tăng 7,77% so với tháng trước, tăng 10,47% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách đạt 226,4 tỷ đồng, tăng 3,95% và tăng 11,32%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 545,6 tỷ đồng, tăng 10,81% và tăng 7,32%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 61,6 tỷ đồng tăng 1,0% và tăng 34,43%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt 45,2 tỷ đồng, tăng 1,99% so tháng trước và tăng 19,20% so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển và luân chuyển hành khách trong tháng 01/2026 ước đạt 2.076 nghìn lượt khách và 286 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng 8,21% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 1,35%; so với cùng kỳ năm trước tăng 11,67% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 15,72%.  Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.535 nghìn tấn và 461 triệu tấn.km, so với tháng trước tăng 0,54% về khối lượng vận chuyển và tăng 0,70% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 17,75% về khối lượng vận chuyển và tăng 12,19% về khối lượng luân chuyển. 7. Chuyển đổi số Công tác chuyển đổi số được quan tâm, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Xây dựng kế hoạch Chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030; kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo UBND tỉnh về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06; dự thảo Quyết định Ban hành Bộ chỉ số đánh giá Chuyển đổi số của các sở, ban, ngành, UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Triển khai Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 55 năm 2026 trên địa bàn tỉnh; Cấp phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến đối với thiết bị đặt trên phương tiện nghề cá. Xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể các phần mềm đã đầu tư thuộc dự án “Xây dựng hạ tầng chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 định hướng đến năm 2030”. 8. Một số vấn đề xã hội 8.1. An sinh xã hội Việc thực hiện chính sách đối với người có công và an sinh xã hội trong dịp Tết Nguyên Đán được triển khai kịp thời; hoàn thành “Chiến dịch Quang Trung” xây dựng mới, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân bị thiệt hại do bão, lũ, đến nay đã sửa chữa xong 892/892 nhà hư hỏng nặng và xây dựng hoàn thành 606/606 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi, đạt 100% kế hoạch,... 8.2. Lao động việc làm Hoạt động kết nối cung - cầu lao động tiếp tục được tăng cường. Trong tháng 01/2026, đã tư vấn việc làm cho 7.668 lượt người; tư vấn học nghề cho 1.051 lượt người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp; tư vấn xuất khẩu lao động cho 145 lượt người; giới thiệu việc làm cho 168 lượt người, trong đó có 37 người có việc làm sau khi được giới thiệu; số lao động xuất cảnh là 23 người. 8.3. Hoạt động văn hóa, thể thao Văn hóa: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ diễn ra sôi nổi phục vụ các ngày lễ của đất nước, sự kiện của tỉnh: Tổ chức Cuộc thi sáng tác biểu trưng (Logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk; tổ chức Chương trình nghệ thuật kích cầu du lịch và Chào năm mới 2026 với Chủ đề: “Rạng rỡ Đắk Lắk - Chào năm mới 2026”. Bên cạnh đó, công tác văn hóa tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, tập trung chuẩn bị tốt các điều kiện để Nhân dân vui Xuân, đón Tết Bính Ngọ 2026 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm theo Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 13/01/2026 của UBND tỉnh. Thể thao: Tỉnh tổ chức thành công Giải bóng đá 7 người trong Chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, năm 2025–2026 với 16 đội tham gia; đồng thời tổ chức Giải chạy “New Year Run 2026 – Bước chạy vì trẻ em” tại Quảng trường Nghinh Phong và ban hành kế hoạch phối hợp tổ chức giải Việt dã trong khuôn khổ Đại hội. Toàn tỉnh hiện tập trung đào tạo, huấn luyện và thi đấu 19 môn với 479 vận động viên; trong đó có 100 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia (42 Kiện tướng, 58 cấp I). 8.4. Giáo dục - Đào tạo Các cơ sở giáo dục duy trì việc tổ chức dạy và học theo kế hoạch; tổ chức sơ kết học kỳ I, triển khai nhiệm vụ học kỳ II năm học 2025-2026; giáo dục mũi nhọn tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực (kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025 - 2026, Đắk Lắk có 114 học sinh đạt giải với 03 giải Nhất, 21 giải Nhì, 34 giải Ba và 56 giải Khuyến khích) 8.5. Công tác Y tế Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tỉnh quan tâm thực hiện, các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân; trong tháng, tổng số lượt khám chữa bệnh toàn tỉnh là 385.173 lượt, nội trú 38.960 lượt, ngoại trú 12.679. lượt, chuyển viện (nội trú) 1.981 trường hợp. Tăng cường công tác giám sát, theo dõi tình hình, báo cáo và xử lý dịch bệnh. Trong tháng 01/2026, toàn tỉnh ghi nhận 116 số ca mắc bệnh tay chân miệng; 159 số ca mắc bệnh sốt xuất huyết, không có ca tử vong. Tiếp tục triển khai Chương trình tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin dự kiến đến cuối tháng 01/2026 đạt 8,6%. Công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm được thực hiện thường xuyên, đã thẩm định điều kiện ATTP tại 107 cơ sở thực phẩm. Trong tháng không xảy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm. 8.6. Tình hình vi phạm môi trường Từ ngày 26/12/2025 đến ngày 25/01/2026 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 31 vụ vi phạm môi trường, xử lý 18 vụ với số tiền xử phạt 327,5 triệu đồng; So với tháng trước, số vụ vi phạm môi trường gấp 15,5 lần (tăng 29 vụ), số vụ vi phạm đã xử lý gấp 4,5 lần (tăng 14 vụ), số tiền xử phạt gấp 2,8 lần. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 82,35% (tăng 14 vụ), số vụ vi phạm đã xử lý tăng 50% (tăng 6 vụ), số tiền xử phạt tăng 2,91%. 8.7. Tình hình thiên tai Từ ngày 25/12/2025 đến ngày 25/01/2026, toàn tỉnh không xảy ra thiên tai. 8.8. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh tiếp tục được giữ vững, ổn định; các lực lượng chức năng chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, xử lý các vụ việc phát sinh, không để hình thành “điểm nóng”. Công tác phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy được tăng cường, đặc biệt trong đợt cao điểm bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ Tết Dương lịch, Tết Nguyên Đán và các Lễ hội Xuân năm 2026, góp phần bảo đảm an ninh, an toàn cho Nhân dân và phát triển kinh tế – xã hội. Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026 toàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, làm 04 người chết và 01 người bị thương, thiệt hại tài sản ước tính khoảng 520 triệu đồng. Tháng trước và tháng cùng kỳ năm trước không xảy ra cháy, nổ. Tình hình tai nạn giao thông: Từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, toàn tỉnh đã xảy ra 41 vụ tai nạn giao thông, làm chết 35 người, bị thương 13 người, thiệt hại tài sản 364,2 triệu đồng. So với tháng trước, giảm 10,87% số vụ tai nạn, tăng 9,38% số người chết và giảm 43,48% số người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, giảm 16,33% số vụ tai nạn, tăng 29,63% số người chết và giảm 61,76% số người bị thương./. [1] Cây Lúa: Bọ trĩ tỷ lệ hại (TLH) 3-10%, diện tích nhiễm (DTN) 15 ha ốc bươu vàng mật độ 2-5 con/m2, DTN 13 ha; chuột TLH 10-20%, DTN 07 ha.Cây sắn: Khảm lá virus TLH 10-100%, DTN 4.505 ha; bọ phấn TLH 4-10%, DTN 03 ha; đốm nâu virus TLH 6-10%, DTN 02 ha.Cây ngô: Sâu keo mùa thu TLH 2-8 con/m2, DTN 09 ha.Cây mía: Bệnh đốm vàng TLH 7-80%, DTN 480 ha; sâu đục thân TLH 4-9%, DTN 66 ha; rệp sáp TLH 3-6%, DTN 02 ha.[2] Cây cà phê: Bệnh khô cành TLH 4-20%, DTN 43 ha; mọt đục cành TLH 4-14%, DTN 38 ha; bệnh gỉ sắt TLH 3-21%, DTN 26 ha; bọ cánh cứng ăn lá cà phê TLH 4-18%, DTN 25 ha; bệnh nấm hồng TLH 4-15%, DTN 08 ha; rệp sáp TLH 4-17%, DTN 06 ha; rệp vảy TLH 4-12%, DTN 03 ha; bệnh thán thư TLH 4-8%, DTN 05 ha.Cây hồ tiêu: Bệnh chết nhanh TLH 2-15%, DTN 136 ha; bệnh chết chậm TLH 3-10%, DTN 23 ha bọ xít lưới TLH 5-20%, DTN 17 ha; bệnh đốm tảo TLH 6-20%, DTN 05 ha.Cây điều: Bệnh thán thư TLH 3-12%, DTN 12 ha; bọ xít muỗi TLH 5-15%, DTN 09 ha; bọ vòi voi TLH 5-12%, DTN 03 ha; sâu đục thân cành TLH 4-8%, DTN 01 ha; bệnh đốm tảo TLH 4-20%, DTN 01 ha.Cây cao su: Bệnh loét sọc mặt cạo TLH 4-15%, DTN 11 ha; bệnh khô miệng cạo TLH 3-9% DTN 10 ha. Cây sầu riêng: Bệnh cháy lá chết đọt tỷ lệ hại 3-30% diện tích nhiễm 88 ha; rầy bông (rầy phấn, tua trắng) TLH 3-12%, DTN 66 ha; rầy nhảy TLH 5-20%, DTN 63 ha; bệnh đốm rong (tảo) TLH 5-15%, DTN 50 ha; mọt đục cành TLH 3-10%, DTN 35 ha; bệnh chảy gôm TLH 3-11%, DTN 37 ha; nhện đỏ TLH 5-15%, DTN 35 ha.[3] Bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh và tiêu huỷ 301 con, khối lượng tiêu huỷ 15.335 kg, tại 16 hộ, 14 thôn/buôn, 10 xã/phường: Quảng Phú , Phú Xuân, Tây Hoà, M'Droh, Tuy Hòa, Phú hòa 1, Ea Tul, Phú Hòa 2, Tam Giang, Dray Bhăng.[4] Trong đó: 75 hợp tác xã; 88 doanh nghiệp và 208 hộ kinh doanh/cơ sở sản xuất; 01 tổ hợp tác.[5] Vải các loại tăng 1,02%; quần áo may sẵn tăng 0,96%; may mặc khác tăng 1,94%; mũ nón tăng 0,27%; giày dép tăng 0,78%; dịch vụ may mặc tăng 1,77%.[6] Tủ lạnh tăng 0,06%; thiết bị khác tăng 0,1%; đồ điện tăng 0,04%; đồ dùng nấu ăn tăng 0,22%; đồng hồ treo tường, để bàn, gương tăng 0,15%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,12%; đồ dùng kim loại tăng 0,81%; đồ nhựa, cao su tăng 0,93%.[7] Giá các phương tiện đi lại giảm 0,06%, giảm nhiều ở mặt hàng ô tô đã qua sử dụng giảm 0,48%; giá dịch vụ khác đối với phương tiện vận tải cá nhân giảm 0,06% [8] Trong đó máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 1,01%, máy vi tính và phụ kiện giảm 0,59%, ti vi màu giảm 0,18%, thiết bị âm thanh giảm 0,03%.[9] Gạo giảm 0,44%, gạo tẻ thường giảm 0,48%, gạo tẻ ngon giảm 0,21%.[10] Giá thịt gia cầm giảm 0,97%, Giá trứng các loại cũng giảm 5,99%, Giá thuỷ sản tươi sống giảm 0,64%: cá tươi, hoặc ướp lạnh giảm 0,52%; tôm tươi hoặc ướp lạnh giảm 0,87%; thuỷ hải sản tươi sống khác giảm 0,98%. Giá thuỷ sản chế biến giảm 0,53%. Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 16,17%. Giá quả tươi, chế biến giảm 0,29%; quả có múi giảm 3,45%, táo giảm 1,11%, xoài giảm 4,87%.

Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025
  •   04/12/2025 07:57

Tháng 11 năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tỉnh Đắk Lắk đặc biệt là khu vực phía Đông (Phú Yên cũ) phải đối mặt với thiên tai, bão lũ rất nghiêm trọng từ cơn bão số 13 và mưa lớn gây lũ lụt lịch sử kéo dài, tổn thất nặng nề về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, nhất là sản xuất nông nghiệp. Tỉnh phải tập trung toàn lực vào công tác khắc phục và khôi phục hoạt động kinh tế, ổn định đời sống người dân. Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân trong và ngoài tỉnh, đến nay đời sống của người dân vùng lũ lụt cơ bản tạm ổn. Song song với công tác khắc phục thiệt hại lũ lụt, công tác chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục thực hiện cụ thể: Sản xuất vụ Mùa 2025 được đẩy nhanh tiến độ; thu ngân sách nhà nước, chỉ số phát triển công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng so với cùng kỳ; giải ngân vốn đầu tư công có nhiều tín hiệu tích cực; các cấp chính quyền đã nhanh chóng triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng, đảm bảo bộ máy hoạt động thông suốt và hiệu quả; các chính sách xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời, chăm lo đời sống nhân dân; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, thiệt hại do cơ bão số 13 và đợt mưa lũ từ ngày 15-21/11/2025 đã làm sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản bị thiệt hai nặng nề; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tuy được đẩy mạnh nhưng vẫn còn chậm ở một số dự án; giải quyết việc làm và thu hút lao động còn gặp khó khăn; vi phạm lâm luật và trật tự an toàn giao thông vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương ít nhiều đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân. 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng 11/2025 chịu ảnh hưởng, thiệt hại nặng nề của cơn bão số 13 và mưa lũ, đặc biệt là các địa phương khu vực phía Đông Đắk Lắk. Công tác sản xuất và thu hoạch vụ Mùa đang được đẩy nhanh tiến độ; Số lượng đầu con gia súc giảm; Sản xuất lâm nghiệp tập trung vào công tác trồng rừng; Sản lượng thủy sản nuôi trồng giảm do lũ lụt cuốn trôi các lồng bè và ao hồ nuôi cá, tôm hùm…a)    Nông nghiệp Trồng trọt: Cây lúa: Tính đến ngày 20/11/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng được 176.380 ha lúa nước, tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: - Lúa đông xuân: Kết thúc vụ đông xuân, toàn tỉnh gieo trồng 75.973 ha, tăng 2,53% so với vụ đông xuân năm trước; năng suất thu hoạch đạt 77,01 tạ/ha, giảm 0,84% (- 0,65 tạ/ha) do mất trắng hoàn toàn 87 ha ở xã Hòa Xuân và xã Tây Hòa làm ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch lúa; sản lượng thu hoạch 584,4 ngàn tấn, tăng 1,9% (+ 10,9 ngàn tấn). - Lúa hè thu: Toàn tỉnh gieo trồng được 24.716 ha, so với cùng vụ năm trước giảm 0,1% (-24 ha). Năng suất cây lúa bình quân đạt 71,09 tạ/ha, giảm 0,6% so với cùng kỳ, (-0,45 tạ/ha) do năng suất lúa vụ Hè thu năm 2024 năm được mùa cao nhất từ năm 2021 đến nay; ngoài ra thời điểm lúa trổ gặp thời tiết âm u; ảnh hưởng của bão số 6 đã gây ra mưa lớn trên địa bàn làm ngập úng nhiều diện tích vùng trũng thấp gây hư hại làm ảnh hưởng đến năng suất. Các vùng lúa trọng điểm của Đông Đắk Lắk có năng suất giảm: Phú Hòa giảm 2,1 tạ/ha; Tây Hòa giảm 1,2 tạ/ha và Đông Hòa giảm 0,32 tạ/ha. - Lúa mùa: Đến nay, các địa phương trong tỉnh đã gieo cấy ước đạt 75.691 ha, tăng 2,82% so với cùng vụ năm trước. Nhờ thời tiết có mưa khắp các vùng nên bà con nông dân làm đất xuống giống kịp thời vụ. Tuy nhiên, thời điểm cây lúa đang sinh trưởng, trổ bông gặp phải mưa bão, lũ lụt nên dự báo năng suất và sản lượng giảm so với cùng kỳ năm trước.     Cây hàng năm khác: Tính từ đầu vụ đông xuân đến ngày 20/11/2025, trên địa bàn tỉnh ước tính đã gieo trồng được: Ngô 82.504 ha, tăng 0,33%; khoai lang 6.009 ha, tăng 1,18%; đậu tương 1.095 ha, tăng 0,68%; lạc 5.621 ha, tăng 2,70%; rau các loại 22.660 ha, tăng 1,25%; đậu các loại 22.191 ha, giảm 1,33%... so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thu hoạch các loại cây hàng năm khác: Ngô đạt 337.981 tấn, tăng 0,46%; khoai lang 91.627 tấn, giảm 1,82%; sắn 760.262 tấn, giảm 28,18%([1]) là do trước đây người dân chủ yếu trồng xen canh, hiện nay các cây công nghiệp lâu năm khép tán nên diện tích gieo trồng cây hàng năm bị thu hẹp, đồng thời người dân chuyển đổi từ cây hàng năm sang trồng các loại cây lâu năm cho lợi ích kinh tế cao hơn như sầu riêng, mắc ca… và một số chuyển sang trồng cây lâm nghiệp (cây keo); mía 1.520.404 tấn, tăng 15,79%; đậu tương 909 tấn, giảm 3,3%; lạc 4.625 tấn, tăng 0,67%; rau các loại 142.971 tấn, tăng 5,40%; đậu các loại 136.049 tấn, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng([2]). Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc bảo vệ thực vật, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường. Cây lâu năm - Cây cà phê: Ước diện tích hiện có 214.421 ha, tăng 0,08% (+161 ha) so với chính thức năm trước. Hiện nay, các địa phương đang tập trung nguồn lực và nhân lực bước vào vụ thu hoạch cà phê niên vụ 2025. Thời tiết trong kỳ mưa nhiều, giá nhân công cao nên công tác thu hoạch và phơi cà phê gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, giá cà phê hiện nay đang ở mức cao nên bà con yên tâm sản xuất. Dự báo sản lượng cà phê năm 2025 ước đạt 588.094 tấn, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước. - Cây cao su: Ước diện tích hiện có 33.350 ha, giảm 0,01% (-5 ha) so với chính thức năm trước. Dự báo năm 2025, sản lượng cao su toàn tỉnh đạt hơn 39.162 tấn, tăng 6,92% do diện tích cho sản phẩm và năng suất tăng so với cùng kỳ năm trước. - Cây tiêu: Các địa phương đang bước vào giai đoạn chăm sóc sau khi cho sản phẩm như làm cỏ, vun gốc, bón phân, công tác phòng trừ bệnh được chú trọng. Ước diện tích cao su là 28.340 ha, tăng 0,14% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng Tiêu thu hoạch năm nay đạt 82.041 tấn, tăng 8,46%. Sản lượng tiêu tăng do năng suất sản phẩm tăng 2,93% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo, trong thời gian sắp tới, diện tích trồng và diện tích cho sản phẩm cây tiêu sẽ tăng do giá thu mua tiêu hạt năm nay tăng mạnh và duy trì ổn định. - Cây lâu năm khác: Hiện nay, cây bơ và sầu riêng đã thu hoạch xong, sản lượng bơ ước đạt 45.858 tấn, tăng 3,99%; sản lượng sầu riêng đạt 454.034 tấn, tăng 24,32%. Giá sầu riêng năm nay nhìn chung vẫn duy trì được mức giá cao và sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước đã tạo thu nhập ổn định cho người dân. Dự báo, trong những năm tiếp theo sản lượng và diện tích sầu riêng của tỉnh sẽ tăng do yếu tố lợi nhuận. Chăn nuôi, công tác thú y Chăn nuôi: Số lượng đầu con gia súc, gia cầm bị chết do mưa lũ là khá lớn. Tuy nhiên, số lượng đàn gia súc gia cầm ở phía Tây tỉnh Đắk Lắk vẫn tăng chủ yếu là ở các doanh nghiệp, trang trại. Hiện nay, bà con nông dân đang vệ sinh chuồng trại, kiểm dịch, tái đàn phục vụ cho nhu cầu thực phẩm tết nguyên đán sắp tới. Tình hình dịch tả lợn Châu Phi, bệnh viêm da nổi cục vẫn xảy ra một số địa bàn trong tỉnh([3]). Ước tính đến cuối tháng 11/2025, đàn trâu, bò có xu hướng giảm số lượng đầu con. Đàn trâu hiện có khoảng 31.232 con, giảm 1,10%; đàn bò hiện có khoảng 403.017 con, giảm 1,40% (trong đó, đàn bò sữa có 4.494 con, tăng 27,85% nhờ doanh nghiệp tăng đàn); đàn lợn thịt hiện có khoảng 1.029.900 con, tăng 2,80%; đàn gia cầm hiện có khoảng 20.992 nghìn con, tăng 1,31% (trong đó, đàn gà khoảng 18.315 nghìn con, tăng 1,61%) so cùng kỳ năm trước. Công tác kiểm dịch: Trong tháng 11/2025, đã kiểm dịch xuất tỉnh được 823.274 con (Trong đó: trâu 1.347 con, bò 673 con, heo 76.591 con, gà 691.545 con, vịt + Ngan 53.118 con). Tính chung 11 tháng năm 2025 kiểm dịch xuất tỉnh được 7.105.505 con gia súc, gia cầm. Kiểm dịch nhập tỉnh tháng 11/2025 được 823.274 con (Trong đó, trâu 1.347 con, bò 673 con, heo 76.591 con, gà 691.545 con, vịt + Ngan 53.118 con). Tính chung 11 tháng năm 2025 kiểm dịch nhập tỉnh được 13.980.596 con gia súc, gia cầm. b) Lâm nghiệp Công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được các ngành chức năng, các địa phương và các chủ rừng chú trọng thực hiện. Diện tích trồng rừng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép vẫn còn xảy ra. Khai thác lâm sản: Trong tháng 11/2025, sản lượng gỗ toàn tỉnh khai thác ước đạt 94.757 m3, giảm 10,23% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là gỗ nguyên liệu giấy. Tính chung 11 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 851.659 m3, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Phát triển rừng: Công tác trồng rừng và phát triển rừng được quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu năm. Các công ty lâm nghiệp và địa phương đã và đang thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng tránh cháy rừng. Ước tháng 11/2025, toàn tỉnh đã trồng được 1.891 ha, tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 năm 2025, tổng diện tích rừng trồng mới toàn tỉnh là 9.016 ha([4]), tăng 8,38%, chủ yếu là rừng gỗ nguyên liệu giấy. Hiện nay các địa phương đang đẩy nhanh tiến độ trồng rừng nhằm đảm bảo đúng thời gian theo kế hoạch. Quản lý bảo vệ rừng: UBND tỉnh đã chỉ đạo cho các ngành chức năng phải thường xuyên tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các chủ rừng, đơn vị triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và tổ chức triển khai công tác phòng chống chặt phá rừng tại các địa phương, đơn vị; đảm bảo công tác trực 24/24 giờ, cảnh báo và xử lý kịp thời tình huống xảy ra phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép... Trong tháng 11/2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 47 vụ (trong đó: 23 vụ phá rừng trái pháp luật, 06 khai thác rừng trái pháp luật, 01 vận chuyển, mua bán ĐVR trái pháp luật, 09 vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 06 tàng trữ lâm sản trái phép, 02 vi phạm quy định chung của Nhà nước về BVR), lâm sản tịch thu 22,990 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 13 chiếc các loại, tổng các khoản thu 149,5 triệu đồng, tổng số tiền nộp ngân sách 129,5 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến 15/11/2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 917 vụ, trong đó phá rừng 678 vụ, diện tích rừng bị phá là 176,786 ha, lâm sản tịch thu 391,476 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 54 chiếc các loại, tổng các khoản thu 2.929,5 triệu đồng. c) Thủy sản Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 11/2025 ước đạt 5.246 tấn, giảm 1,53% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, ước đạt 107.266 tấn, tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: - Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng 11/2025 ước 1.646 tấn, giảm 0,72% so với cùng kỳ năm trước([5]). Tính chung 11 tháng năm 2025 là 67.043 tấn tăng 3,85%. - Sản lượng thủy sản khai thác nội địa tháng 11 ước 244 tấn, tăng 4,77%. Tính chung 11 tháng năm 2025 là 2.860 tấn, tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước. - Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tháng 11 là 3.356 tấn, giảm 2,35% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025 là 37.363 tấn, tăng 0,46% so với cùng kỳ năm trước.         d) Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) Các ngành, địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), bảo đảm tiến độ và chất lượng theo kế hoạch đề ra. Đến nay, toàn tỉnh có 764 sản phẩm OCOP (trong đó, có 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao, 10 sản phẩm tiềm năng 4 sao và 656 sản phẩm đạt 3 sao). 2. Sản xuất công nghiệp Do ảnh hưởng của bão số 13 và đợt lũ lụt, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh bị tác động đáng kể. Các nhà máy sản xuất công nghiệp tại khu vực phía Đông Đắk Lắk phải tạm ngừng sản xuất do ngập lụt trên diện rộng, nguồn cung điện - nước bị gián đoạn, khó khăn trong vận chuyển nguyên liệu,... Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 ước tăng 7,56% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 11 tháng tăng 10,86% Trong tháng 11/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự ước tăng 7,56% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 25,87%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,63%; ngành sản xuất, phân phối điện, hơi tăng 24,76%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,14%. Một số ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, có chỉ số sản xuất tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: Khai khoáng khác tăng 25,87%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 24,76%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải; tái chế phế liệu tăng 17,87% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 22,61%; sản xuất đồ uống giảm 10,83%. Tính chung 11 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,50%; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,90% (có 15/21 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng so với cùng kỳ, trong đó tăng mạnh nhất là ngành dệt tăng 1,59 lần; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 26,08%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 20,55%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,49%.., ở chiều ngược lại có 6/21 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm, trong đó giảm mạnh nhất là ngành sản xuất giường tủ, bàn ghế giảm 19,30%); Ngành sản xuất, phân phối điện, hơi nước tăng 11,75%; Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 8,33% so cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cường mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, ký kết nhiều đơn đặt hàng trong và ngoài nước để sản xuất và xuất khẩu nên một số sản phẩm chủ lực tính chung 11 tháng năm 2025 có sản lượng tăng so cùng kỳ như: Đá xây dựng khác 1.894,2 nghìn m3, tăng 7,68%; cá ngừ đóng hộp 6.035,3 tấn, tăng 18,42%; hạt điều khô 73,7 nghìn tấn, tăng 35,68%; cà phê bột các loại 53,5 nghìn tấn, tăng 28,82%; nước tinh khiết 29 triệu lít, tăng 10,49%; quần áo da thuộc 11,4 triệu cái, tăng 15,91%; phân khoáng hoặc phân hoá học 55,6 nghìn tấn, tăng 12,34%; thủy điện và điện sinh khối 6.380,8 triệu kwh, tăng 23,33%. Bên cạnh đó một số sản phẩm giảm do nhu cầu thị trường giảm và tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế như: Vỏ bào, dăm gỗ giảm 3,50%; bàn bằng gỗ các lọai giảm 20,66%; cấu kiện tháp và cột làm bằng những thanh sắt, thép giảm 39,31%. Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 11 và 11 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh tiếp tục chịu tác động bởi nhiều yếu tố bất lợi, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp vẫn gặp khó trong việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và công nghệ tiên tiến, làm hạn chế khả năng đổi mới dây chuyền sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đây là nguyên nhân chính khiến tiến trình chuyển đổi công nghiệp hóa và chuyển đổi số diễn ra chậm, chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các khu, cụm công nghiệp còn thiếu đồng bộ, nhất là ở các hạng mục then chốt như: giao thông, logistics và hệ thống xử lý nước thải tập trung. Những hạn chế này làm tăng chi phí sản xuất, kéo dài thời gian vận chuyển, giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược có yêu cầu cao về tiêu chuẩn môi trường và vận hành. Thêm vào đó, yếu tố thời tiết bất lợi trong quý IV, đặc biệt là ảnh hưởng của cơn bão số 13 và mưa lớn kéo dài gây ngập lụt cục bộ tại một số khu vực, đã làm gián đoạn hoạt động của một số nhà máy. Một số ngành chế biến nông sản chủ lực như: đường và tinh bột sắn chịu tác động của tính mùa vụ, trong khi nguồn nguyên liệu nông, lâm, thủy sản giảm do thời tiết bất lợi và giá thu mua thấp trong niên vụ trước, khiến người dân hạn chế mở rộng canh tác. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn trên, một số lĩnh vực sản xuất vẫn duy trì ổn định, góp phần hỗ trợ tăng trưởng chung của ngành công nghiệp, nổi bật như sản xuất chế biến cà phê bột, hạt điều khô cùng với hoạt động của các nhà máy thủy điện và điện năng lượng tái tạo. Các ngành này tiếp tục duy trì sản xuất ổn định, đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nhịp tăng trưởng của ngành công nghiệp tỉnh. 3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo; bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển. Trong tháng 11, dự ước có 165 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 2.145 tỷ đồng; có 45 doanh nghiệp giải thể; 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và 40 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tính chung 11 tháng, dự ước có 2.703 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 31.859 tỷ đồng; bên cạnh đó, có 435 doanh nghiệp giải thể, 1.356 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh và 523 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tình hình kinh tế thế giới trong những tháng cuối năm 2025 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; chi phí đầu vào tăng cao, rủi ro thị trường gia tăng và quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu chưa đồng đều đã tác động đáng kể đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trên địa bàn tỉnh, các yếu tố bất lợi từ môi trường kinh doanh bên ngoài đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất và tiếp cận thị trường của nhiều doanh nghiệp. Bên cạnh những khó khăn mang tính khách quan, cơn bão số 13 và đợt mưa lũ xảy ra tại khu vực Đông Đắk Lắk trong thời gian vừa qua đã gây ảnh hưởng đến hạ tầng giao thông, sản xuất nông nghiệp và lưu thông hàng hóa, làm gia tăng chi phí, gián đoạn chuỗi cung ứng cục bộ và tạo thêm áp lực đối với hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn. Nhìn chung, khu vực doanh nghiệp của tỉnh đang hoạt động trong bối cảnh nhiều khó khăn đan xen, đòi hỏi năng lực thích ứng cao và khả năng xoay xở linh hoạt của từng doanh nghiệp. Trong thời gian tới, việc theo dõi sát diễn biến hoạt động của doanh nghiệp, chủ động nắm bắt khó khăn phát sinh và kịp thời triển khai các giải pháp hỗ trợ phù hợp là yêu cầu cần thiết, trong đó trọng tâm là tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính, tiếp cận tín dụng, khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ phục hồi sản xuất và thúc đẩy chuyển đổi số, nhằm tạo điều kiện để khu vực doanh nghiệp từng bước ổn định hoạt động và phát triển bền vững. 4. Đầu tư Công tác đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung chỉ đạo quyết liệt; tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị, chủ đầu tư khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn nhằm phấn đấu hoàn thành giải ngân 100% kế hoạch năm 2025. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơn bão số 13 mưa lũ nên tiến độ giải ngân vốn đầu tư đã phần nào bị ảnh hưởng. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 11/2025 ước đạt 1.180,5 tỷ đồng, tăng 3,08% so với tháng trước, tăng 52,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn cấp tỉnh ước đạt 1.152,7 tỷ đồng, tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 52,77% so với cùng kỳ năm trước; nguồn vốn cấp xã thực hiện ước đạt 27,8 tỷ đồng, tăng 7,48% so tháng trước và tăng 47,74% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn ước đạt 11.059,7 tỷ đồng, tăng 38,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 10.834,3 tỷ đồng, chiếm 97,96% tổng nguồn vốn, tăng 38,33% so với cùng kỳ chủ yếu là tăng ở nguồn vốn ODA và vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 225,4 tỷ đồng, chiếm 2,04% tổng nguồn vốn, tăng 29,04% so với cùng kỳ năm trước. Đến hết ngày 20/11/2025, tỉnh đã giải ngân đạt 6.441,9 tỷ đồng, đạt 41% kế hoạch (Nếu tính cấp tỉnh thực hiện thì giải ngân đạt 47,8% kế hoạch), trong đó: Ngân sách Trung ương đạt 38,13% kế hoạch; nguồn vốn ngân sách địa phương đạt 44,4% kế hoạch. Vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách trung ương thực hiện các Chương trình MTQG giải ngân đạt 42,98%. Một số công trình, dự án có tiến độ và giá trị thực hiện lớn tiếp tục được đầu tư như: Dự án thành phần 3 (Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Buôn Ma Thuột – Khánh Hoà) ước đạt 2.320.930 triệu đồng; Nâng cấp Khoa Ung bướu thành Trung tâm Ung Bướu thuộc Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên ước đạt 368.822 triệu đồng; Bệnh viện đa khoa Thị xã Buôn Hồ ước đạt 342.815 triệu đồng; Đầu tư xây dựng bệnh viện sản nhi ước đạt 289.182 triệu đồng; Xây dựng Hệ thống chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến 2030 ước đạt 244.741 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc Cầu An Hải ước đạt 219.982 triệu đồng; Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (giai đoạn 1) ước đạt 178.100 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển tỉnh Phú Yên, đoạn kết nối huyện Tuy An - thành phố Tuy Hòa (giai đoạn 1) ước đạt 165.209 triệu đồng; Tuyến đường giao thông từ Cảng Bãi Gốc (Khu kinh tế Nam Phú Yên, tỉnh Phú Yên) kết nối Quốc lộ 1 đi Khu kinh tế Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) ước đạt 129.342 triệu đồng;… Một số giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công: Tỉnh tổ chức Hội nghị chuyên đề thúc đẩy giải ngân đầu tư công năm 2025 nhằm kịp thời nắm bắt tình hình thực hiện, tiến độ giải ngân, đồng thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; triển khai rà soát để điều chỉnh kế hoạch từ các dự án giải ngân chậm hoặc không còn khả năng giải ngân sang các dự án giải ngân tốt, cần bổ sung vốn để thanh toán và đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện. Tiếp tục phối hợp đẩy nhanh tiến độ thi công Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025, đoạn qua địa bàn tỉnh Đắk Lắk; đến nay, khối lượng thi công dự án đạt khoảng 91% giá trị hợp đồng. Đồng thời, rà soát các hộ dân, tổ chức bị ảnh hưởng bởi dự án dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đoạn qua tỉnh thuộc thẩm quyền của địa phương; đôn đốc các đơn vị khẩn trương giải quyết dứt điểm vướng mắc về mặt bằng trong phạm vi ranh giới dự án Đầu tư xây dựng Đường Hồ Chí Minh đoạn tránh phía Đông thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Tình hình thu hút đầu tư: Trong tháng, tỉnh đã tiếp nhận 22 hồ sơ đề xuất dự án của nhà đầu tư; đồng thời chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 09 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 2.770 tỷ đồng. Trong đó, có một số dự án có tổng vốn đăng ký đầu tư lớn như: Dự án Đầu tư nhà máy luyện cán thép Tây Nguyên (1.949,48 tỷ đồng); dự án Nhà máy sản xuất dệt, may trang phục của Able Joy (Hong Kong) Limited (363,45 tỷ đồng); dự án Nhà máy sản xuất viên nén gỗ (315,74 tỷ đồng). Lũy kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 43 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng vốn đăng ký hơn 35.340 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 75 dự án. Tỉnh tiếp tục hỗ trợ, hướng dẫn các nhà đầu tư hoàn tất thủ tục đầu tư để sớm khởi công và triển khai dự án, đặc biệt là các dự án quy mô lớn, có tính động lực, như: Dự án Đầu tư xây dựng Bến cảng Bãi Gốc; Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Hòa Tâm - Giai đoạn 1; Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp công nghệ cao Phú Yên;… nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai nhiều giải pháp trọng tâm điều hành công tác thu ngân sách nhà nước. Thu ngân sách vượt kế hoạch trung ương giao và tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách vẫn đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước; đảm bảo an sinh xã hội. Các hoạt động tín dụng, ngân hàng trên địa bàn phát triển ổn định và an toàn. - Thu ngân sách nhà nước: Dự tính đến hết ngày 30/11, tổng thu cân đối NSNN đạt 15.692.669 triệu đồng, vượt 17,13% dự toán TW và đạt 96,22% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 27,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thu nội địa ước đạt 10.969.189 triệu đồng, vượt 20,01% dự toán TW và vượt 17,11% dự toán HĐND tỉnh, tăng 22,34%, trong đó thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 4.610.248 triệu đồng, vượt 20,37% dự toán TW và vượt 17,29% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 24,78%. Thu xổ số kiến thiết ước đạt 386.700 triệu đồng, vượt 15,43% dự toán TW giao và vượt 10,49% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 133,29%. Thu tiền sử dụng đất đạt 4.180.235 triệu đồng, vượt 10,95% dự toán TW và đạt 65,10% dự toán HĐND, tăng 34,44%. Thu xuất, nhập khẩu đạt 156.545 triệu đồng, vượt 1,0% dự toán TW và đạt 91,01% dự toán HĐND, tăng 50,83% so cùng kỳ. - Chi ngân sách nhà nước: Dự tính đến hết 30/11, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 36.715.717 triệu đồng, đạt 92,67% dự toán TW giao và đạt 86,02% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 24,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi đầu tư phát triển 11.680.969 triệu đồng, đạt 99,73% dự toán TW giao và đạt 81,38% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 9,37%. Tổng chi thường xuyên đạt 25.031.826 triệu đồng, đạt 91,85% dự toán TW giao và đạt 91,13% dự toán HĐND giao, tăng 32,66%. Chi trả bổ sung dự trữ tài chính ước đạt 1.000 triệu đồng, đạt 40,98% dự toán TW và HĐND, không biến động so với cùng kỳ năm trước. Ngân hàng: Tính đến hết tháng 11 năm 2025, tổng vốn huy động ước đạt 170.550 tỷ đồng, tăng 20,3% so với đầu năm; dư nợ cho vay ước đạt 250.360 tỷ đồng, tăng 11,4% so với đầu năm; nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng 0,89% trên tổng dư nợ, duy trì trong ngưỡng an toàn. Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh triển khai hiệu quả các chương trình tín dụng, cơ bản đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo và các hộ có hoàn cảnh khó khăn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu an sinh xã hội tại địa phương. Đến hết tháng 11 năm 2025, dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 14.080 tỷ đồng, tăng 9,6% so với đầu năm, với 324.202 khách hàng còn dư nợ. Công tác bảo hiểm: Ước tính đến hết tháng 11 năm 2025, toàn tỉnh có 2.600 nghìn người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, đạt 99% kế hoạch, tăng 3% so cùng kỳ. Tổng số tiền thu được là 7.172 tỷ đồng (đạt 93% kế hoạch, tăng 18% so cùng kỳ); tổng số tiền chi là 9.079 tỷ đồng (đạt 86% kế hoạch, tăng 12% so cùng kỳ); tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN là 245 tỷ đồng 6. Thương mại, dịch vụ và giá cả a) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Những tháng cuối năm là thời điểm diễn ra nhiều chương trình khuyến mại, kích cầu thương mại, nhu cầu của người dân tăng cộng với tình cảm của người dân ủng hộ hàng hóa thiết yếu cho các địa phương bị ảnh hưởng bởi lũ lụt chính là nguyên nhân làm cho Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11 và 11 tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2025 ước đạt 17.452,9 tỷ đồng, tăng 2,49% so với tháng trước và tăng 16,24% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 173.324 tỷ đồng tăng 14,50% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 14.745,7 tỷ đồng, tăng 2,99% và tăng 17,11%, chiếm 84,49% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2025. Một số mặt hàng bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước như: nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 160,20%; nhiên liệu khác tăng 30,81%; xăng dầu các loại tăng 23,39%; vật phẩm, văn hóa giáo dục tăng 25,13%... Tính chung 11 tháng, Doanh thu bán lẻ hàng hoá ước đạt 144.5013 tỷ đồng tăng 13,93%, chiếm 83,37% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm 2025. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao: xếp thứ nhất là đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 62,15%; tiếp theo là ô tô các loại tăng 26,69%; nhiên liệu khác tăng 23,01%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 17,76%… Một số mặt hàng có mức tăng thấp hơn mức tăng chung như: Hàng may mặc chỉ tăng 2,36%; hàng hoá khác tăng 2,97%;…Các mặt hàng này đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.736,2 tỷ đồng, giảm 0,65% so với tháng trước, tăng 10,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 158,3 tỷ đồng, giảm 0,11% và tăng 5,58%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 1.577,9 tỷ đồng, giảm 0,70% và tăng 10,97%. Tính chung 11 tháng, Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 18.808,1 tỷ đồng tăng 18,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.990,1 tỷ đồng tăng 23,54%; dịch vụ ăn uống đạt 16.818 tỷ đồng tăng 17,55%. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 11,8 tỷ đồng, giảm 27,89% và tăng 28,49%. Tính chung 11 tháng, Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch ước đạt 141,0 tỷ đồng, tăng 28,98% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 959,2 tỷ đồng, tăng 1,32% so với tháng trước và tăng 13,84% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 9.873,6 tỷ đồng, tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nhóm, ngành hàng thì dịch vụ thì tăng trưởng cao nhất là ngành dịch vụ giáo dục đào tạo tăng 31,18%; dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 27,79%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 21,60%...Một số ngành có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí giảm 0,87%, dịch vụ khác chỉ tăng 11,61% so với cùng kỳ năm trước… Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Trong tháng 11/2025, do ảnh hưởng của cơn bão 13 và mưa lớn gây lũ lụt đã ảnh hưởng đến các hoạt động du lịch. Các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 472.548 lượt khách giảm 0,73% so với tháng trước, tăng 15,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lượt khách ngủ qua đêm là 335.026 lượt khách giảm 0,99% và tăng 15,46%; lượt khách trong ngày là 137.522 lượt giảm 1,08% và tăng 13,94%. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng số lượt khách phục vụ là 5.376.961 lượt, tăng 22,52% so với cùng kỳ năm trước; trong đó lượt khách ngủ qua đêm là 3.846.539 lượt, tăng 25,57%, khách trong ngày là 1.530.422 lượt, tăng 15,47% so với cùng kỳ năm trước. Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour trong tháng 11/2025 là 1.348 lượt, giảm 54,09% so với tháng trước và tăng 89,59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khách đi trong nước là 1.046 lượt, giảm 60,21% và tăng 138,81%. Tính chung 11 tháng năm 2025 tổng số lượt khách du lịch theo tour là 30.743 lượt tăng 81,40% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khách đi trong nước là 28.269 lượt tăng 101,19% so với cùng kỳ năm trước. b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất khẩu tiếp tục được quan tâm, các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết. Trong tháng 11/2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 333 triệu USD, tăng 0,44% so với tháng trước và tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 3.766 triệu USD, tăng 37,80%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1.924 triệu USD, tăng 48,70% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu tháng 11/2025 của tỉnh ước đạt 251 triệu USD, giảm 0,07% so với tháng trước, tăng 43,70% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu là 2.845 triệu USD vượt 27,29% so với KH, tăng 41,30% so với cùng kỳ trong nước. Trong đó: sản lượng cà phê đạt 225.725 tấn, tăng 9,04% so với cùng kỳ năm trước; tiêu đạt 36.723 tấn, giảm 4,23%, điều 49.052 tấn, tăng 12,27%; cao su 9.300 tấn, tăng 8,58%; hàng rau quả 400 triệu USD, tăng 32,89%, hải sản 138,3 triệu USD, linh kiện điện tử 45,6 triệu USD... Các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết. Hoạt động xuất khẩu vẫn đang trong đà tăng trưởng, một số mặt hàng giảm nhẹ do bắt đầu vào niên vụ mới nên nguồn cung dự trữ chuyển qua không còn nhiều.Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu tháng 11/2025 ước đạt 82 triệu USD, tăng 2,05% so với tháng trước, giảm 18,90% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025, kim ngạch nhập khẩu ước là 921 triệu USD, vượt 20,23% so với KH, tăng 28,0% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất. c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la Mỹ Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2025 có xu hướng tăng so với tháng trước. Giá thực phẩm tăng đặc biệt là các loại rau, củ, quả do ảnh hưởng mưa bão. Giá nhà cho thuê tăng do nhu cầu thuê ở của nhân công hái cà phê, giá vật kiệu xây dựng tiếp tục tăng do nhu cầu tăng. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2025 tăng 0,77% so với tháng trước; tăng 4,73% so với cùng kỳ năm trước; so với tháng 12 năm trước tăng 4,66%. Chỉ số giá bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 5,04%. Trong tháng 11/2025, so với tháng trước có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất lànhóm giao thông tăng 1,60% (làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm) là do giá xăng tăng 2,37% tăng theo giá thế giới, giá bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 4,35% do mưa bão, lũ lụt làm cho nhu cầu sửa chữa các phương tiện giao thông tăng…[6] Tiếp đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,39% (CPI chung tăng 0,46 điểm phần trăm), trong đó cả 3/3 mặt hàng chính đều tăng: Lương thực tăng 1,12%([7]), thực phẩm tăng 2,03% đặc biệt là nhóm rau, củ, quả tăng mạnh do ảnh hưởng của mưa bão([8]); ăn uống ngoài gia đình tăng 0,14%. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,37%, chủ yếu do giá nhà ở thuê và nhà ở thuộc sở hữu tính quy đổi tăng 0,91%, dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 2,39%; ngoài ra một số mặt hàng trong nhóm này giảm như giá gas giảm 0,53%. Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,14% là do dịch vụ viễn thông tăng 0,17%, thiết bị thông tin và truyền thông tăng 0,10%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,11% là do nhu cầu tăng cụ thể: thuốc lá tăng 0,77%; bia chai tăng 0,04%; rượu mạnh tăng 0,05%... Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06% chủ yếu ở các mặt hàng đồ gia dụng([9])do mưa lũ làm hư hỏng nhiều đồ dùng, thiết bị trong nhà. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,05%([10]). Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04% chủ yếu do hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 1,09%... Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01% do giá một số loại thuốc tăng nhẹ([11]). Ở chiều ngược lại chỉ có 01/11 nhóm hàng giảm giá, đó là nhóm hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,23%. Có 01 nhóm hàng bình ổn giá đó là nhóm giáo dục. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 5,04%. Có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó: tăng mạnh nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 15,68% (dịch vụ y tế tăng 19,47%) là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng…; tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 13,21%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,67% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng, một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng, các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,79% (trong đó: thực phẩm tăng 4,30%, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,83%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,32% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, tết; tương tự, nhóm May mặc, giày dép và mũ nón tăng 3,81%; nhóm giáo dục tăng 3,52% (trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,74%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,54%. Ở một diễn biến khác, toàn tỉnh có 02/11 nhóm hàng giảm, trong đó giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm 1,84%, tiếp đó là nhóm thông tin truyền thông giảm 1,09% đã động tích cực đến chỉ số giá bình quân 11 tháng năm 2025. Chỉ số giá vàng tháng 11/2025 tăng 2,79% so với tháng trước, bình quân 11 tháng tăng 44,04% là do giá vàng tăng theo giá thế giới. Chỉ số giá Đô la Mỹ giảm 0,04% so với tháng trước, bình quân 11 tháng tăng 4,04%. Sức mua của những mặt hàng này ở mức bình thường. d) Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động ngành vận tải, kho bãi 11 tháng năm 2025 vẫn tiếp tục tăng trưởng, tuy nhiên trong kỳ mưa lũ kéo dài khiến một số tuyến đường bị sạt lở nghiêm trọng, nhiều tuyến giao thông ngập sâu, ùn tắc cục bộ và một số thôn buôn bị cô lập hoàn toàn. Quốc lộ 29 tuyến huyết mạch nối từ phía Tây xuống phía Đông tỉnh Đắk Lắk gần như tê liệt ít nhiều đã ảnh hưởng đến hoạt động vân tải trền địa bàn tỉnh trong những ngày cuối tháng 11/2025. Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát tháng 11/2025 ước đạt gần 797 tỷ đồng, giảm 1,88% so với tháng trước, tăng 6,14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: vận tải hành khách đạt 199,1 tỷ đồng, giảm 3,72% và tăng 21,02%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 484,7 tỷ đồng, giảm 2,42% và tăng 2,47%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 71,7 tỷ đồng tăng 7,04% và giảm 5,95%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt 41,5 tỷ đồng, giảm 0,54% so tháng trước và tăng 11,83% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025 doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 8.700,3 tỷ đồng, tăng 10,71% so cùng kỳ năm 2024. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 2.232,6 tỷ đồng, tăng 18,12%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 5.217,0 tỷ đồng, tăng 5,92%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 796,8 tỷ đồng, tăng 15,77%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt 453,9 tỷ đồng, tăng 28,08% so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển và luân chuyển hành khách trong tháng 11/2025 ước đạt 2.915 nghìn lượt khách và 334 triệu lượt khách.km, so với tháng trước giảm 9,39% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển giảm 5,33%; so với cùng kỳ năm trước tăng 39,71% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 55,24%. Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.410 nghìn tấn và 176 triệu tấn.km, so với tháng trước giảm 4,38% về khối lượng vận chuyển và giảm 1,80% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 4,08% về khối lượng vận chuyển và tăng 1,59% về khối lượng luân chuyển. Tính chung 11 tháng năm 2025, vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 27.671 nghìn lượt hành khách và 2.752 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,80% về khối lượng vận chuyển và tăng 19,38% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 14.977 nghìn tấn và 1.863 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,21% về khối lượng vận chuyển và tăng 4,41% về khối lượng luân chuyển. 8. Chuyển đổi số Công tác chuyển đổi số được quan tâm, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Triển khai xây dựng trạm BTS của doanh nghiệp viễn thông tại các xã, phường khu vực phía Đông tỉnh; hoàn thành thiết lập quy trình điện tử trên Hệ thống thống tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Đắk Lắk cho các đơn vị. Đồng thời, duy trì thực hiện nhiệm vụ giám sát, điều hành đô thị thông minh theo quy định; phối hợp với công ty iNet khai báo mã định danh cho các phòng, ban của 102 xã, phường và cấu hình hệ thống mail công vụ mới; tạo tài khoản SSO, phân quyền giám sát Dịch vụ công và giám sát dịch vụ Phản ánh hiện trường cho các xã, phường, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp. 9. Một số tình hình xã hội a) An sinh xã hội Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa tiếp tục được quan tâm thực hiện([12]). Trong tháng, đã giải quyết chế độ đối với 296 hồ sơ người có công, thân nhân người có công và các đối tượng liên khác đủ điều kiện theo quy định. Về công tác khắc phục thiệt hại do bão, lũ (tính đến ngày 28/11/2025): + Hỗ trợ lương thực, nhu yếu phẩm - Tiếp nhận và cấp phát hàng hóa cứu trợ khẩn cấp: Ủy ban MTTQ Việt Nam và các đơn vị liên quan đã tiếp nhận và phân bổ 1.500 tấn hàng (trị giá 42 tỷ đồng) và 4.000 suất quà hỗ trợ đến Nhân dân vùng bị thiệt hại. Đến nay mỗi hộ dân vùng bị thiệt hại đều đã được nhận các phần quà hỗ trợ. - Về phân bổ gạo cứu trợ của Chính phủ: Đến hết ngày 28/11/2025, hoàn thành phân bổ 4.000 tấn/4.000 tấn đến người dân tại 31/31 xã, phường khu vực phía Đông của tỉnh([13]). + Hỗ trợ khẩn cấp về nhà ở UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 01928/QĐ-UBND ngày 08/11/2025 hỗ trợ kinh phí khắc phục hậu quả thiên tai do bão số 13 gây ra trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, theo đó hỗ trợ cho nhà bị sập đổ hoàn toàn với mức 60 triệu đồng/nhà và nhà bị tốc mái hoàn toàn với mức 10 triệu đồng/nhà. Các hoạt động thăm hỏi gia đình có người bị chết và hỗ trợ sửa chữa nhà ở đã được triển khai. + Bảo đảm an sinh xã hội - Đến nay, tỉnh Đắk Lắk đã được Ngân sách Trung ương hỗ trợ kinh phí để khắc phục hậu quả thiên tai gây ra trên địa bàn tỉnh với tổng số tiền 880.000 triệu đồng (trong đó hỗ trợ kinh phí khắc phục hậu quả do cơn bão số 13 là 230.000 triệu đồng, kinh phí hỗ trợ khẩn cấp khắc phục thiệt hại do mưa lũ gây ra là 650.000 triệu đồng). Ủy ban MTTQ Việt Nam và các đơn vị liên quan đã tiếp nhận vào Quỹ cứu trợ tỉnh hơn 132.226 triệu đồng từ các địa phương, tổ chức, cá nhân ủng hộ khắc phục hậu quả lũ lụt. - Để kịp thời hỗ trợ khẩn cấp, giải quyết khó khăn trước mắt cho người dân bị thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng do mưa lũ gây ra, UBND tỉnh đã chủ động sử dụng nguồn dự phòng ngân sách cấp tỉnh để hỗ trợ kinh phí khắc phục hậu quả thiên tai do cơn bão số 13 gây ra cho các đơn vị địa phương, số tiền là 65.000 triệu đồng Tỉnh cũng đã phân bổ từ nguồn NSTW bổ sung có mục tiêu hỗ trợ khẩn cấp kinh phí cho các đơn vị, địa phương khắc phục thiệt hại do mưa lũ gây ra, số tiền 99.600 triệu đồng. Đồng thời, đề nghị Chủ tịch UBND các xã, phường bị ảnh hưởng và có nhu cầu cấp thiết tiếp tục kịp thời chủ động nguồn ngân sách địa phương để mua sắm lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu phục vụ nhu cầu cấp bách của Nhân dân; kịp thời xử lý vệ sinh môi trường, phòng chống dịch, bệnh sau lũ, lụt theo quy định, với tổng giá trị không vượt quá 500 triệu đồng/xã, phường, dự kiến kinh phí khoảng 20.000 triệu đồng. - Dự kiến trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục phân bổ kinh phí hỗ trợ cho nhà bị sập đổ hoàn toàn (60 triệu đồng/nhà) và nhà bị tốc mái hoàn toàn (10 triệu đồng/nhà) cho các xã, phường với số tiền 45.090 triệu đồng từ nguồn Quỹ cứu trợ tỉnh - UBMTTQ Việt Nam tỉnh và dự phòng ngân sách cấp tỉnh. Đồng thời, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 02121/QĐ-UBND ngày 23/11/2025 phê duyệt hỗ trợ cho các hộ dân bị ngập lụt và bị thiệt hại, cụ thể: đối với hộ nghèo 03 triệu đồng/hộ; đối với các hộ còn lại 1,5 triệu đồng/hộ; trong đó khoảng 250 tỷ đồng được chi từ nguồn ngân sách nhà nước (ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh), số còn lại là 116 tỷ đồng dự kiến chi từ Quỹ cứu trợ tỉnh - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh. b) Lao động việc làm Công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm được triển khai đầy đủ, kịp thời. Tỉnh đã ký kết Chương trình hợp tác (MOU) về phái cử lao động thời vụ trong lĩnh vực nông nghiệp với chính quyền huyện Haenam, tỉnh Jeollanam và chính quyền thành phố Anseong, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc. Tổ chức Đoàn của tỉnh làm việc với chính quyền và thăm người lao động đang làm việc tại thành phố Iskan, huyện Boseong và huyện Jindo, tỉnh Jeollanam, Hàn Quốc. Đồng thời, phối hợp tư vấn, định hướng nghề nghiệp, việc làm cho bộ đội xuất ngũ; hướng dẫn 21 người lao động hoàn chỉnh hợp đồng, hồ sơ đăng ký đi làm việc tại Quận Goryeong-gun, tỉnh Gyeongsangbuk, Hàn Quốc. Công tác tư vấn và giới thiệu việc làm được thực hiện thường xuyên, hiệu quả. Đã tư vấn việc làm cho 7.721 lượt người; giới thiệu việc làm cho 226 lượt người; cung cấp thông tin thị trường lao động cho các đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình, cơ sở kinh doanh và người lao động là 10.182 lượt. Công tác tư vấn đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được triển khai tích cực, với 960 lượt người được tư vấn; 05 lượt lao động được giới thiệu đi sơ tuyển tại các công ty; số lao động xuất cảnh là 21 người. Công tác an toàn, vệ sinh lao động được quan tâm chỉ đạo. Tổ chức huấn luyện an toàn - vệ sinh lao động nhóm 3 cho Bệnh viện Đa khoa 333 và Trung tâm Y tế Đông Hòa với số lượng dự kiến 247 người. Công tác hỗ trợ người lao động, chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Trong tháng, đã ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.550 người, với tổng số tiền chi trả gần 34 tỷ đồng. Tư vấn học nghề cho 1.300 lượt người hưởng trợ cấp thất nghiệp. c) Hoạt động văn hóa, thể thao Văn hóa: Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa được triển khai kịp thời; các hoạt động tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh được tổ chức rộng khắp từ tỉnh đến cơ sở. Tổ chức các hoạt động trong Tuần lễ di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh (từ ngày 18 -23/11); Lễ kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (23/11/1940 - 23/11/2025) tại Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Nhà đày Buôn Ma Thuột; biểu diễn nghệ thuật phục vụ Gala dinner Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch Hà Nội với các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên; đêm nhạc Rock Parikrama - Ấn Độ; Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, nhân kỷ niệm 95 năm (18/11/1930-18/11/2025), cùng nhiều hoạt động văn hoá, nghệ thuật khác. Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống; ban hành Kế hoạch tổ chức bảo tồn, phát huy nghi lễ, lễ hội truyền thống tiêu biểu các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; Đồng thời, triển khai các hoạt động trong Tuần Di sản Văn hóa các dân tộc tỉnh Đắk Lắk năm 2025 với chủ đề “Âm vang Cồng chiêng - gắn kết cộng đồng”; tổ chức Liên hoan Văn hóa Cồng chiêng và nhạc cụ truyền thống các dân tộc; chuẩn bị các nội dung phục vụ tổ chức trưng bày chuyên đề “Tiền cổ phát hiện tại lưu vực sông Ba” và không gian trình diễn trải nghiệm di sản văn hóa tại Bảo tàng Phú Yên, chào mừng Ngày Di sản văn hóa Việt Nam;… Thể thao: Các hoạt động thể dục, thể thao được triển khai theo kế hoạch([14]); phối hợp tổ chức các trận đấu Vòng bảng giải Bóng đá hạng Ba quốc gia năm 2025 trên sân Buôn Ma Thuột (từ ngày 27/10 đến ngày 23/11/2025); đồng thời chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất phục vụ tổ chức các giải thể thao cấp tỉnh. Tỉnh đã cử 02 đoàn thể thao của tỉnh tham gia các giải thể thao khu vực và toàn quốc; tích cực tham gia các giải thể dục thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp; từ đầu năm đến nay, đã tham gia thi đấu 81 giải thể thao, đạt 416 huy chương các loại (97 huy chương vàng, 114 huy chương bạc, 205 huy chương đồng), góp phần nâng cao chất lượng phong trào thể dục thể thao trên địa bàn. d) Giáo dục - Đào tạo Các cơ sở giáo dục tổ chức dạy và học đảm bảo theo chương trình, kế hoạch năm học 2025 - 2026. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của mưa lũ, hoạt động giáo dục tại một số địa phương bị gián đoạn, nhiều trường học bị ngập. Đến nay đã cơ bản hoàn thành việc dọn dẹp vệ sinh môi trường, xử lý bước đầu các thiệt hại về cơ sở vật chất trường lớp học, đã nhận được sự hỗ trợ về cơ sở vật chất như máy tính, sách giáo khoa, các trang thiết bị khác, cơ bản các trường đã tổ chức để học sinh đi học trở lại bình thường. Ngày 09/11/2025, tỉnh đã tổ chức lễ khởi công xây dựng 03 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền, thực hiện theo chủ trương của Bộ Chính trị tại Thông báo Kết luận số 81-TB/TW. Nhân kỷ niệm 43 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11), các cơ sở giáo dục đã triển khai nhiều hoạt động và phong trào thi đua chào mừng. Công tác ứng dụng khoa học, công nghệ trong giáo dục và đào tạo tiếp tục được đẩy mạnh([15]); ngành giáo dục đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học, công nghệ([16]). Bên cạnh đó, ngành đã tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên ở các cấp học; triển khai công tác kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia năm học 2025-2026. Công tác kiểm tra điều kiện thành lập các trung tâm ngoại ngữ, tin học, các cơ sở kỹ năng sống và giám sát công tác tổ chức thi cấp chứng chỉ tiếng Anh quốc tế cũng được thực hiện nghiêm túc theo quy định. e) Công tác Y tế Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Đặc biệt, sau bão và mưa lũ gây ngập úng tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh, ngay sau khi nước rút, ngành chức năng đã chỉ đạo và hướng dẫn chuyên môn để các đơn vị thực hiện làm sạch nguồn nước, vệ sinh môi trường, khử khuẩn, phòng chống nguy cơ ô nhiễm từ các chất thải phát tán do mưa lũ, ngập úng, góp phần phòng, chống dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe nhân dân sau lũ. Đến ngày 27/11/2025, Sở Y tế tỉnh đã xử lý 66.892/73.806 giếng bị ngập (đạt 94,0%) và 44.816/85.956 hố xí bị ngập (đạt 67,1%). Các cơ sở y tế trên địa bàn thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân; tổng số lượt khám chữa bệnh toàn tỉnh là: 503.288 lượt, nội trú 56.094 lượt, ngoại trú 25.729 lượt, chuyển viện (nội trú) 2.596 trường hợp. Ngành y tế tăng cường công tác giám sát, theo dõi, báo cáo và xử lý kịp thời các dịch bệnh phát sinh. Trong tháng 11/2025, toàn tỉnh ghi nhận 01 ca mắc bệnh sởi; số ca mắc bệnh tay chân miệng 225 ca; số ca mắc bệnh sốt xuất huyết là 1.777 ca, 04 ca tử vong. Tính chung 11 tháng, bệnh sởi có 698 ca mắc, 01 ca tử vong; bệnh tay chân miệng có 1.391 ca; bệnh sốt xuất huyết có 7.388 ca, 05 ca tử vong. Hiện nay đang là mùa cao điểm của bệnh sốt xuất huyết, tỉnh đã chỉ đạo đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống dịch nhằm hạn chế sự lây lan trong cộng đồng. Chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục được triển khai; đến nay, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin đạt 73,9%. Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS: Số ca HIV/AIDS/tử vong do AIDS mới phát hiện trong tháng là 05/00/00; tích lũy 445/05/14. Công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm được thực hiện thường xuyên tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn. Trong tháng không xảy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm. Tính chung 11 tháng, xảy ra 6 vụ ngộ độc thực phẩm, với 81 người mắc, không có tử vong. f) Tình hình vi phạm môi trường Từ ngày 26/10/2025 đến 25/11/2025 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 7 vụ vi phạm môi trường (bằng số vụ so với cùng kỳ năm trước) và xử lý 9 vụ vi phạm môi trường (tăng 3 vụ) với số tiền xử phạt là 321,5 triệu đồng (gấp 4,4 lần). Lũy kế từ đầu năm đến 25/11/2025 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện và xử lý 125 vụ vi phạm môi trường (giảm 20 vụ so với cùng kỳ năm trước), xử lý vi phạm 100 vụ (tăng 7 vụ), tổng số tiền xử phạt là 6.619,3 triệu đồng (tăng 10,08%). g) Tình hình thiên tai Từ ngày 15/10/2025 đến 28/11/2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ thiên tai gây ra thiệt hại lớn về người, tài sản, hoạt động sản xuất, kinh doanh và cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh, cụ thể: Thiệt hại do cơn bão số 13: Có 3 người chết; 205 nhà hư hỏng hoàn toàn; 13.802 nhà bị tốc mái, hư hỏng; về sản xuất nông nghiệp có khoảng 66.963 ha cây trồng các loại hư hại; về chăn nuôi có 349 con gia súc bị chết; 28.800 con gia cầm bị nước lũ cuốn trôi; về thủy sản bị thiệt hại khoảng 15.600 lồng, 224 tàu đánh bắt hải sản của ngư dân bị hư hỏng; hạ tầng thiết yếu bị hư hỏng nghiêm trọng, nhiều tuyến kênh mương, bờ sông suối, đường giao thông và cầu nông thôn bị sạt lở, cuốn trôi; ước tính tổng thiệt hại khoảng 2.578 tỷ đồng. Thiệt hại do đợt lũ lụt (từ ngày 15-21/11/2025): Thiệt hại sơ bộ bước đầu (tính đến thời điểm hết ngày 28/11/2025), có 63 người chết và 8 người mất tích; có khoảng 158.725 hộ bị ngập và bị thiệt hại; có 660 nhà sập, đổ, trôi cần phải xây dựng lại và có 1.491 nhà bị hư hỏng nặng cần phải sửa chữa; về gia súc bị thiệt hại khoảng 13.500 con, gia cầm bị thiệt hại khoảng 650.000 con; về thủy sản có khoảng 99.750 lồng thủy sản (chủ yếu là tôm hùm); về trồng trọt tổng diện tích bị ngập úng, hư hại khoảng 40.000 ha; tổng diện tích rừng trồng bị thiệt hại khoảng 30.000 ha; nhiều điểm sạt lở, ách tắt giao thông, hệ thống điện lực, viễn thông bị ảnh hưởng nghiêm trọng… Ước tính sơ bộ tổng thiệt hại do lũ lụt khoảng 7.120 tỷ đồng (Chưa tính tài sản trong gia đình người dân). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 25/11/2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ thiên tai (08 đợt lũ, ngập lụt; 01 cơn bão; 02 trận mưa lớn trái mùa kéo dài và 03 trận lốc xoáy), ước tính giá trị thiệt hại sơ bộ trên 9.807,8 tỷ đồng. h) Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội      Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh được giữ vững, ổn định. Các lực lượng chức năng chủ động nắm chắc tình hình, quản lý chặt chẽ các đối tượng, kịp thời phát hiện, xử lý vụ việc phức tạp, không để phát sinh “điểm nóng”. Công tác phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn cứu hộ được tăng cường, góp phần giữ vững an ninh, an toàn cho Nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội. Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/10/2025 đến ngày 14/11/2025 toàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, thiệt hại 190 triệu đồng; cùng kỳ không xảy ra cháy, nổ. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 14/11/2025 toàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy (giảm 17 vụ so với cùng kỳ năm trước), bị thương 01 người (tăng 01 người), thiệt hại tài sản khoảng 1.405 triệu đồng (giảm 72,81%). Tình hình tai nạn giao thông: Từ ngày 15/10/2025 đến ngày 14/11/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông (giảm 07 vụ so với tháng trước), làm chết 31 người (giảm 03 người), bị thương 36 người (tăng 09 người), thiệt hại tài sản 567 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 14/11/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 526 vụ tai nạn giao thông (giảm 99 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm chết 365 người (giảm 20 người), bị thương 332 người (giảm 97 người), ước thiệt hại tài sản 5.628 triệu đồng./. [1] Diện tích giảm chủ yếu ở cây sắn một số xã như sau: xã Ea H’leo và Ea Hiao, xã Ea Trang và Krông Á, xã Hòa Phong và xã Yang Mao,…[2] Trên cây lúa: Sâu bệnh trên cây lúa: Bệnh đen lép hạt TLH 3-10%, DTN 05 ha (Krông Năng, Dliê Ya, Tam Giang, Phú Xuân) giảm 118 ha so với kỳ trước; ốc bươu vàng TLH 3-7%, DTN 6,5 ha (Liên Sơn Lắk, Đắk Liêng, Hoà Sơn) tăng 6,5 ha so với kỳ trước; bệnh đạo ôn TLH 5-10%, DTN 05 ha (Krông Năng, Dliê Ya, Tam Giang, Phú Xuân) giảm 02 ha so với kỳ trước; bệnh vàng lá sinh lý TLH 6-9%, DTN 06 ha (Liên Sơn Lắk, Đắk Phơi); các loại sâu, bệnh khác gây hại rải.Cây cà phê: Bệnh khô cành TLH 5-20%, DTN 51 ha, (Pơng Drang, Krông Năng, Ea H’leo, Ea Kar...) tăng 19 ha so với kỳ trước; bệnh gỉ sắt TLH 3-15%, DTN 32 ha (Pơng Drang, Ea Drăng, Ea Wy, Ea Khăl...), tăng 23,5 ha so với kỳ trước; mọt đục cành TLH 4-14%, DTN 22 ha (Krông Pắc, Ea Kar, Ea Phê, Phú Xuân...), tăng 14 ha, so với kỳ trước; rệp sáp TLH 4-17%, DTN 21,5 ha, (Buôn Hồ, Ea Hiao, Krông Năng, Ea Phê, Đắk Liêng...) giảm 3,5 ha so với kỳ trước; bọ cánh cứng ăn lá cà phê TLH 4-18%, DTN 25 ha (Cư Bao, Cư Pơng, Dliê Ya, Ea Drông...), tăng 15 ha, so với kỳ trước; rụng quả cà phê TLH 3-10%, DTN 15 ha (Buôn Hồ, Ea Wy, Tam Giang...), tăng 10 ha so với kỳ trước; rệp vảy TLH 3-16%, DTN 14 ha (Krông Pắc, Ea Kar, Ea Phê), tăng 14 ha so với kỳ trước;…Cây tiêu: Bọ xít lưới TLH 6-25%, DTN 25 ha (Krông Năng, Dliê Ya, Pơng Drang, Ea Knốp, Ea Hiao...), tăng 3,7 ha so với kỳ trước; bệnh chết chậm TLH 3-10%, DTN 20,5 ha (Krông Búk, Ea H’leo, Ea Ô...), tăng 8,5 ha so với kỳ trước; bệnh chết nhanh TLH 2-11%, DTN 12,5 ha (Buôn Hồ, Ea Wy, Dliê Ya...), tăng 5,5 ha so với kỳ trước; bệnh đốm tảo TLH 6-25%, DTN 08 ha (Krông Pắc, Ea Kar), tăng 05 ha so với kỳ trước...[3] Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong kỳ báo cáo, trên địa bàn tỉnh phát sinh làm chết và tiêu hủy 5.022 con lợn, khối lượng tiêu hủy là 331.366 kg. Tại 267 hộ, 95 thôn; 14 xã, phường. Lũy kế, từ đầu năm đến nay, Dịch bệnh DTLCP trên địa bàn tỉnh phát sinh và tiêu hủy 10.197 con lợn, khối lượng tiêu hủy là 615.089 kg, tại 491 hộ, 206 thôn/buôn, 62 xã/phường Hiện nay, có 36 xã, phường chưa qua 21 ngày.Dịch bệnh Viêm da nổi cục (VDNC): Trong kỳ báo cáo không phát sinh thêm mới. Lũy kế, tại tỉnh Đắk Lắk, bệnh VDNC trên trâu, bò phát sinh tại 6 hộ, 03 thôn của 02 xã (Ea Bung và Ea Súp) tổng số mắc bệnh là 08 con, chết và tiêu hủy 04 con, khối lượng tiêu hủy là 364 kg.[4] Các lâm trường + cá thể.[5] Chia ra: cá các loại 1.500 tấn, giảm 0,66% (trong đó: cá ngừ đại dương 55 tấn, giảm 6,78% và chiếm 3,67% trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển), tôm 10 tấn, giảm 9,09%, thủy sản khác 136 tấn, giảm 0,73% so cùng kỳ năm truớc.[6] Giá các phương tiện đi lại tăng 0,88%; giá phụ tùng tăng 0,21%; dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,63%; dịch vụ bưu điện tăng 0,06%.[7] Gạo tăng 1,45%, đặc biệt gạo tẻ thường tăng 1,54%; bột mì và ngũ cốc khác tăng 1,25%, lương thực chế biến tăng 0,15%.[8] Giá thịt gia cầm tăng 1,10%; Giá thịt chế biến cũng tăng 0,38%; Giá trứng các loại cũng tăng 3,87%. Giá thuỷ sản chế biến tăng nhẹ 1,80%. Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 20,49%, giá quả tươi, chế biến tăng 2,65%; chuối tăng 8,23%, táo tăng 2,60%, các loại quả có múi tăng 2,59%. Giá dầu ăn, mỡ và chất béo khác tăng 0,88%; các loại đậu, hạt tăng 1,50%; đồ gia vị tăng 0,23%; nước mắm, nước chấm tăng 0,52%; sữa, bơ, phô mai tăng 0,25%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,07%.[9] Thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,04%; đồ dùng trong nhà tăng 0,07%[10] May mặc khác tăng 0,23%; giày dép tăng 0,63%; dịch vụ may mặc tăng 0,65%[11] Giá thuốc các loại tăng 0,09%; dụng cụ y tế tăng 0,09%[12] Ban hành Quyết định thành lập đoàn người có công với cách mạng của tỉnh đi điều dưỡng tập trung năm 2025: Đợt 3 tại tỉnh Vĩnh Long, với số lượng 58 người; Đợt 4 tại tỉnh Khánh Hoà, với số lượng 73 người; Đợt 5 tại tỉnh An Giang, với số lượng 80 người; Đợt 6 tại tỉnh An Giang, với số lượng 99 người; đồng thời ban hành Quyết định điều dưỡng tại nhà năm 2025 đối với người có công của các xã, phường, với số lượng 175 người, số tiền 439,3 triệu đồng;...[13] UBND tỉnh hiện đang kiến nghị Trung ương tiếp tục hỗ trợ khoảng 2.000 tấn gạo để phân bổ cho 15 địa phương trong đợt 03.[14] Thành lập Ban Tổ chức Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, năm 2025-2026; Ban hành Điều lệ khung và Điều lệ tổ chức thi đấu 03 môn: Bóng đá nam 7 người, Karate và Taekwondo Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh; thành lập Đoàn vận động viên của tỉnh và cử trọng tài tham gia điều hành các nội dung thi đấu tại Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ XIV, khu vực II tổ chức từ ngày 15 - 24/11/2025 tại tỉnh Đồng Nai (tỉnh Bình Phước cũ); ban hành Kế hoạch tổ chức Giải Chạy bộ Marathon “Đường chạy Bình minh - Sunrise Chanllenge” tỉnh Đắk Lắk năm 2026; Kế hoạch và Điều lệ Liên hoan Lân Sư Rồng tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, năm 2025 - Cúp Tùng Duy.[15] Như: Triển khai cuộc thi nghiên cứu KHKT dành cho học sinh THCS và THPT; Hướng dẫn các trường lồng ghép giáo dục kỹ năng số, tư duy máy tính và kiến thức về an toàn mạng vào chương trình học và các hoạt động ngoại khóa cho học sinh; hướng dẫn thành lập, phát triển các câu lạc bộ khoa học, công nghệ (robotics, lập trình, khoa học môi trường) trong các trường học, tạo không gian tự do khám phá và thử nghiệm; hướng dẫn xây dựng thư viện số và các phòng thí nghiệm mini tại trường học để hỗ trợ hoạt động nghiên cứu; ban hành quy chế sử dụng Sổ điểm điện tử, Học bạ điện tử/Học bạ số;...[16] Triển khai thực hiện Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025-2035 và định hướng tới năm 2045.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025
  •   04/11/2025 14:44

Tháng 10 năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế cả nước tiếp tục phục hồi tích cực, các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng đã đạt kết quả khả quan, cụ thể: Lúa vụ Mùa 2025 được đẩy nhanh tiến độ; thu ngân sách nhà nước, chỉ số phát triển công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục tăng trưởng cao; giải ngân vốn đầu tư công có nhiều tín hiệu tích cực; nhiều sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch được tổ chức nhằm phát huy lợi thế vùng núi và biển đã thu hút một lượng lớn khách du lịch đến với tỉnh; các cấp chính quyền đã nhanh chóng triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng, đảm bảo bộ máy hoạt động thông suốt và hiệu quả; các chính sách xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời, chăm lo đời sống nhân dân; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.  Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tiếp tục chịu ảnh hưởng dịch bệnh, thiên tai; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tuy được đẩy mạnh nhưng vẫn còn chậm ở một số dự án; giải quyết việc làm và thu hút lao động còn gặp khó khăn; vi phạm lâm luật và trật tự an toàn giao thông vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương ít nhiều đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân. 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng 10/2025 tập trung gieo trồng vụ Mùa; Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định; Sản xuất lâm nghiệp tập trung vào công tác trồng rừng; Công tác nuôi trồng và khai thác thủy sản có nhiều thuận lợi. a)  Nông nghiệp Trồng trọt: Tính đến ngày 20/10/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng được 172.661 ha lúa nước, tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Lúa đông xuân: Kết thúc vụ đông xuân, toàn tỉnh gieo trồng 75.973ha, tăng 2,53% so với vụ đông xuân năm trước; năng suất thu hoạch đạt 77,01 tạ/ha, giảm 0,84% (- 0,65 tạ/ha) do mất trắng hoàn toàn 87ha ở xã Hòa Xuân và xã Tây Hòa làm ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch lúa; sản lượng thu hoạch 584,4 ngàn tấn, tăng 1,9% (+ 10,9 ngàn tấn). Lúa he thu: Toàn tỉnh gieo trồng được 24.720 ha, so với cùng vụ năm trước giảm 0,08% (- 20ha). Hiện nay, lúa vụ Hè thu đã thu hoạch xong, năng suất thu hoạch đạt 71,09 tạ/ha, giảm 0,45 tạ/ha so vụ hè thu năm 2024. Nguyên nhân thời điểm lúa trổ gặp trời âm u và vừa qua do ảnh hưởng của bão số 6 đã gây ra mưa lớn trên địa bàn làm ngập úng nhiều diện tích vùng trũng thấp gây hư hại làm ảnh hưởng đến năng suất. Các vùng lúa trọng điểm của đông Đắk Lắk có năng suất giảm: Xã Phú Hòa 1, xã Phú Hòa 2, xã Tây Hòa…Lúa mùa: Đến nay, các địa phương trong tỉnh đã gieo cấy ước đạt 71.968 ha, tăng 0,35% so với cùng vụ năm trước. Nhờ thời tiết có mưa khắp các vùng nên bà con nông dân làm đất xuống giống kịp thời vụ. Nhìn chung, cây lúa vụ mùa phát triển bình thường.         Cây hàng năm khác: Tính từ đầu vụ đông xuân đến ngày 20/10/2025, trên địa bàn tỉnh ước tính đã gieo trồng được: Ngô 65.896 ha, giảm 0,67%; khoai lang 5.216 ha, tăng 0,34%; đậu tương 774 ha, giảm 5,18%; lạc 3.961 ha, tăng 1,11%; rau các loại 19.930 ha, tăng 2,19%; đậu các loại 18.437 ha, bằng 99,78%... so với cùng kỳ năm trước. Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng. Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc bảo vệ thực vật, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật mộtcách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường. Cây lâu năm: Hiện nay các địa phương đang tập trung chăm sóc vườn cây như: Phát tán bờ lô, bón phân chống rụng quả, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Công tác trồng mới cây lâu năm cũng được các địa phương trong tỉnh đang chuẩn bị cây giống, đào hố, phân bón để trồng mới năm 2025. Theo đánh giá của cơ quan chuyên ngành thì số diện tích cây lâu năm trồng mới năm nay chủ yếu là tái canh các vườn cây lâu năm đã già cỗi như: cà phê, tiêu, điều, … ít mở rộng diện tích so với các năm trước. Diện tích một số cây trồng chính như sau: Cà phê 214.266 ha, Cao su 33.353 ha, Tiêu 28.321 ha, Điều 27.586 ha, Sầu riêng 40.780 ha, Bơ 4.085 ha. Tình hình sâu bệnh trên cây công nghiệp lâu năm: Thời điểm hiện nay là mùa mưa, độ ẩm cao rất thích hợp cho các loại sâu bệnh, nấm, sinh vật gây hại trên cây công nghiệp lâu năm, các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh, cụ thể dịch bệnh đã xảy ra trên từng loại cây trồng. Công tác chăn nuôi, thú y  Chăn nuôi: Hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh được sự quan tâm với những chính sách của Nhà nước về phát triển chăn nuôi. Công tác thú y luôn được các cấp, các ngành quan tâm, ý thức phòng chống dịch bệnh của các hộ chăn nuôi thường xuyên được coi trọng như: Vệ sinh chuồng trại, kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển và giết mổ, công tác tổ chức tiêm phòng các loại vắc xin được triển khai đồng bộ ở các địa phương nên cơ bản đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định theo hướng đẩy mạnh chất lượng sản phẩm. Công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được tỉnh chỉ đạo tích cực, theo dõi chặt chẽ, tuy nhiên dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến ngành chăn nuôi, nguồn cung thực phẩm và môi trường. Tình hình dịch tả lợn Châu Phi, bệnh viêm da nổi cục, bệnh LMLM trên trâu, bò, bệnh dại vẫn xảy ra một số địa bàn trong tỉnh Ước tính đến cuối tháng 10/2025, đàn trâu, bò có xu hướng giảm số lượng đầu con, tập trung vào tăng trọng lượng khi xuất chuồng. Đàn trâu hiện có khoảng 32.073 con, giảm 0,66%; đàn bò hiện có khoảng 403.544 con, giảm 1,98% (trong đó, đàn bò sữa có 4.494 con, tăng 27,85% nhờ doanh nghiệp tăng đàn); đàn lợn thịt hiện có khoảng 1.225.422 con, tăng 2,76%; đàn gia cầm hiện có khoảng 21.265 nghìn con, tăng 2,06% (trong đó, đàn gà khoảng 18.707 nghìn con, tăng 2,67%) so cùng kỳ năm trước. Công tác kiểm dịch: Trong tháng 10/2025, Chi cục thú y các cấp đã kiểm dịch xuất tỉnh được 816.230 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Trâu 149 con, bò 355 con,heo 61.402 con, gà 750.024 con, vịt và ngan 4.300 con. Lũy kế 10 tháng năm 2025 kiểm dịch xuất tỉnh được 6.282.231 con gia súc, gia cầm. Kiểm dịch nhập tỉnh tháng 10/2025 được 1.643.344 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Bò 275 con, heo 49.022 con, gà 1.072.681 con, vịt và ngan 521.366 con; thịt trâu bò 1.665 kg, thịt gia cầm 19.213 kg, thịt heo 15.938 kg; kiểm soát giết mổ được 19.210 con; gia súc, gia cầm xuất, nhập tỉnh với mục đích chăn nuôi (Xuất tỉnh: Heo 19.873 con, gà 705.117 con. Nhập tỉnh: Bò 127 con, heo 46.497 con, gà 1.064.761 con, vịt và ngan 468.536 con). Lũy kế 10 tháng năm 2025 kiểm dịch nhập tỉnh được 12.607.082 con gia súc, gia cầm. b) Lâm nghiệp Công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được các ngành chức năng, các địa phương và các chủ rừng chú trọng thực hiện. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép vẫn còn xảy ra.  Khai thác lâm sản: Trong tháng 10/2025, sản lượng gỗ toàn tỉnh khai thác ước đạt 75.556 m3, tăng 2,73% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là gỗ nguyên liệu giấy. Tính chung 10 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 756.902 m3, tăng 3,08%. Phát triển rừng: Công tác trồng rừng và phát triển rừng được quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu năm. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp với Chi cục lâm nghiệp nghiệm thu kết quả trồng rừng năm 2024. Các công ty lâm nghiệp và địa phương đã và đang thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng tránh cháy rừng. Tính đến tháng 10 năm 2025, tổng diện tích rừng trồng mới toàn tỉnh là 7.125 ha, tăng 9,46%, chủ yếu là rừng gỗ nguyên liệu giấy. Hiện nay các địa phương đang đẩy nhanh tiến độ trồng rừng nhằm đảm bảo đúng thời gian theo kế hoạch. Quản lý bảo vệ rừng: UBND tỉnh đã chỉ đạo cho các ngành chức năng phải thường xuyên tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các chủ rừng, đơn vị triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và tổ chức triển khai công tác phòng chống chặt phá rừng tại các địa phương, đơn vị; đảm bảo công tác trực 24/24 giờ, cảnh báo và xử lý kịp thời tình huống xảy ra phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép... Trong tháng 10/2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 62 vụ (trong đó: 40 vụ phá rừng trái pháp luật, 03 khai thác rừng trái pháp luật, 02 vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 10 tàng trữ lâm sản trái phép, 07 vi phạm quy định chung của Nhà nước về BVR), lâm sản tịch thu 36,251 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 25 chiếc các loại, tổng các khoản thu 69,950 triệu đồng, tổng số tiền nộp ngân sách 64,950 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến 15/10/2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 870 vụ, trong đó phá rừng 655 vụ, diện tích rừng bị phá là 170,654 ha lâm sản tịch thu 365,486 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 169 chiếc các loại, tổng các khoản thu 2.780,043 triệu đồng. c) Thủy sản Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 10/2025 ước đạt 8.470 tấn, tăng 3,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, ước đạt 102.115 tấn, tăng 3,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng 10/2025 ước đạt 2.699 tấn, tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 2.530 tấn, tăng 4,55% (trong đó: Cá ngừ đại dương 90 tấn, tăng 2,27%, chiếm 3,55% trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển); tôm 20,5 tấn, tăng 2,50%; thủy sản khác 148 tấn, tăng 2,07%. Tính chung 10 tháng năm 2025 ước đạt 65.492 tấn, tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản khai thác nội địa tháng 10 ước đạt 257 tấn, tăng 0,49% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025 ước đạt 2.616 tấn, tăng 1,33% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 10 ước đạt 5.514 tấn, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 2.462 tấn, tăng 3,14%; tôm 2.996 tấn, tăng 2,94%; thủy sản khác 56 tấn, tăng 2%. Tính chung 10 tháng năm 2025 ước đạt 34.007 tấn, tăng 2,10% so với cùng kỳ năm trước.   d) Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) Các ngành, địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), bảo đảm tiến độ và chất lượng theo kế hoạch đề ra. Đến nay, toàn tỉnh có 764 sản phẩm OCOP (trong đó, có 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao, 10 sản phẩm tiềm năng 4 sao và 656 sản phẩm đạt 3 sao). 2. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 và 10 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá. Cả 4 ngành công nghiệp cấp I đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Nổi bật trong đó chính là ngành công nghiệp chế biến , chế tạo với mức tăng 12,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 10/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự ước tăng 15,81% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 11,16%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,62%; ngành sản xuất, phân phối điện, hơi tăng 8,89%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,97%. Một số ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, có chỉ số sản xuất tăng khá so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 45,82%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 23,65%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 17,23%; sản xuất thiết bị điện tăng 16,07% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,32% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,81%; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,73%  (có 15/21 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng so với cùng kỳ, trong đó tăng mạnh nhất là ngành dệt tăng 1,53 lần, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 30,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 26,71%.., ở chiều ngược lại có 6/21 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm, trong đó giảm mạnh nhất là ngành sản xuất giường tủ, bàn ghế giảm 18,76%); Ngành sản xuất, phân phối điện, hơi nước tăng 11,71%; Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 8,78% so cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cường mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, ký kết nhiều đơn đặt hàng trong và ngoài nước để sản xuất và xuất khẩu nên một số sản phẩm chủ lực tính chung 10 tháng năm 2025 có sản lượng tăng so cùng kỳ như: Đá xây dựng khác 1.727,2 nghìn m3, tăng 5,34%; cá ngừ đóng hộp 5.492,7 tấn, tăng 22,12%; hạt điều khô 66,7 nghìn tấn, tăng 37,82%; cà phê bột các loại 48,4 nghìn tấn, tăng 27,4%; nước tinh khiết 25,9 triệu lít, tăng 6,35%; quần áo da thuộc 10,4 triệu cái, tăng 17,12%; thủy điện và điện sinh khối 5.494,6 triệu kWh, tăng 20,83%. Bên cạnh đó một số sản phẩm giảm do nhu cầu thị trường giảm và tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế như: Vỏ bào, dăm gỗ giảm 4,36%; bàn bằng gỗ các loại giảm 19,97%; cấu kiện tháp và cột làm bằng những thanh sắt, thép giảm 41,17%. Nhìn chung, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong 10 tháng năm 2025 chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố cả thuận lợi và khó khăn. Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn gặp khó trong việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và công nghệ tiên tiến, hạn chế khả năng đổi mới dây chuyền sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Điều này khiến quá trình chuyển đổi số và công nghiệp hóa diễn ra chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật tại các khu, cụm công nghiệp chưa đồng bộ, đặc biệt ở các hạng mục then chốt như giao thông, logistics và hệ thống xử lý nước thải tập trung, làm tăng chi phí sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh và hạn chế thu hút các nhà đầu tư chiến lược có yêu cầu cao về tiêu chuẩn môi trường và vận hành. Ngoài ra, hoạt động của một số nhà máy chế biến nông sản chủ lực như đường và tinh bột sắn bị gián đoạn do yếu tố mùa vụ. Thị trường tiêu thụ vẫn gặp khó, trong khi sản lượng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản giảm do thời tiết bất lợi và giá thu mua thấp trong niên vụ trước, khiến người dân hạn chế mở rộng hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn trên, một số lĩnh vực sản xuất vẫn duy trì ổn định như: Sản xuất chế biến thực phẩm cùng với hoạt động của các nhà máy thủy điện và điện năng lượng tái tạo, góp phần giữ nhịp tăng trưởng cho ngành công nghiệp của tỉnh. 3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp Tỉnh tiếp tục đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo; bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển. Trong tháng 10/2025, dự ước có 160 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 2.080 tỷ đồng; có 40 doanh nghiệp giải thể; 50 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và 50 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tính chung 10 tháng năm 2025, dự ước có 2.538 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 67,75% so cùng kỳ năm trước) với tổng vốn đăng ký 29.714 tỷ đồng. Bên cạnh đó, có 390 doanh nghiệp giải thể (tăng 14,71%), 1.301 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 20,02%) và 483 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 2,77%). Tình hình kinh tế thế giới trong những tháng cuối năm tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu duy trì ở mức cao, cùng với khó khăn về vốn và thị trường tiêu thụ quốc tế bị thu hẹp đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh, khu vực doanh nghiệp vẫn duy trì được đà phát triển tích cực. Trong 10 tháng năm 2025, số doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh so với cùng kỳ, cho thấy môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh còn nhiều tiềm năng và sức hút. Mặc dù vậy, số doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động vẫn tăng, phản ánh những khó khăn nội tại về năng lực tài chính, quy mô và khả năng thích ứng của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Diễn biến này đòi hỏi các cấp, ngành tiếp tục theo dõi sát tình hình, triển khai kịp thời các giải pháp hỗ trợ góp phần củng cố niềm tin và thúc đẩy khu vực doanh nghiệp phát triển bền vững trong thời gian tới. 4. Đầu tư Công tác đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung chỉ đạo quyết liệt; tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị, chủ đầu tư khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn nhằm phấn đấu hoàn thành giải ngân 100% kế hoạch năm 2025. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 10/2025 ước đạt 1.174,1 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước, tăng 50,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn cấp tỉnh ước đạt 1.146,5 tỷ đồng, tăng 4,97% so với tháng trước và tăng 50,45% so với cùng kỳ năm trước; nguồn vốn cấp xã thực hiện ước đạt 27,6 tỷ đồng, giảm 3,54% so tháng trước và tăng 58,80% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn ước đạt gần 9.908 tỷ đồng, tăng 36,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 9.708,6 tỷ đồng, chiếm 97,99% tổng nguồn vốn, tăng 37,17% so với cùng kỳ chủ yếu là tăng ở nguồn vốn ODA và vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 199,4 tỷ đồng, chiếm 2,01% tổng nguồn vốn, tăng 27,92% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến ngày 23/10/2025, tỉnh đã giải ngân được 5.748,259 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước, đạt 44% kế hoạch; trong đó, vốn đầu tư phát triển thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia đã giải ngân 653,751/1.339,309 tỷ đồng, đạt 48,82% kế hoạch. Một số công trình, dự án có tiến độ và giá trị thực hiện lớn tiếp tục được đầu tư như: Dự án thành phần 3 (Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Buôn Ma Thuột – Khánh Hòa) ước đạt 2.113.160 triệu đồng; Nâng cấp Khoa Ung bướu thành Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên ước đạt 324.387 triệu đồng; Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ ước đạt 305.415 triệu đồng; Xây dựng Hệ thống chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến 2030 ước đạt 209.741 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc cầu An Hải ước đạt 196.982 triệu đồng; Đầu tư xây dựng bệnh viện sản nhi ước đạt 184.702 triệu đồng; Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (giai đoạn 1) ước đạt 174.100 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển tỉnh Phú Yên, đoạn kết nối huyện Tuy An - thành phố Tuy Hòa (giai đoạn 1) ước đạt 157.209 triệu đồng; Tuyến đường giao thông từ Cảng Bãi Gốc (Khu kinh tế Nam Phú Yên, tỉnh Phú Yên) kết nối Quốc lộ 1 đi Khu kinh tế Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) ước đạt 119.620 triệu đồng;… Một số giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công: Tỉnh tích cực phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thi công Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025, đoạn qua địa bàn tỉnh Đắk Lắk; đến nay, khối lượng thi công dự án đạt khoảng 86% giá trị hợp đồng. Đồng thời, UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai công tác chuẩn bị cho Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đoạn qua tỉnh thuộc thẩm quyền của địa phương; qua rà soát sơ bộ, có khoảng 4.380 hộ dân, tổ chức và thửa đất bị ảnh hưởng giải phóng mặt bằng, trong đó dự kiến khoảng 2.798 hộ cần bố trí tái định cư. Chỉ đạo giải quyết dứt điểm vướng mắc về mặt bằng trong phạm vi ranh giới dự án Đầu tư xây dựng Đường Hồ Chí Minh đoạn tránh phía Đông thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; đến nay đã có thông báo thu hồi đất và đang tiến hành lập giá đất đền bù cho các hộ, tiến hành di dời các hệ thống ống nước sạch trong phạm vi nút giao đầu tuyến của Dự án.  Tình hình thu hút đầu tư: Trong tháng, tỉnh đã điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 02 dự án. Luỹ kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 34 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng vốn đăng ký hơn 32.500 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư cho 74 dự án. Tỉnh tiếp tục hỗ trợ, hướng dẫn các nhà đầu tư hoàn tất thủ tục đầu tư để sớm khởi công và triển khai dự án, đặc biệt là các dự án quy mô lớn, có tính động lực, như: Dự án Đầu tư xây dựng Bến cảng Bãi Gốc; Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Hòa Tâm - Giai đoạn 1; Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp công nghệ cao Phú Yên;… nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh. 5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Tài chính: Tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai nhiều giải pháp trọng tâm điều hành công tác thu ngân sách nhà nước. Chi ngân sách vẫn đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước; đảm bảo an sinh xã hội. - Thu ngân sách nhà nước: Tính đến hết ngày 31/10, tổng thu cân đối NSNN đạt 13.966.175 triệu đồng, vượt 4,24% dự toán TW và đạt 85,63% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 24,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thu nội địa ước đạt 9.747.520 triệu đồng, vượt 6,65% dự toán TW và vượt 4,07% dự toán HĐND tỉnh, tăng 19,89%, trong đó thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 4.104.062 triệu đồng, vượt 7,16% dự toán TW và vượt 4,41% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 22,14%. Thu xổ số kiến thiết ước đạt 358.426 triệu đồng, vượt 6,99% dự toán TW giao và vượt 2,41% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 138,34%. Thu tiền sử dụng đất đạt 3.714.413 triệu đồng, đạt 98,58% dự toán TW và đạt 57,84% dự toán HĐND, tăng 32,73%. Thu xuất, nhập khẩu đạt 145.816 triệu đồng, đạt 94,07% dự toán TW và 84,78% dự toán HĐND, tăng 47,47% so cùng kỳ.- Chi ngân sách nhà nước: Tính đến hết 31/10, tổng chi ngân sách nhà nước  đạt 34.135.044 triệu đồng, đạt 86,15% dự toán TW giao và đạt 79,98% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 27,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi đầu tư phát triển 10.896.177 triệu đồng, đạt 93,03% dự toán TW giao và đạt 75,91% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 10,02%. Tổng chi thường xuyên đạt 23.235.946 triệu đồng, đạt 85,26% dự toán TW giao và đạt 84,60% dự toán HĐND giao, tăng 37,68%. Chi trả bổ sung dự trữ tài chính ước đạt 1.000 triệu đồng, đạt 40,98% dự toán TW và HĐND, không biến động so với cùng kỳ năm trước. Ngân hàng: Hoạt động tín dụng, ngân hàng trên địa bàn phát triển ổn định và an toàn. Đến hết tháng 10 năm 2025, tổng vốn huy động ước đạt 169.850 tỷ đồng, tăng 19,8% so với đầu năm; dư nợ cho vay ước đạt 250.300 tỷ đồng, tăng 11,4% so với đầu năm; nợ xấu chiếm tỷ lệ khoảng 0,88% trên tổng dư nợ, duy trì trong ngưỡng an toàn. Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh triển khai hiệu quả các chương trình tín dụng, cơ bản đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo và các hộ có hoàn cảnh khó khăn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu an sinh xã hội tại địa phương. Đến hết tháng 10 năm 2025, dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 14.012 tỷ đồng, tăng 9,09% so với đầu năm, với 326.734 khách hàng còn dư nợ. Công tác bảo hiểm: Tính đến hết tháng 10 năm 2025, toàn tỉnh ước có 2.587 nghìn người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, đạt 98% kế hoạch, tăng 2% so cùng kỳ. Tổng số tiền thu được là 6.570 tỷ đồng (đạt 85% kế hoạch, tăng 20% so cùng kỳ); tổng số tiền chi là 8.185,4 tỷ đồng (đạt 81% kế hoạch, tăng 12% so cùng kỳ); tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN là 250 tỷ đồng. 6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch a) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong những tháng cuối năm 2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển, do đây là thời điểm mà người dân có xu hướng mua sắm mạnh hơn, đồng thời các doanh nghiệp đẩy mạnh khuyến mãi, kích cầu. Thu nhập của người dân tăng, giá cả hàng hoá ổn định và nhiều chương trình, lễ hội du lịch được tổ chức đã kéo theo nhu cầu sử dụng các dịch vụ ăn uống, lưu trú, vui chơi giải trí. Đây chính là nguyên nhân làm cho Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 và 10 tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2025 ước đạt 16.684,8 tỷ đồng, tăng 2,13% so với tháng trước và tăng 14,21% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 155.527,2 tỷ đồng tăng 14,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 13.959,6 tỷ đồng, tăng 2,48% và tăng 13,84%, chiếm 83,20% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2025. Một số mặt hàng bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước như: nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 91,18%; xăng, dầu các loại tăng 23,99%; nhiên liệu khác tăng 28,05%;... Tính chung 10 tháng, Doanh thu bán lẻ hàng hoá ước đạt 129.397,1 tỷ đồng tăng 13,27%, chiếm 83,20% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2025. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao: xếp thứ nhất là đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 46,36%; tiếp theo là ô tô các loại tăng 31,27%; nhiên liệu khác tăng 22,66%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 17,52%… Một số mặt hàng có mức tăng thấp hơn mức tăng chung như: Hàng may mặc chỉ tăng 3,43%; hàng hoá khác tăng 3,59%; …Các mặt hàng này đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ.  Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.781,6 tỷ đồng, tăng 0,24% so với tháng trước, tăng 18,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 161,2 tỷ đồng, giảm 6,52% và tăng 12,25%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 1.620,4 tỷ đồng, tăng 0,97% và tăng 18,81%. Tính chung 10 tháng, Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 17.106 tỷ đồng tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.834,5 tỷ đồng tăng 25,57%; dịch vụ ăn uống đạt 15.271,5 tỷ đồng tăng 18,52%. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 14,3 tỷ đồng, giảm 13,18% và tăng 60,04%. Tính chung 10 tháng, Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch ước đạt 127,2 tỷ đồng, tăng 27,0% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 929,3 tỷ đồng, tăng 0,77% so với tháng trước và tăng 12,10% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 8.896,9 tỷ đồng, tăng 16,0% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nhóm, ngành hàng thì dịch vụ thì tăng trưởng cao nhất là ngành dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 31,12%; dịch vụ giáo dục đào tạo tăng 30,39%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 22,69%...Một số ngành có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí giảm 1,74%, dịch vụ khác chỉ tăng 11,07% so với cùng kỳ năm trước… Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Trong tháng 10/2025, do ảnh hưởng của cơn bão số 11 và 12, trên địa bàn tỉnh có mưa đã ảnh hưởng đến các hoạt động du lịch. Các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 476.594 lượt khách giảm 6,99% so với tháng trước, tăng 22,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lượt khách ngủ qua đêm là 336.215 lượt khách giảm 7,43% và tăng 22,91%; lượt khách trong ngày là 140.379 lượt giảm 5,92% và tăng 22,91%. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng số lượt khách phục vụ là 4.904.989 lượt, tăng 23,31% so với cùng kỳ năm trước; trong đó lượt khách ngủ qua đêm là 3.509.351 lượt, tăng 26,55%, khách trong ngày là 1.395.638 lượt, tăng 15,85% so với cùng kỳ năm trước. Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour trong tháng 10/2025 là 2.706 lượt, giảm 28,11% so với tháng trước và tăng 260,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khách đi trong nước là 2.434 lượt, giảm 31,46% và tăng 394,72%. Tính chung 10 tháng năm 2025 tổng số lượt khách du lịch theo tour là 29.165 lượt tăng 79,62% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khách đi trong nước là 27.028 lượt tăng 98,55%. b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất khẩu tiếp tục được quan tâm, các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết. Trong tháng 10/2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 348 triệu USD, giảm 2,68% so với tháng trước và tăng 67,71% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 3.449,4 triệu USD tăng 40,44%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1.772,2 triệu USD tăng 45,23% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2025 của tỉnh ước đạt 268 triệu USD, giảm 1,0% so với tháng trước, tăng 85,34% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu là 2.610,8 triệu USD vượt 16,81% so với KH, tăng 42,03% so với cùng kỳ trong nước. Trong đó: sản lượng cà phê đạt 217.000 tấn, tăng 6,58% so với cùng kỳ năm trước; tiêu đạt 33.600 tấn, giảm 3,27%, điều 47.300 tấn, tăng 20,12%; cao su 8.300 tấn, tăng 7,12%; hàng rau quả 400 triệu USD, tăng 48,70%, hải sản 128,2 triệu USD, linh kiện điện tử 42,5 triệu USD... Các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết. Hoạt động xuất khẩu vẫn đang trong đà tăng trưởng, một số mặt hàng giảm nhẹ do bắt đầu vào niên vụ mới nên nguồn cung dự trữ chuyển qua không còn nhiều.Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu tháng 10/2025 ước đạt 80 triệu USD, giảm 7,94% so với tháng trước, tăng 27,19% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025, kim ngạch nhập khẩu ước là 838,6 triệu USD, vượt 9,48% so với KH, tăng 35,72% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất. c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la Mỹ Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2025 có xu hướng tăng so với tháng trước. Giá thực phẩm tăng nhẹ do ảnh hưởng mưa bão, giá học phí giáo dục đại học và sau đại học tăng. Giá gas, điện, nước giảm do nhu cầu giảm. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2025 tăng 0,05% so với tháng trước; tăng 4,27% so với cùng kỳ năm trước; so với tháng 12 năm trước tăng 3,85%. Chỉ số giá bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 5,07%. Trong tháng 10/2025, so với tháng trước có 7/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,46% (CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm), trong đó cả 2/3 mặt hàng chính đều tăng: thực phẩm tăng 0,73%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,05%. Tiếp đến là nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,21% là do giá đồ cá nhân tăng trong đó trang sức tăng cao. Nhóm giáo dục tăng 0,11% (làm cho CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm) là do học phí đại học và sau đại học tăng theo quyết định tăng học phí của các trường đại học trong năm học mới 2025-2026. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,08% là do nhu cầu tăng cụ thể: Thuốc lá tăng 0,17%; rượu mạnh tăng 0,06%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,06% chủ yếu do Tivi màu tăng 0,06%; dịch vụ tráng in ảnh tăng 0,91%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03% chủ yếu ở các mặt hàng đồ gia dụng…([8]). Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01% do giá một số loại thuốc tăng nhẹ. Ở chiều ngược lại có 3/11 nhóm hàng giảm giá, trong đó giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm 1,10% là do giá xăng giảm 2,59% theo giá thế giới, giá ô tô mới giảm 0,72%, xe máy giảm 0,03%... Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11% chủ yếu ở các mặt hàng điện thoại thông minh và máy tính bảng để kích cầu tiêu dùng. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,04%, chủ yếu do giá gas giảm 1,72%. Có 01 nhóm hàng bình ổn so với tháng trước đó là nhóm may mặc, mũ nón và giày dép. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 5,07%. Có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó: tăng mạnh nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 15,72% (dịch vụ y tế tăng 19,51%) là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng…; tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 13,26%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,04% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng, một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng, các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,94% (trong đó: thực phẩm tăng 4,40%, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,90%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,40% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, tết; tương tự, nhóm May mặc, giày dép và mũ nón tăng 3,89%; nhóm giáo dục tăng 3,50% (trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,72%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,87%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,49%. Ở một diễn biến khác, toàn tỉnh có 02/11 nhóm hàng giảm, trong đó giảm mạnh nhất là nhóm giao thông giảm 2,18%, tiếp đó là nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,15% đã động tích cực đến chỉ số giá bình quân 10 tháng năm 2025. Chỉ số giá vàng tháng 10/2025 tăng 14,52% so với tháng trước, bình quân 10 tháng tăng 41,86% là do giá vàng tăng theo giá thế giới. Chỉ số giá Đô la Mỹ giảm 0,34% so với tháng trước, bình quân 10 tháng tăng 4,09%. Sức mua của những mặt hàng này ở mức bình thường. d) Hoạt động vận tải Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân cùng với vận tải hàng hoá phục vụ sản xuất, xuất, nhập khẩu tiếp tục tăng chính là nguyên nhân làm cho doanh thu vận tải tháng 10 và 10 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh tăng so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát tháng 10/2025 ước đạt 802,6 tỷ đồng, tăng 2,27% so với tháng trước, tăng 8,92% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: vận tải hành khách đạt 209,3 tỷ đồng, tăng 2,10% và tăng 23,11%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 478,0 tỷ đồng, tăng 2,18% và tăng 3,74%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 74,2 tỷ đồng tăng 7,38% và tăng 2,66%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt 40,9 tỷ đồng, giảm 4,23% so tháng trước và tăng 21,57% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025 doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 7.893,8 tỷ đồng, tăng 11,06% so cùng kỳ năm 2024. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 2.036,1 tỷ đồng, tăng 17,99%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 4.713,7 tỷ đồng, tăng 5,86%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 732,4 tỷ đồng, tăng 19,66%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt 411,6 tỷ đồng, tăng 29,74% so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển và luân chuyển hành khách trong tháng 10/2025 ước đạt 2.802 nghìn lượt khách và 267 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng 1,48% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 1,33%; so với cùng kỳ năm trước tăng 35,34% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 26,89%. Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.310 nghìn tấn và 177 triệu tấn.km, so với tháng trước tăng 2,39% về khối lượng vận chuyển và tăng 3,34% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 4,62% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,35% về khối lượng luân chuyển. Tính chung 10 tháng năm 2025, vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 24.340 nghìn lượt hành khách và 2.332 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,49% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,58% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 13.403 nghìn tấn và 1.685 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,05% về khối lượng vận chuyển và tăng 4,56% về khối lượng luân chuyển. 8. Chuyển đổi số Công tác chuyển đổi số được quan tâm, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Tổ chức thành công các hoạt động hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10, góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy phong trào chuyển đổi số trên địa bàn. Tiếp tục theo dõi, đôn đốc thực hiện cam kết và đăng ký tài khoản để tra cứu cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên Hệ thống iGate; phân quyền tài khoản tra cứu dữ liệu thống kê về Payment Platform trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và tra cứu cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên Hệ thống iGate. Đồng thời, duy trì thực hiện nhiệm vụ giám sát, điều hành đô thị thông minh theo quy định; phối hợp với Công ty iNet khai báo mã định danh cho các phòng, ban của 102 xã, phường và cấu hình hệ thống mail công vụ mới; tạo tài khoản SSO, phân quyền giám sát Dịch vụ công và giám sát dịch vụ Phản ánh hiện trường cho các xã, phường, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp. 9. Một số tình hình xã hội. a) An sinh xã hội Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa tiếp tục được quan tâm thực hiện: Tổ chức đưa đoàn người có công (85 người) đi điều dưỡng tập trung (đợt 1) năm 2025 tại thành phố Đà Nẵng; phối hợp với Trung tâm Điều dưỡng người có công phục vụ các Lễ viếng nghĩa trang liệt sĩ; phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh tìm kiếm thông tin mộ liệt sĩ;... Trong tháng, đã giải quyết chế độ đối với 138 hồ sơ người có công, thân nhân người có công và các đối tượng liên quan khác đủ điều kiện theo quy định. b) Lao động việc làm Công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm được triển khai đầy đủ, kịp thời. Thực hiện thủ tục cấp visa cho 68 người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc; tiếp nhận, hướng dẫn hồ sơ cho 68 người lao động đăng ký dự tuyển đi làm việc thời vụ tại Hàn Quốc; hoàn chỉnh hồ sơ về Quyết định phân cấp thực hiện quy định về người lao động nước ngoài. Công tác an toàn, vệ sinh lao động được quan tâm chỉ đạo, thành lập Đoàn điều tra các vụ tai nạn lao động xảy ra trên địa bàn; đồng thời yêu cầu các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện nghiêm các quy định về đảm bảo an toàn lao động. Tổ chức 02 Hội nghị tư vấn, giới thiệu việc làm, tư vấn cho 12.272 lượt người và giới thiệu việc làm cho 655 lượt người; phối hợp triển khai các thủ tục liên quan đến chương trình EPS. Công tác hỗ trợ người lao động, chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Trong tháng, đã ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.911 người, với tổng số tiền chi trả gần 38 tỷ đồng. Tư vấn học nghề cho 1.768 lượt người hưởng trợ cấp thất nghiệp. c) Hoạt động văn hóa, thể thao Văn hóa: Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa được triển khai kịp thời; các hoạt động tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh được tổ chức rộng khắp từ tỉnh đến cơ sở. Tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng thành công Đại hội với chủ đề “Đắk Lắk - Tự hào dưới cờ Đảng quang vinh”. Tổ chức Lễ kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Phú Yên (05/10/1930 - 05/10/2025) tại xã Đồng Xuân; đồng thời triển khai Kế hoạch thực hiện Đề án thành lập Công viên địa chất Phú Yên hướng tới danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO. Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống; tiếp tục công tác chỉnh lý hiện vật sau khai quật Di chỉ Thác Hai; hoàn thiện hồ sơ khoa học 06 di tích trình xếp hạng năm 2025; tổ chức Lễ Tế Thu Ất Tỵ tại Di tích lịch sử Đình Lạc Giao, cùng nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa và bản sắc địa phương. Thể thao: Các hoạt động thể dục, thể thao được triển khai theo kế hoạh. Phối hợp đăng cai tổ chức Giải cầu lông Trung cao tuổi quốc gia năm 2025; đồng thời chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ tổ chức các giải thể thao cấp tỉnh. Cử 07 đoàn thể thao của tỉnh tham gia các giải thể thao khu vực và toàn quốc d) Giáo dục - Đào tạo Các cơ sở giáo dục duy trì việc tổ chức dạy và học theo kế hoạch, triển khai các nhiệm vụ trọng tâm học kỳ I năm học 2025 - 2026. Tổ chức Kỳ thi thành lập các đội tuyển dự thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm 2025-2026 với 726 thí sinh dự thi; tổ chức thành công Tuần lễ Hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025 với hơn 1.300 đại biểu. Tham dự đầy đủ, nghiêm túc các hội nghị, hội thảo, chương trình, tập huấn chuyên môn do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức; đồng thời tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên ở các cấp học; tổ chức các Hội thảo về nâng cao chất lượng giáo dục, các kỳ thi theo kế hoạch đề ra. Chuẩn bị công tác kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia năm học 2025-2026 theo kế hoạch. Tập trung chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để khởi công xây dựng trường học tại các xã biên giới trong tháng 10/2025([12]). Kiểm tra điều kiện thành lập các trung tâm ngoại ngữ, tin học, các cơ sở kỹ năng sống và giám sát công tác tổ chức thi cấp chứng chỉ tiếng Anh quốc tế theo quy định. e) Công tác Y tế Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tỉnh quan tâm thực hiện, các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân; trong tháng, tổng số lượt khám chữa bệnh toàn tỉnh là 453.487 lượt, nội trú 44.922 lượt, ngoại trú 20.557 lượt, chuyển viện (nội trú): 2.552 trường hợp. Tăng cường công tác giám sát, theo dõi tình hình, báo cáo và xử lý dịch bệnh. Trong tháng 10/2025, toàn tỉnh ghi nhận 01 ca mắc bệnh sởi; số ca mắc bệnh tay chân miệng 167 ca; số ca mắc bệnh sốt xuất huyết là 1.665 ca. Tính chung 10 tháng, bệnh sởi có 697 ca mắc, 01 ca tử vong; bệnh tay chân miệng có 1.166 ca; bệnh sốt xuất huyết có 5.611 ca, 01 ca tử vong. Hiện nay đang là mùa cao điểm của bệnh sốt xuất huyết, tỉnh đã chỉ đạo đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống dịch nhằm hạn chế lây lan trong cộng đồng. Tiếp tục triển khai Chương trình tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin dự kiến đến cuối tháng 10/2025 đạt 63,7%. Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS: Số ca HIV/AIDS/tử vong do AIDS mới phát hiện trong tháng là 39/01/01; tích lũy 445/05/14. Số bệnh nhân điều trị bằng Methadone 10 tháng năm 2025 là 236 trường hợp. Công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm được thực hiện thường xuyên tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống; đồng thời phối hợp với Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia điều tra tình hình tiêu thụ sản phẩm dinh dưỡng công thức dạng bột dành cho trẻ từ 0 đến 36 tháng tuổi tại các hộ gia đình trên địa bàn các xã, phường. Trong tháng không xảy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm. Tính chung 10 tháng, xảy ra 6 vụ ngộ độc thực phẩm, với 81 người mắc, không có tử vong. f) Tình hình cháy nổ, vi phạm môi trường Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025 toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, thiệt hại 88 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 14/10/2025 toàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy (giảm 20 vụ so với cùng kỳ năm trước), bị thương 01 người (tăng 01 người), thiệt hại tài sản khoảng 1.215 triệu đồng (giảm 76,49%). Vi phạm môi trường: Từ ngày 15/9/2025 đến 25/10/2025 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện và xử lý 9 vụ vi phạm môi trường, xử lý vi phạm 11 vụ số tiền phạt là 1.206 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến 25/10/2025 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện và xử lý 118 vụ vi phạm môi trường (giảm 18 vụ so với cùng kỳ năm trước), xử lý vi phạm 91 vụ (tăng 8 vụ), tổng số tiền xử phạt là 6.297,8 triệu đồng (tăng 7,11%). g) Tình hình thiên tai Từ ngày 26/9/2025 đến 25/10/2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ lốc làm ảnh hưởng đến cây trồng vật nuôi, cụ thể: Diện tích lúa bị thiệt hại 1.505 ha; diện tích hoa màu bị thiệt hại 29 ha; gia cầm bị chết, cuốn trôi 410 con; giá trị thiệt hại 26.541 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 25/10/2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 12 trận thiên tai (trong đó: 07 đợt lũ, ngập lụt và 02 trận mưa lớn trái mùa kéo dài, 03 trận lốc xoáy), ước tính giá trị thiệt hại trên 109.818 triệu đồng. h) Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh được giữ vững, ổn định. Các lực lượng chức năng chủ động nắm chắc tình hình, quản lý chặt chẽ các đối tượng, kịp thời phát hiện, xử lý vụ việc phức tạp, không để phát sinh “điểm nóng”. Công tác phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn cứu hộ được tăng cường, góp phần giữ vững an ninh, an toàn cho Nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội. Từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, tăng 04 vụ; làm chết 34 người, giảm 04 người; bị thương 27 người, bằng so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 740 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 14/10/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 475 vụ tai nạn giao thông, giảm 95 vụ; làm chết 334 người, giảm 25 người; bị thương 296 người, giảm 83 người so với cùng kỳ năm trước; ước thiệt hại tài sản 5.061 triệu đồng./.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2025
  •   03/10/2025 14:24

Trong 9 tháng năm 2025, tình hình kinh tế thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; căng thẳng thương mại, xung đột quân sự, bất ổn chính trị tại một số quốc gia, khu vực tiếp tục kéo dài; thị trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động, ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu xảy ra trên diện rộng, gây hậu quả nặng nề. Trong nước, giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào tăng cao làm tăng chi phí sản xuất, vận tải, tạo áp lực lên kiểm soát lạm phát; thị trường vàng, tỷ giá diễn biến phức tạp. Thực hiện mô hình chính quyền 02 cấp từ ngày 01/7/2025, tỉnh Đắk Lắk mới được thành lập từ việc sáp nhập 2 tỉnh Đắk Lắk (cũ) và tỉnh Phú Yên. Sau sáp nhập, phát huy lợi thế kinh tế 2 vùng núi và biển của tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh 9 tháng năm 2025 có nhiều tín hiệu tích cực: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt mức khá; sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển ổn định, giá các sản phẩm nông nghiệp như cà phê, hồ tiêu tiếp tục duy trì ở mức cao; sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, huy động vốn đầu tư thực hiện, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tổng thu ngân sách nhà nước tiếp tục tục tăng so với cùng kỳ năm 2024; số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng cao; tình hình thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc; nhiều sự kiện văn hóa, lễ hội, thể thao diễn ra sôi nổi, góp phần thu hút một lượng lớn khách du lịch đến với tỉnh. Công tác an sinh xã hội, chăm sóc người có công, giảm nghèo tiếp tục được quan tâm, triển khai kịp thời. Quá trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp được theo dõi, hỗ trợ kịp thời đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và xử lý các dự án tồn đọng, kéo dài; An ninh - quốc phòng được giữ vững. Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, đó là: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 9 tháng không đạt kịch bản của tỉnh đề ra, chưa có nhiều sản phẩm mới, tổng vốn đầu tư thực hiện và thu ngân sách nhà nước không đạt kế hoạch, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh còn cao; công tác xúc tiến quảng bá du lịch mới chỉ thực hiện ở phạm vi trong nước. Việc sáp nhập cũng đặt ra những thách thức cần giải quyết như sự chênh lệch phát triển giữa các vùng, thiếu lao động kỹ năng cao và nhu cầu vốn đầu tư lớn cho hạ tầng. Bên cạnh đó, dịch bệnh trên vật nuôi, cây trồng, tình trạng thiên tai và vi phạm trật tự an toàn giao thông vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương ít nhiều đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh như sau: I. Tăng trưởng kinh tế 1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh (giá so sánh 2010) quý III/2025 đạt 23.940,1 tỷ đồng, tăng 6,26% so với cùng kỳ năm trước, giảm 1,33 điểm phần trăm so với quý II/2025. Trong đó: Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đạt 6.460,7 tỷ đồng, tăng 5,53%; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 5.420,8 tỷ đồng, tăng 7,16%; Khu vực Dịch vụ đạt 11.121,1 tỷ đồng, tăng 6,36% so với cùng kỳ năm trước. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 931,5 tỷ đồng, tăng 4,99% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản phẩm (GRDP) 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh (giá so sánh 2010) ước đạt 67.835,5 tỷ đồng, đạt 65,50% kế hoạch, tăng 6,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản đạt 18.158,5 tỷ đồng, đạt 55,61% kế hoạch, tăng 5,39%, đóng góp đóng góp 21,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 15.154,6 tỷ đồng, đạt 68,46% so kế hoạch, tăng 9,34%, đóng góp 29,74%; Khu vực Dịch vụ đạt 29.476,9 tỷ đồng, đạt 65,95% kế hoạch, tăng 7,22%, đóng góp 48,91% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 2.916,2 tỷ đồng, đạt 71,30% kế hoạch, tăng 0,96% so với cùng kỳ năm trước. Bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế tỉnh cho ta thấy Khu vực Dịch vụ chính là điểm sáng nhất với tốc độ tăng trưởng 7,22%, đóng góp lớn nhất 3,36 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Xét về mức độ đóng góp của các ngành trong Khu vực Dịch vụ cho thấy ngành bán buôn bán lẻ đóng góp lớn nhất với 0,78 điểm phần trăm và tăng 7,80%; tiếp đến là ngành Hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội đóng góp 0,41 điểm, tăng 11,10%; ngành giáo dục đóng góp 0,39 điểm và tăng 6,91%; ngành hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm đóng góp 0,37 điểm phần trăm và tăng 0,37%; ngành dịch vụ lưu trú ăn uống đóng góp 0,35 điểm và tăng 9,42%...Mặc dù không có ngành nào tăng trưởng âm tuy nhiên một số ngành còn lại tăng thấp hoặc đóng góp ít như: ngành y tế và hoạt động cứu trợ chỉ tăng 1,43%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 5,71% so với cùng kỳ năm trước... Khu vực Công nghiệp - Xây dựng tiếp tục vượt Khu vực Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản khi vươn lên đứng thứ 2 với mức tăng khá cao 9,34%, đóng góp 2,04 điểm phần trăm chủ yếu là do đóng góp của ngành công nghiệp (1,51 điểm, tăng 10,68%). Nổi bật trong ngành công nghiệp, chính là ngành sản xuất và phân phối điện tăng trưởng khá 13,42% so với cùng kỳ, đóng góp 0,98 điểm là do trong kỳ trên địa bàn tỉnh không xảy ra hiện tượng hạn hán, nguồn nước cung cấp cho các nhà máy thuỷ điện dồi dào, bên cạnh đó các công trình điện gió, điện mặt trời hoạt động ổn định. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tuy tăng trưởng song biên độ tăng đã giảm nhiêu so với thời điểm cuối năm 2024 và chỉ đóng góp 0,45 điểm. Dự báo trong năm 2025 ngành này sẽ tiếp tục chịu tác động của giá nguyên, nhiên vật liệu tăng cao, đơn hàng bị giảm, thị trường xuất, nhập khẩu bị sụt giảm do căng thẳng chính trị giữa các quốc gia lớn trên thế giới. Ngành cung cấp nước, hoạt động xử lý rác thải ổn định, tăng 9,93%, đóng góp 0,04 điểm; ngành khai khoáng tăng 7,08% đóng góp 0,03%. Riêng đối với ngành xây dựng mức tăng khá thấp so với mức tăng chung của khu vực công nghiệp – xây dưng, khi chỉ tăng 6,91%, đóng góp 0,53 điểm là do các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh đang gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn cũng như công tác thi công giải phóng mặt bằng... Đứng ở vị trí cuối trong 3 khu vưc đó là Khu vực Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản  đóng góp 1,46 điểm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, trong đó ngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo với mức tăng 5,61%, đóng góp 1,25 điểm phần trăm. Trong kỳ, điều kiện thời tiết, khí hậu nhìn chung vẫn thuận lợi nên diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng vẫn tăng so với cùng kỳ. Đặc biệt, giá các loại nông sản, hoa quả như tiêu, điều, cà phê, sầu riêng đều tăng đã góp phần ổn định thu nhập cho người dân, nâng cao giá trị sản phẩm. Ngành lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì mức đóng góp ổn định. Tuy nhiên, giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi vẫn đang ở mức cao ít nhiều đã tác động đến quá trình sản xuất của khu vực này. So với cùng kỳ năm trước, Thuế sản phẩm và trừ trợ cấp sản phẩm 9 tháng năm 2025 tăng 0,96% và đóng góp 0,04 điểm vào vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): Giá trị tổng sản phẩm ước đạt 142.730,5 tỷ đồng, đạt 62,26% kế hoạch năm. Trong đó: Khu vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản ước đạt gần 42.339 tỷ đồng, đạt 53,49% kế hoạch, chiếm 29,66% trong giá trị tổng sản phẩm; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 29.267,2 tỷ đồng, đạt 58,67 kế hoạch, chiếm 20,51%; Khu vực Dịch vụ đạt 64.986,7 tỷ đồng, đạt 71,04, chiếm 46,67%. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 6.137,6 tỷ đồng, chiếm 4,30% tổng giá trị sản phẩm theo giá hiện hành.   Cơ cấu kinh tế của tỉnh trong 02 năm gần đây nhìn chung ổn định, khu vực dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế với xu hướng tăng dần tỷ trọng. Việc tái cơ cấu nông nghiệp bền vững trong đó ưu tiên phát triển nông nghiệp công nghệ cao chính là một trong những mục tiêu hàng đầu mà tỉnh đặt ra trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản  Trong 9 tháng đầu năm 2025, ngành nông nghiệp tỉnh tiếp tục triển khai hiệu quả cơ cấu lại ngành; mở rộng các vùng sản xuất tập trung. Sản xuất vụ Đông Xuân vượt kế hoạch, tuy nhiên vụ Hè Thu chịu ảnh hưởng thời tiết nên năng suất giảm nhẹ. Cây lâu năm phát triển ổn định, sản lượng cà phê, hồ tiêu, sầu riêng tăng khá, giá cả thị trường duy trì ở mức tốt. Dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được kiểm soát. Chăn nuôi duy trì ổn định, sản lượng thịt hơi tăng. Lâm nghiệp chú trọng bảo vệ rừng, tăng cường trồng rừng và kiểm soát vi phạm. Thủy sản phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng so với cùng kỳ. Chương trình nông thôn mới và OCOP tiếp tục được triển khai tích cực. a) Nông nghiệp Sản lượng lương thực có hạt dự 9 tháng đầu năm 2025 đạt 1.070.157 tấn, tăng 0,63% so với chính thức năm trước. Lúa đông xuân: Kết thúc vụ đông xuân, toàn tỉnh gieo trồng 75.973 ha, tăng 2,53% so với vụ đông xuân năm trước; năng suất thu hoạch đạt 77,01 tạ/ha, giảm 0,84% (giảm 0,65 tạ/ha) do mất trắng hoàn toàn 87 ha ở xã Hòa Xuân và xã Tây Hòa làm ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch lúa; sản lượng thu hoạch 584,4 ngàn tấn, tăng 1,9% (tăng 10,9 ngàn tấn).       Lúa hè thu: Toàn tỉnh gieo trồng được 24.720 ha, so với cùng vụ năm trước giảm 0,08% (giảm 20 ha); Năng suất bình quân ước đạt 70,81 tạ/ha, giảm 0,79% (giảm 0,56 tạ/ha). Nguyên nhân giảm là do năng suất lúa vụ Hè Thu năm 2024 là năm được mùa cao nhất từ năm 2021 đến nay, ngoài ra thời điểm lúa trổ gặp trời âm u và do ảnh hưởng của bão số 6 đã gây ra mưa lớn trên địa bàn làm ngập úng nhiều diện tích vùng trũng thấp gây hư hại làm ảnh hưởng đến năng suất. Các vùng lúa trọng điểm của Đông Đắk Lắk (huyện cũ) có năng suất giảm: Phú Hòa giảm 2,1 tạ/ha; Tây Hòa giảm 1,2 tạ/ha và Đông Hòa giảm 0,32 tạ/ha; Sản lượng thu hoạch ước đạt 175,04 ngàn tấn, giảm 0,87% (giảm 1,53 ngàn tấn). Lúa mùa: Đến nay, các địa phương trong tỉnh gieo cấy ước đạt 67.520 ha, nhờ thời tiết có mưa khắp các vùng nên bà con nông dân làm đất xuống giống kịp thời vụ. Nhìn chung, cây lúa vụ mùa phát triển bình thường. Cây hàng năm: Tính từ đầu vụ Đông xuân đến ngày 20/9/2025 đã gieo trồng được: Ngô ước đạt 59.031 ha, giảm 0,24%; khoai lang 4.911 ha, tăng 0,27%; lạc 3.298 ha, tăng 0,51%; rau các loại 17.782 ha, tăng 1,07%; đậu các loại 16.431 ha, giảm 0,6%... so với cùng kỳ năm trước.      Cây lâu năm     Diện tích cây cà phê toàn tỉnh ước tính 214.266 ha, chiếm 55,16% tổng diện tích cây lâu năm. Hiện nay, cây cà phê đang được đầu tư chăm sóc, phát tán bờ lô, bón phân chống rụng quả, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng.     Diện tích cây cao su toàn tỉnh ước tính 33.353 ha, chiếm 8,59% tổng diện tích cây lâu năm. Sản lượng mủ cao su khai thác 9 tháng năm 2025 ước đạt khoảng 35.504 tấn, tăng 3,93% so với cùng kỳ năm trước.       Diện tích cây tiêu toàn tỉnh ước tính 28.321 ha, tăng 0,07% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 7,29% tổng diện tích cây lâu năm. Hiện nay, toàn tỉnh đã thu hoạch xong cây tiêu. Ước tính sản lượng đạt 79.855 tấn, tăng 5,79% so với cùng kỳ năm trước. Giá hồ tiêu tại Đắk Lắk có xu hướng tăng nhưng không cao đỉnh điểm như các năm trước, việc giá tiêu tăng giúp người dân phấn khởi và chăm sóc cho cây tiêu tốt hơn để đạt được sản lượng tốt nhất.       Diện tích cây điều toàn tỉnh ước tính 27.586 ha, chiếm 7,10% tổng diện tích cây lâu năm. Sản lượng điều ước đạt khoảng 40.353 tấn, tăng 4,60% so với cùng kỳ năm trước.     Diện tích cây ăn quả của tỉnh ước hiện có 79.075 ha, trong đó một số cây ăn quả trọng điểm, có giá trị kinh tế cao như: Diện tích cây sầu riêng ước đạt 40.780 ha, chiếm 51,57% trong tổng diện tích cây ăn quả của tỉnh. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đang thu hoạch giống sầu riêng thường (loại sầu riêng hạt), sầu riêng Ri6, Musang King. Ước sản lượng 9 tháng 2025 đạt 343.212 tấn, tăng 20,95% so với cùng kỳ năm trước do đó đã đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ tăng cao của Trung Quốc theo dự báo trước đó. Diện tích cây bơ ước đạt 4.085 ha, chiếm 5,17% trong tổng diện tích cây ăn quả của tỉnh. Ước sản lượng 9 tháng đạt 44.010 tấn, tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước.        Tình hình sâu bệnh gây hại:       Trên các loại cây trồng hàng năm: sâu bệnh gây hại diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng ([1]). Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường.       Trên cây công nghiệp lâu năm: Thời điểm hiện nay là mùa mưa, độ ẩm cao rất thích hợp cho các loại sâu bệnh, nấm, sinh vật gây hại trên cây công nghiệp lâu năm, các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh, cụ thể dịch bệnh đã xảy ra trên từng loại cây trồng[2].       Chăn nuôi       Hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh được sự quan tâm với những chính sách của Nhà nước về phát triển chăn nuôi. Công tác thú y luôn được các cấp, các ngành quan tâm, ý thức phòng chống dịch bệnh của các hộ chăn nuôi thường xuyên được coi trọng như: Vệ sinh chuồng trại, kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển và giết mổ, công tác tổ chức tiêm phòng các loại vắc xin được triển khai đồng bộ ở các địa phương nên cơ bản đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định theo hướng đẩy mạnh chất lượng sản phẩm. Công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được tỉnh chỉ đạo tích cực, theo dõi chặt chẽ, tuy nhiên dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến ngành chăn nuôi, nguồn cung thực phẩm và môi trường. Tình hình dịch tả lợn Châu Phi, bệnh viêm da nổi cục, bệnh LMLM trên trâu, bò, bệnh dại vẫn xảy ra một số địa bàn trong tỉnh([3]).       Đàn trâu, bò có xu hướng giảm về số lượng đầu con, tập trung vào tăng trọng lượng khi xuất chuồng. Ước số lượng đàn trâu hiện có 32.351 con, giảm 1,50% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng thịt trâu xuất chuồng trong quý III/2025 ước đạt 858 tấn, tăng 5,18% so với cùng quý năm trước; lũy kế 9 tháng, sản lượng thịt trâu xuất chuồng ước đạt 2.616 tấn, tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước. Đàn bò hiện có khoảng 402.448 con, giảm 2,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: bò sữa đạt 4.642 con, tăng 32,06% so với cùng kỳ năm trước do doanh nghiệp tăng đàn; Sản lượng thịt bò xuất chuồng trong quý III/2025 ước đạt 9.673 tấn, tăng 3,59%; lũy kế 9 tháng ước đạt 29.783 tấn, tăng 2,44%, sản lượng sữa bò tươi trong quý III/2025 ước đạt 6.248 tấn, tăng 15,54%; lũy kế 9 tháng ước đạt 19.263 tấn, tăng 24,36% so với cùng kỳ năm trước.       Đàn lợn thịt hiện có khoảng 1.226.068 con, tăng 2,42% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng trong quý III/2025 ước đạt 57.871 tấn, tăng 6,42% so với cùng quý năm trước. Tính chung 9 tháng, sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng trên địa bàn tỉnh ước đạt 174.982 tấn, tăng 6,99%.        Đàn gia cầm hiện có khoảng 21.653 nghìn con, tăng 2,37% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, đàn gà khoảng 19.191 nghìn con, tăng 3,24%. Sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng trong quý III/2025 ước đạt 29.973 tấn, tăng 6,5%. Tính chung 9 tháng, sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng ước đạt 90.695 tấn, tăng 6,26%. Ước sản lượng trứng gia cầm quý III/2025 là 218.597 nghìn quả, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng ước đạt 644.120 nghìn quả, tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước. Nhằm đảm bảo sản lượng thực phẩm trong những dịp cuối năm cũng như Tết nguyên đán sắp tới Chính phủ cũng như ngành Nông nghiệp đã và đang đưa ra các giải pháp hỗ trợ người chăn nuôi về nguồn giống, mô hình tổ chức sản xuất mới; nâng cao chất lượng, hạ giá thành thức ăn chăn nuôi; nâng cao năng lực giết mổ và chế biến sản phẩm chăn nuôi. Tính chung 9 tháng năm 2025, Chi cục thú y các cấp đã kiểm dịch, xuất tỉnh được 5.466.001 con gia súc, gia cầm. Kiểm dịch, nhập tỉnh 10.963.738 con gia súc, gia cầm. b) Lâm nghiệp Khai thác lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác ước tháng 9/2025 là 105.165 m3, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025, toàn tỉnh đã khai thác được 345.923 m3, tăng 1,51% so với cùng quý năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, sản lượng khai thác toàn tỉnh ước đạt 689.123 m3, tăng 4,19% so với cùng kỳ năm. trước. Sản lượng gỗ khai thác chủ yếu là gỗ nguyên liệu sản xuất giấy. Trong quý III/2025 sản lượng củi khai thác là 66.938 ster, tăng 32,34% so với cùng quý năm trước năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, sản lượng củi khai thác toàn tỉnh ước đạt 511.838 ster, tăng 6,63% so với cùng kỳ năm trước. Phát triển rừng: Công tác trồng rừng và phát triển rừng được quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu năm. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp với Chi cục lâm nghiệp nghiệm thu kết quả trồng rừng năm 2024. Các công ty lâm nghiệp và các địa phương đã và đang thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng tránh cháy rừng. Tính đến tháng 9 năm 2025, tổng diện tích rừng trồng mới toàn tỉnh là 5.314 ha([4]), tăng 12,44%, trong đó diện tích rừng trồng chủ yếu thực hiện trong quý III/2025 là 3.704 ha, giảm 1,02%, chủ yếu là rừng gỗ nguyên liệu giấy. Hiện nay các địa phương đang đẩy nhanh tiến độ trồng rừng nhằm đảm bảo đúng thời gian theo kế hoạch. Quản lý bảo vệ rừng: Trong những tháng đầu năm 2025, UBND tỉnh đã chỉ đạo cho các ngành chức năng phải thường xuyên tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các chủ rừng, đơn vị triển khai công tác PCCCR và tổ chức triển khai công tác phòng chống chặt phá rừng tại các địa phương, đơn vị; đảm bảo công tác trực 24/24 giờ, cảnh báo và xử lý kịp thời tình huống xảy ra phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép... Trong tháng 9/2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 70 vụ (trong đó: 42 vụ phá rừng trái pháp luật, 03 vụ khai thác rừng trái pháp luật, 02 vụ săn bắt động vật rừng trái pháp luật, 11 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 08 vụ tàng trữ lâm sản trái phép…, lâm sản tịch thu 30,717 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 09 chiếc các loại, tổng các khoản thu 181,75 triệu đồng, tổng số tiền nộp ngân sách 130,75 triệu đồng. Ước quý III/2025, trên địa bàn tỉnh có 36,22 ha rừng bị thiệt hại do chặt phá rừng, giảm 22,25% so với cùng kỳ. Tính từ đầu năm đến 15/9/2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 808 vụ, lâm sản tịch thu 333,390 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 144 chiếc các loại, tổng các khoản thu 2.710,593 triệu đồng. c) Thủy sản Nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển, một số cơ sở tiếp tục phát triển nuôi trồng các loài thủy sản đặc sản, giá trị kinh tế cao. Sản lượng thuỷ sản tháng 9/2025 ước đạt 7.452 tấn, giảm 1,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thuỷ sản nuôi trồng là 3.351 tấn, giảm 0,38%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 4.101 tấn, giảm 1,83%. Trong quý III/2025, Sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 29.818,26 tấn, tăng 2,09% so với cùng quý năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng ước đạt 12.130,46 tấn, tăng 1,42%, sản lượng khai thác ước đạt 17.687,8 tấn, tăng 2,55%. Tính chung 9 tháng anwm 2025, tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh đạt 93.441,3 tấn, tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 28.492,7 tấn, tăng 1,93%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 64.948,6 tấn, tăng 3,68% so với cùng năm trước. d) Chương trình xây dựng nông thôn mới Các ngành và các địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Đến nay, toàn tỉnh có 764 sản phẩm OCOP của 372 chủ thể (gồm: 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao, 10 sản phẩm tiềm năng 4 sao và 656 sản phẩm đạt 3 sao, 43 sản phẩm hết hạn; 02 sản phẩm bị thu hồi). 3. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh duy trì đà phát triển và đạt mức tăng trưởng khá. Cả 4 ngành công nghiệp cấp I đều có chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng so với cùng kỳ năm trước. Nổi bật trong đó chính là ngành sản xuất và phân phối điện, hơi nước với mức tăng cao (+13,84%) so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 9/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự ước tăng 15,22% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,07%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,44%; ngành sản xuất, phân phối điện, hơi tăng 10,18%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 19,07%. Trong đó, có một số ngành công nghiệp cấp II chiếm tỷ trọng lớn, có chỉ số sản xuất tăng khá so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 31,25%; sản xuất đồ uống tăng 16,67%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,6%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,31%... Quý III/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự ước tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,95%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,34%; ngành sản xuất, phân phối điện, hơi tăng 5,35%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,97%. Trong đó, có một số ngành công nghiệp cấp II chiếm tỷ trọng lớn, có chỉ số sản xuất tăng khá so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 36,85%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 18,02%; sản xuất thiết bị điện tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,36% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,86%. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,76%, có 16/21 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng so với cùng kỳ, trong đó tăng mạnh nhất là ngành dệt tăng 1,53 lần; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 35,62%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 31,36%;..., ở chiều ngược lại có 5/21 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm, trong đó giảm mạnh nhất là ngành sản xuất giường tủ, bàn ghế giảm 18,45%. Ngành sản xuất, phân phối điện, hơi nước tăng 13,84%. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 9,25% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cường mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, ký kết nhiều đơn đặt hàng trong và ngoài nước để sản xuất và xuất khẩu nên một số sản phẩm chủ lực tính chung 9 tháng năm 2025 có sản lượng tăng so cùng kỳ như: Đá xây dựng khác 1.541,7 nghìn m3, tăng 5,34%; cá ngừ đóng hộp 4.919,9 tấn, tăng 23,39%; hạt điều khô 58,1 nghìn tấn, tăng 36,44%; cà phê bột các loại 42,1 nghìn tấn, tăng 21,67%; nước tinh khiết 19,2 triệu lít, tăng 4,2%; quần áo da thuộc 9,4 triệu cái, tăng 18,84%; phân khoáng hoặc phân hoá học 50 nghìn tấn, tăng 13,2%; thuỷ điện và điện sinh khối 4528,8 triệu KWh, tăng 22,73%. Bên cạnh đó một số sản phẩm giảm do nhu cầu thị trường giảm và tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế như: Vỏ bào, dăm gỗ giảm 7,38%; cấu kiện tháp và cột làm bằng những thanh sắt, thép bắt chéo nhau giảm 43,97%; bàn bằng gỗ các loại giảm 18,36% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2025 tăng 11,74% so với tháng trước và tăng 45,21% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,73% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng tiêu thụ công nghiệp chế biến, chế tạo trong 9 tháng qua là tích cực nhưng chưa đồng đều, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đang phục hồi rõ rệt ở các chế biến thực phẩm (tăng 20,96%), sản xuất trang phục (tăng 8,35%) và sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (tăng 7,68%),...; tuy nhiên, có sự sụt giảm sâu của ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện (giảm 24,79%) và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (giảm 33,26%), phản ánh khó khăn của thị trường tiêu thụ đối với nhóm sản phẩm này. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/9/2025 giảm 6,59% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 36,95% so với cùng thời điểm năm trước, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đã được cải thiện. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng ổn định, tháng 9/2025 tăng 0,53% so tháng trước và tăng 8,41% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 13,93%. Trong đó, chia theo loại hình: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 52,04%;doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,47%; riêng doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm nhẹ 0,49%. Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp tăng ở cả 4 ngành cấp I: Công nghiệp khai khoáng tăng 1,26% so với thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến chế tạo thu hút lao động, tăng 16,33%; công nghiệp sản xuất phân phối điện tăng 2,68%; công nghiệp cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,86%. Nhìn chung, sản xuất công nghiệp trong 9 tháng năm 2025 chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố cả thuận lợi và khó khăn. Trên địa bàn tỉnh, một số doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn và công nghệ mới, hạn chế khả năng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật của các khu công nghiệp và cụm công nghiệp chưa được đầu tư hoàn chỉnh, nhất là về logistics và hệ thống xử lý nước thải, dẫn đến ảnh hưởng nhất định đến hoạt động sản xuất và thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Đồng thời, một số nhà máy sản xuất đường đã kết thúc vụ sản xuất, đang tạm ngừng hoạt động để duy tu bảo dưỡng máy móc thiết bị chuẩn bị cho vụ sản xuất tiếp theo (vụ sản xuất đường dự kiến cuối tháng 12/2025). Ngoài ra, do thị trường tiêu thụ gặp khó khăn, các nhà máy hoạt động không hết công suất; sản lượng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản trên địa bàn có lúc giảm, thời tiết không thuận lợi và giá thu mua nguyên liệu thấp trong niên vụ trước, khiến người dân hạn chế mở rộng hoặc chuyển đổi cây trồng. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn trên, một số lĩnh vực sản xuất vẫn duy trì ổn định như: sản xuất cà phê, thép, cùng với hoạt động của các nhà máy thủy điện và điện năng lượng tái tạo, góp phần giữ nhịp tăng trưởng cho ngành công nghiệp của tỉnh. 4. Hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã a) Về hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp (DN) UBND tỉnh đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Tập trung xây dựng chương trình, kế hoạch và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh và đề xuất nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2026, giai đoạn 2026-2028. Số DN thành lập mới trên địa bàn tỉnh tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng, dự ước có 2.250 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 61,01% so với kế hoạch 2025, tăng 56,90% so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký 26.630 tỷ đồng, đạt 100,68% so với KH; đồng thời, có 530 doanh nghiệp tạm ngừng đã quay trở lại hoạt động kinh doanh, tăng 70,97%. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, số lượng DN giải thể, tạm ngừng vẫn tiếp tục gia tăng, toàn tỉnh có 350 doanh nghiệp giải thể, tăng 33,59% so với cùng kỳ năm trước và 1.280 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 31,42%. Tình hình thế giới trong những tháng tiếp theo được dự báo có những diễn biến phức tạp, khó lường; DN được dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn do giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu tăng cao; khó khăn về tài chính, thị trường quốc tế bị thu hẹp tiếp tục là những cản trở trong hoạt động của DN. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh, số DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 9 tháng vẫn duy trì ở mức khá, cho thấy môi trường kinh doanh còn tiềm năng, song sức ép giải thể và tạm ngừng vẫn lớn, đòi hỏi các giải pháp hỗ trợ kịp thời. b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2025 cho thấy 29,21% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý II/2025; 46,07% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 24,72% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn. Dự kiến quý IV/2025, có 33,71% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý III/2025; 44,94% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 21,35% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Trong đó, khu vực doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lạc quan nhất với 90,91% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2025 tốt hơn và giữ ổn định so với quý III/2025; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và khu vực doanh nghiệp Nhà nước lần lượt là 77,15% và 75%. Về khối lượng sản xuất, có 31,46% số doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý III/2025 tăng so với quý II/2025; 42,70% số doanh nghiệp đánh giá ổn định và 25,84% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm. Xu hướng quý IV/2025 so với quý III/2025, có 32,58% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 43,82% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 23,60% số doanh nghiệp dự báo giảm. Về đơn đặt hàng, có 26,58% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới quý III/2025 cao hơn quý II/2025; 44,30% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng mới ổn định và 29,11% số doanh nghiệp có đơn hàng giảm. Xu hướng quý IV/2025 so với quý III/2025, có 33,33% số doanh nghiệp dự kiến số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 39,51% số doanh nghiệp dự kiến số lượng ổn định và 27,16% số doanh nghiệp dự kiến giảm. c) Tình hình phát triển kinh tế tập thể  Các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ HTX năm 2025 được quan tâm triển khai thực hiện. Thành lập mới 60 HTX, đạt 80% KH (KH: 75 HTX). Đến nay, toàn tỉnh có 930 HTX, 03 Liên hiệp HTX và 12 Quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động. 5. Hoạt động dịch vụ Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2025 tiếp tục tăng trưởng. Nhu cầu mua sắm, tiêu dùng, vui chơi, giải trí của người dân tăng cao. Thương mại điện tử tiếp tục phát triển mạnh, trở thành kênh phân phối quan trọng, góp phần phát triển chuỗi cung ứng và lưu thông hàng hóa, tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh. a) Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2025 ước đạt 16.273,7 tỷ đồng, tăng 1,28% so với tháng trước và tăng 14,52% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 13.498,3 tỷ đồng, tăng 1,15% so với tháng trước, tăng 13,31% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 82,95% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2025; so với cùng kỳ năm trước, một số mặt hàng tăng như: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 94,09%; nhiên liệu khác tăng 29,42%; ô tô các loại tăng 16,90%... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.836,9 tỷ đồng, tăng 1,82% so với tháng trước, tăng 21,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 180,3 tỷ đồng, giảm 8,71% và tăng 14,48%; dịch vụ ăn uống ước đạt 1.656,6 tỷ đồng, tăng 3,12% và tăng 18,94%. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 20,8 tỷ đồng, tăng 7,55% và tăng 80,29%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 971,7 tỷ đồng, tăng 1,99% so với tháng trước và tăng 17,78% so cùng kỳ năm 2024. Trong Quý III/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 47.947,7 tỷ đồng, tăng 3,72 so với quý II/2025, tăng 14,67% so với cùng quý năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 39.774,4 tỷ đồng, tăng 3,38% so với quý II/2025, tăng 13,62% so với cùng quý năm trước, chiếm 82,95% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III/2025. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung so với cùng kỳ đó là: đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 90,18%; nhiên liệu khác tăng 38,53%; ô tô các loại tăng 20,10%; lương thực, thực phẩm tăng 14,76%...; đã tác động tích cực đến tổng mức bán lẻ trong kỳ; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 5.445,8 tỷ đồng, tăng 6,56% so với quý II/2025, tăng 21,57% so với cùng quý năm trước, chiếm 11,36% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III/2025. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 581,9 tỷ đồng, tăng 5,91% và tăng 17,91%; dịch vụ ăn uống đạt 4.863,9 tỷ đồng, tăng 6,63% và tăng 22,02%. Doanh thu du lịch lữ hành và hỗ trợ du lịch ước đạt 56,7 tỷ đồng, tăng 29,94% và tăng 44,88%, chiếm 0,12%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 2.670,8 tỷ đồng, tăng 2,76% so với quý II/2025, tăng 16,58% so với cùng quý năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025 thì Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 138.779,1 tỷ đồng, tăng 13,99% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 115.314,3 tỷ đồng, tăng 13,08%, chiếm 83,09% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2025. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung, đó là mặt hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 41,50%; nhiên liệu khác tăng 22,26%; ô tô các loại tăng 36,59%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,23%;…Một số mặt hàng có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: hàng may mặc chỉ tăng 5,02%; hàng hoá khác tăng 5,07%; vật phẩm văn hoá giáo dục tăng 11,36%;…đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 15.383,9 tỷ đồng, tăng 19,83% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 11,09% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2025. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.681,1 tỷ đồng, tăng 27,62%; dịch vụ ăn uống đạt 13.702,8 tỷ đồng, tăng 18,94%. Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch đạt 117,7 tỷ đồng, tăng 29,15%. Dịch vụ khác đạt 7.963,2 tỷ đồng, tăng 16,40% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Ngành du lịch tiếp tục tổ chức các hoạt động, chương trình trong kế hoạch kích cầu thu hút khách du lịch năm 2025. Tháng 9/2025, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 537.128 lượt khách, giảm 2,10% so với tháng trước, tăng 28,32% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: lượt khách ngủ qua đêm là 379.720 lượt khách giảm 3,31% và tăng 30,18%, lượt khách trong ngày là 157.408 lượt tăng 0,95% và tăng 24,03%. Trong quý III/2025, tổng số lượt khách phục vụ là 1.611.748 lượt, tăng 23,04% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lượt khách ngủ qua đêm là 1.150.720 lượt, tăng 27,61%, khách trong ngày là 461.028 lượt, tăng 15,86% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, tổng số lượt khách phục vụ là 4.453.125 lượt, tăng 24,04% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lượt khách ngủ qua đêm là 3.189.672 lượt, tăng 27,61%, khách trong ngày là 1.263.453 lượt, tăng 15,86% so với cùng kỳ năm trước. Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour trong tháng 9/2025 là 4.342 lượt, giảm 30,62% so với tháng trước và tăng 104,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý III/2025 là 14.821 lượt, tăng 91,34% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025 tổng số lượt khách du lịch theo tour là 27.037 lượt, tăng 74,59%, trong đó: khách đi trong nước là 25.094 lượt, tăng 91,25% so với cùng kỳ năm trước. b) Vận tải hành khách và hàng hoá Nhu cầu di chuyển của người dân, vận chuyển hàng hoá cho sản xuất tăng cùng với đó là nhiều sự kiện văn hóa, du lịch được tổ chức trên địa bàn tỉnh chính là nguyên nhân làm cho doanh thu, khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách 9 tháng năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp vận tải trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng cường năng lực vận chuyển, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân. Tháng 9/2025, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 818,3 tỷ đồng, tăng 2,74% so với tháng trước, tăng 11,42% so cùng kỳ năm trước, trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 215,6 tỷ đồng, tăng 2,50% và tăng 25,41%; vận tải hàng hóa đạt 484,2 tỷ đồng tăng 3,15% và tăng 4,82; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 77,4 tỷ đồng, tăng 6,07% và tăng 15,67%; dịch vụ bưu chính chuyển phát ước đạt 41,1 tỷ đồng, giảm 6,01% so với tháng trước và tăng 22,24% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách ước đạt 2.858 ngàn lượt hành khách và 276 triệu lượt hành khách.km, so với tháng trước tăng 2,91% về khối lượng vận chuyển và tăng 3,26% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 9,98% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,09% về khối lượng luân chuyển; Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.485 ngàn tấn và 181 triệu tấn.km, so với tháng trước tăng 2,84% về khối lượng vận chuyền và tăng 2,79% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 4,83% về khối lượng vận chuyển và tăng 3,26% về khối lượng luân chuyển. Trong quý III/2025, ước tính doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 2.405,4 tỷ đồng, tăng 2,50% so với quý II/2025 và tăng 9,80% so cùng quý năm trước, trong đó, doanh thu vận tải hành khách đạt 629,3 tỷ đồng, tăng 3,56% và tăng 21,0%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.428,1 tỷ đồng, tăng 2,30% và tăng 4,50%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 223,4 tỷ đồng, tăng 1,18% và tăng 9,70%; bưu chính chuyển phát đạt 124,6 tỷ đồng, tăng 1,89% so với quý II/2025 và tăng 23,80% so với cùng quý năm trước. Vận chuyển và luân chuyển hành khách ước đạt 7.527 ngàn lượt hành khách và 760 triệu lượt hành khách.km, so với quý II/2025 tăng 0,59% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,27% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 12,91% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,91% về khối lượng luân chuyển; tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 4.282 ngàn tấn và 523 triệu tấn.km, so với quý II/2025 tăng 7,94% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,09% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 6,62% về khối lượng vận chuyển và tăng 2,02% về khối lượng luân chuyển. Tính chung 9 tháng năm 2028, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 7.124,7 tỷ đồng, tăng 11,84% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 1.837,3 tỷ đồng, tăng 18,11%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 4.252,1 tỷ đồng, tăng 6,52%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 666,4 tỷ đồng, tăng 23,47%; bưu chính chuyển phát đạt 368,9 tỷ đồng, tăng 30,14%; Ước tính vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 21.362 ngàn lượt hành khách và 2.080 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước trước tăng 5,96% về khối lượng vận chuyển và tăng 10,65% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 12.301 ngàn tấn và 1.510 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,78% về khối lượng vận chuyển và tăng 4,49% về khối lượng luân chuyển hàng hóa. c) Chuyển đổi số Công tác phát triển kinh tế số, xã hội số được quan tâm chú trọng thực hiện, đạt được nhiều kết quả tích cực. Tỉnh đã thực hiện kết nối, tích hợp dữ liệu giữa Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Đắk Lắk (Hệ thống iGate) với phần mềm hộ tịch, lý lịch tư pháp; kết nối, tích hợp dữ liệu giữa Hệ thống iGate với ứng dụng VNEID để thực hiện cấp phiếu lý lịch tư pháp trên ứng dụng; Thực hiện đồng bộ dữ liệu giữa Cổng dịch vụ công của tỉnh với Cổng dịch vụ công quốc gia. Triển khai đánh giá việc thực hiện Đề án Thí điểm thực hiện cơ chế giao doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích đảm nhận một số công việc trong quá trình hướng dẫn, tiếp nhận, số hóa hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh. Nâng cấp, mở rộng đường truyền, băng thông và xử lý các điểm nghẽn tại cấp xã, điểm phục vụ hành chính công cho chính quyền địa phương 02 cấp trên địa bàn tỉnh; triển khai phương án tổ chức lại kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng sau sắp xếp, hợp nhất. Đến tháng 9/2025, tốc độ truy cập mạng băng rộng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đạt mức cao, với chỉ số tải xuống mạng di động băng rộng 390 Mbps và mạng cố định băng rộng 224,6 Mbps. Tỷ lệ dân số trưởng thành có điện thoại thông minh đạt 99,6%; tỷ lệ hộ gia đình có truy nhập Internet băng rộng cáp quang đạt 83%. Hạ tầng viễn thông, Internet tốc độ cao đang mở rộng vùng phủ sóng đến toàn bộ khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Việc phủ sóng 4G đạt 99,65% dân cư, 5G đạt 26% dân cư. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giám sát, điều hành các dịch vụ đô thị thông minh của tỉnh theo quy định. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm Trong 9 tháng năm 2025, ngân hàng nước đã đẩy mạnh công tác tín dụng để hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, tập trung triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, các lĩnh vực là tiềm năng. Đối với công tác huy động: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tiếp tục chú trọng đa dạng hóa và tăng sức hấp dẫn của các sản phẩm huy động vốn, triển khai hiệu quả các chương trình huy động tiết kiệm dự thưởng, đồng thời, thực hiện tốt công tác chăm sóc khách hàng và dành nhiều ưu đãi cho sản phẩm tiền gửi tiết kiệm dài hạn...Tổng huy động vốn ước thực hiện đến tháng 9/2025 đạt 161.200 tỷ đồng, tăng 13,7% so với đầu năm 2025 và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước. Đối với công tác tín dụng: Các hoạt động tín dụng tăng khá cao, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho vay phát triển kinh tế. Uớc thực hiện đến tháng 9/2025 tổng dư nợ cho vay đạt 249.900 tỷ đồng tăng 11,2% so với đầu năm và tăng 19% so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của địa bàn khoảng 1%, thấp hơn nhiều so với hạn mức cho phép (dưới 3%). Dư nợ ước đến 30/9/2025 tại ngân hàng chính sách xã hội đạt 14.002 tỷ đồng, tăng 9% so với đầu năm và tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là cho vay hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, cho vay giải quyết việc làm, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường, cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn… Bảo hiểm: Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ước 9 tháng năm 2025 đạt 6.020 tỷ đồng, đạt 78,23% kế hoạch (KH), tăng 22,91% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi từ BHXH, BHYT, BHTB là 7.328 tỷ đồng, đạt 72,80% KH, tăng 8,49%. Ước số người tham gia bảo hiểm y tế là 2.585.000 người, đạt 97,72%, tăng 1,46%; 2. Đầu tư phát triển Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2025 đã có những tín hiệu tích cực, tỷ lệ giải ngân vốn tăng. Trong đó, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chính là điểm sáng nhất trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, khu vực nguồn vốn nhà nước vẫn thấp hơn so với cùng kỳ là do chưa khắc phục triệt để được những khó khăn, hạn chế trong quá trình thi công, thực hiện và giải ngân vốn đầu tư. Dự ước tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn quý III/2025 đạt 16.603,8 tỷ đồng, tăng 8,04% so với quý II/2025, tăng 8,82% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đầu tư nhà nước 5.157,7 tỷ đồng, tăng 4,56% và giảm 7,00%, chiếm 31,06% tổng vốn; Vốn đầu tư dân cư và tư nhân đạt 11.185,2 tỷ đồng, tăng 9,59% và tăng 23,37%, chiếm 67,37% tổng vốn; Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt 260,9 tỷ đồng, tăng 13,64% so với quý trước và giảm 59,60% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh đạt 44.749,9 tỷ đồng, tăng 7,94% so với cùng kỳ năm trước, đạt 60,7% kế hoạch năm, bao gồm: vốn nhà nước ước đạt 14.008,4 tỷ đồng, giảm 7,07% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu giảm ở khoản vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước (giảm 78,79%), vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước (giảm 91,39%), nguồn vốn nhà nước chiếm 31,30% tổng vốn đầu tư; vốn đầu tư dân cư và tư nhân đạt 29.970,7 tỷ đồng, tăng 20,82%, chiếm 66,97% tổng vốn; vốn đầu tư trực tiếp trực tiếp nước ngoài (FDI) 770,7 tỷ đồng, giảm 51,10% so với cùng kỳ. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn quý III/2025 ước đạt 3.388,9 tỷ đồng, tăng 11,42% so với quý II/2025, tăng 48,30% so với cùng quý năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.313 tỷ đồng, tăng 48% so với cùng quý năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 75,9 tỷ đồng, tăng 62,63% so với cùng quý năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh ước đạt 8.841,5 tỷ đồng, bằng 57,31% kế hoạch năm 2025, tăng 36,99%. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 8.670,8 tỷ đồng, chiếm 98,07% tổng vốn, tăng 37,29%, chủ yếu tăng ở nguồn vốn nước ngoài ODA (tăng gấp 8 lần), vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu (tăng gấp 2 lần); vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 170,7 tỷ đồng, chiếm 1,93%, tăng 23,33%. Một số công trình, dự án có tiến độ và giá trị thực hiện lớn tiếp tục được đầu tư như: Dự án thành phần 3 (Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Buôn Ma Thuột – Khánh Hoà) ước đạt 2.001.025 triệu đồng; Nâng cấp Khoa Ung bướu thành Trung tâm Ung Bướu thuộc Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên ước đạt 283.087 triệu đồng; Bệnh viện đa khoa Thị xã Buôn Hồ ước đạt 269.335 triệu đồng; Xây dựng Hệ thống chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến 2030 ước đạt 180.741 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc Cầu An Hải ước đạt 171.342 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển tỉnh Phú Yên, đoạn kết nối huyện Tuy An - thành phố Tuy Hòa (giai đoạn 1) ước đạt 167.209 triệu đồng; Đầu tư xây dựng bệnh viện sản nhi ước đạt 160.782 triệu đồng; Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (giai đoạn 1) ước đạt 134.100 triệu đồng; Tuyến đường giao thông từ Cảng Bãi Gốc (Khu kinh tế Nam Phú Yên, tỉnh Phú Yên) kết nối Quốc lộ 1 đi Khu kinh tế Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) ước đạt 106.520 triệu đồng; Kè chống sạt lở bờ tả Sông Ba kết hợp phát triển hạ tầng đô thị đoạn qua thôn Vĩnh Phú ước đạt 100.200 triệu đồng… Một số khó khăn, hạn chế: Công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư còn chậm, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án; nguồn thu tiền sử dụng đất của tỉnh còn thấp so với kế hoạch,… làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án và giải ngân vốn đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư: Công tác xúc tiến đầu tư, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, nhà đầu tư thực hiện thủ tục đầu tư, triển khai dự án và sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính chung 9 tháng 2025, UBND tỉnh đã phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư cho 34 dự án với tổng số vốn đầu tư hơn 32.500 tỷ đồng và điều chỉnh chủ trương đầu tư cho 72 dự án. Bên cạnh đó, UBND tỉnh, các sở, ngành, địa phương đã tích cực hỗ trợ các nhà đầu tư hoàn tất thủ tục đầu tư để sớm khởi công dự án, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, trong đó có một số dự án quy mô lớn, tạo động lực phát triển như: Dự án Đầu tư xây dựng Bến cảng Bãi Gốc, Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng: Khu công nghiệp Hòa Tâm - Giai đoạn 1, Khu công nghiệp công nghệ cao Phú Yên, Khu công nghiệp Phú Xuân; Nhà máy cà phê Trung Nguyên Legend lớn nhất Đông Nam Á, Tổ hợp Trung tâm thương mại, khách sạn, nhà ở Eco Palace,... Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Hiện UBND tỉnh đang giao các đơn vị tham mưu, triển khai các thủ tục tiếp theo và tiếp tục thu hút, triển khai thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đối với 06 dự án đang vận động[5]Tiếp tục phối hợp, tham mưu kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho chương trình, dự án ODA đang triển khai thực hiện và giải ngân vốn ODA đúng tiến độ, kế hoạch năm 2025. Về đầu tư hạ tầng kỹ thuật và thu hút dự án đầu tư cụm công nghiệp (CCN) Đến nay, toàn tỉnh có 19 CCN đang hoạt động với diện tích đất 856,96 ha và 03 CCN đang thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định. Ngoài ra, 02 CCN (Krông Năng, Cư Bao) có nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghị đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật CCN, hiện đang tổ chức thẩm định theo quy định. Hiện nay trong các CCN có có 202 dự án đang hoạt động, đăng ký đầu tư với tổng vốn đầu tư khoảng 8.771,7 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy khoảng 60,6%, thu hút khoảng 6.900 lao động). Về tình hình đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp (xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung): CCN Tân An 1 và 2 đã hoàn thành công tác xây dựng, hiện nay đang tiếp tục triển khai cấy men vi sinh, bùn hoạt tính xử lý và hiện đang thực hiện thủ tục liên quan đến môi trường; CCN Ea Đar đã hoàn thành thi công, đã được cấp giấy phếp môi trường và hiện đang thực hiện công tác đấu nối. Đối với CCN Ea Lê hiện đang thực hiện công tác giải phóng mặt bằng phục vụ đầu tư xây dựng đường giao thông nội bộ. 3. Thu, chi ngân sách Nhà nước Thu ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2025 tiếp tục tăng cao (+22,31%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó tăng mạnh nhất là thu tiền sử dụng đất. Chi ngân sách nhà nước đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả trong khả năng cân đối ngân sách tỉnh. Ưu tiên nguồn lực cho chi đầu tư phát triển, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội và phòng chống dịch bệnh trên người, trên gia súc, gia cầm. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách Nhà nước ước 9 tháng năm 2025 đạt 12.141.412 triệu đồng, đạt 90,62% dự toán TW giao và 74,44% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 22,31% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, một số khoản thu chính: Thu nội địa đạt 12.002.049 triệu đồng, đạt 90,63% dự toán TW và 74,37% dự toán HĐND tỉnh([6]), tăng 22,58% so với cùng kỳ năm trước. Thu sổ số kiến thiết đạt 322.318 triệu đồng, đạt 96,21% dự toán TW và 92,09% dự toán HĐND tỉnh, tăng 12,24% so với cùng kỳ năm trước. Thu tiền sử dụng đất đạt 3.319.801 triệu đồng, đạt 88,11% dự toán TW và 51,70% dự toán HĐND tỉnh, tăng 32,54% so với cùng kỳ năm trước. Thu thuế xuất, nhập khẩu đạt 139.362 triệu đồng, đạt 89,91% dự toán TW và 81,02% dự toán HĐND tỉnh, tăng 2,86%. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước địa phương 9 tháng năm 2025 thực hiện 29.067.237 triệu đồng, đạt 73,36% dự toán TW và đạt 68,10% dự toán HĐND tỉnh, tăng 21,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chi đầu tư phát triển đạt 10.279.951 triệu đồng, đạt 87,77% dự toán TW và đạt 71,62% dự toán HĐND tỉnh, tăng 13,83%; chi thường xuyên đạt 18.784.364 triệu đồng, đạt 68,93% dự toán TW và đạt 38,44% dự toán HĐND tỉnh, tăng 26,44% so với cùng kỳ năm trước. 4. Xuất , nhập khẩu hàng hoá Hoạt động xuất khẩu tiếp tục được quan tâm, các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết. Tính chung 9 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 3.082,5 triệu USD, tăng 37,08%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1.584,7 triệu USD, tăng 39,18% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu hàng hóa: Ước tháng 9/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 270 triệu USD, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 62,02% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu là 2.333,6 triệu USD vượt 4,41% so với KH, tăng 37,79% so với cùng kỳ trong nước. Trong đó: cà phê ước đạt 205.000 tấn, tăng 2,38%; tiêu đạt 30.000 tấn, giảm 3,67%, điều 41.500 tấn, tăng 19,03%; cao sư 7.500 tấn, tăng 8,21%; hàng rau củ 330 triệu USD, tăng 38,64%; hải sản 120,6 triệu USD; linh kiện điện tử 38,8 triệu USD. Giá trị các mặt hàng nông sản như cà phê, điều, cao su tăng mạnh do nguồn cung toàn cầu giảm và nhu cầu tăng mạnh ở các thị trường lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ..... Đồng thời, trước thông tin Hoa Kỳ áp thuế đối ứng lên các quốc gia, nhằm tránh ảnh hưởng của thuế đối ứng, các đơn hàng nhập khẩu của các đối tác ở các quốc gia khác tăng mạnh, các doanh nhiệp xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đã đẩy mạnh xuất khẩu một lượng lớn hàng hóa. Nhập khẩu hàng hóa: Ước tháng 9/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 75 triệu USD, giảm 2,42% so với tháng trước và giảm 2,41% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 748,9 triệu USD, đạt 97,76% so với KH, tăng 34,93% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, phân bón, máy móc thiết bị, phụ tùng và các mặt hàng để phục vụ kinh doanh, sản xuất. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 9 năm 2025 biến động ở nhiều nhóm hàng. Giá điện sinh hoạt tăng; giá xăng dầu và một số mặt hàng quần áo, giày dép tăng so với tháng 8/2025; giá gạo giảm nhẹ theo giá xuất khẩu, giá thịt heo tiếp tục giảm do tâm lý người dân e ngại dịch tả lợn Châu phi. So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,33%, tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước; so với tháng 12/2024, tăng 3,67%. Chỉ số giá bình quân quý III/2025 tăng 4,81%, bình quân 9 tháng năm 2025 tăng 5,17%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2025 tăng 0,33%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 09 nhóm có chỉ số giá tăng nhẹ; 02 nhóm giảm giá so với tháng trước. Nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,49% (làm cho CPI chung tăng 0,23 điểm phần trăm) chủ yếu do: Điện sinh hoạt tăng 2,59%; tiền thuê nhà thực tế tăng 1,96%...[7]. Nhóm giao thông tăng 0,73% (làm cho CPI chung tăng 0,08 điểm phần trăm) là do giá xăng tăng 2,06%; phương tiện đi lại tăng 0,41%. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,39% do nhu cầu quần áo, giày dép tăng, trong đó: Quần, áo cho nữ (13 tuổi trở lên) tăng 0,82%; quần, áo cho trẻ em trai (từ 2 đến dưới 13 tuổi) tăng 0,56%; Quần áo cho trẻ em gái (từ 2 đến dưới 13 tuổi) tăng 0,33%; Mũ, nón, áo mưa tăng 1,23%... Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27% do các mặt hàng giường tủ bàn ghế tăng 0,56%; máy giặt tăng 0,63%…[8]. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14% chủ yếu do đồ trang sức tăng 5,82%; máy dùng điện cho chăm sóc cá nhân tăng 1,67%[9]. Nhóm Bưu chính viễn thông tăng 0,15% là do nhu cầu của người dân tăng ở các mặt hàng điện thoại các loại. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,10% do nhạc cụ tăng 2,06%; dịch vụ tráng in ảnh tăng 0,92%. Nhóm đồ uống và Thuốc lá tăng 0,13% là do nhu cầu tiêu dùng trong các dịp lễ hội cao, cụ thể Thuốc lá tăng 0,42%; nước quả ép tăng 0,17%; nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 0,18%. Nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04% do thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng, một số loại dụng cụ y tế... tăng[10] Ở chiều ngược lại, Nhóm hàng giảm giá đó là Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,12% (làm cho CPI chung giảm 0,04 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực giảm 0,12%, chủ yếu giảm ở giá gạo[11]. Nhóm giáo dục giảm 0,02% do nhu cầu giảm đi sau tháng cao điểm mua sắm ở tháng 8 chuẩn bị cho năm học mới. Trong quý III/2025, chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 4,81% so với cùng kỳ. Có 09/11 nhóm hàng tăng giá. Trong đó, tăng mạnh nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 15,66% trong đó dịch vụ y tế tăng 13,14%. Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 14,89%. Nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 4,14%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,04%. Nhóm giáo dục tăng 3,48%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,62%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,25%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,17%. Nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,28% chủ yếu tăng ở nhóm thực phẩm tăng 2,27%, ăn uống ngoài gia đình tăng 8,31%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,46%. Ở một diễn biến khác có 02/11 nhóm hàng giảm giá đó là Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,76%, nhóm giao thông giảm 0,89%, đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng chung cho cả tỉnh bình quân quý III/2025. Bình quân 9 tháng năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,17%. Có 09/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 15,73%, trong đó dịch vụ y tế tăng 19,53% là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng…Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 13,23%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,42% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng; một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng; các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,26%, trong đó thực phẩm tăng 4,76%, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,96%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,48% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, tết. Tương tự, nhóm May mặc, giày dép và mũ nón tăng 3,94%. Nhóm giáo dục tăng 3,48%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,70%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,87%. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,45%. Có 02 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,22%; nhóm giao thông giảm 2,41%. Những mặt hàng giảm giá này đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2025.          Hiện nay, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã và đang theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, lạm phát trên thế giới và kịp thời cảnh báo các nguy cơ ảnh hưởng đến tình hình trong nước. Đặc biệt, trong việc đánh giá, nhận định các mặt hàng, nguyên vật liệu có khả năng thiếu hụt tạm thời hay trong dài hạn để từ đó đưa ra được chính sách phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa một cách bình thường. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Công thương và Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, đồng thời kết hợp Quỹ bình ổn xăng, dầu để hạn chế mức tăng giá của mặt hàng này. Thông tin kịp thời, chính xác và rõ ràng các chính sách, giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ nhằm loại bỏ thông tin sai lệch về giá cả thị trường, không để xảy ra hiện tượng lạm phát do tâm lý.       b) Chỉ số giá vàng, giá đô la Mỹ       Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá đô la tăng là do Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) điều chỉnh lãi suất đồng Đô la Mỹ và tình hình chính trị căng thẳng ở một số quốc gia lớn trên thế giới. Sức mua của loại hàng hóa này cũng ở mức bình thường.          Giá vàng tháng 9/2025 tăng 6,47% so với tháng trước; giá Đô la Mỹ tăng 0,22%. Bình quân quý III/2025, giá vàng tăng cao, tăng 50,04%, giá Đô la Mỹ tăng 5,16%, Bình quân 9 tháng năm 2025, giá vàng tăng 39,34%; giá Đô la Mỹ tăng 3,95% so với cùng kỳ năm trước.       c) Chỉ số giá sản xuất       Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2025 giảm 5,90% so với quý trước và giảm 1,21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 6,36% và giảm 1,31%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,99% và tăng 6,29%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 0,31% và giảm 0,86%.       Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý III/2025 giảm 1,95% so với quý trước và giảm 4,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 12,27% so quý trước và giảm 12,87% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản phẩm khai khoáng khác tăng 39,61% và tăng 0,36%; chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu khác tăng 3,01% và giảm 3,57%; chỉ số giá điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,41% và tăng 1,37%; chỉ số giá sản phẩm xây dựng có chỉ số không tăng so quý trước; chỉ số giá dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ không tăng so quý trước nhưng tăng 7,28% so cùng kỳ năm trước. III. Một số vấn đề xã hội 1. Lao động, việc làm Trong quý III/2025, lực lượng lao động và số người có việc làm trong quý đều tăng nhẹ so với quý trước và so với cùng kỳ. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn dẫn đến phải cho công nhân và người lao động nghỉ giãn việc, thôi việc, mất việc. Đây là một tín hiệu tích cực trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và cả nước còn nhiều khó khăn và thách thức. Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Đảng bộ và chính quyền địa phương; sự ủng hộ, tham gia tích cực của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh đã phát triển tích cực và đạt những kết quả quan trọng, khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Các chính sách về giải quyết việc làm tiếp tục được quan tâm, trung tâm dịch vụ việc làm chủ động đa dạng hóa hình thức, tăng cường chia sẻ thông tin về thị trường lao động trong tỉnh, ngoài tỉnh, xuất khẩu lao động, làm tốt vai trò là cầu nối giữa người lao động và doanh nghiệp.        a) Lực lượng lao động        Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh trong quý III/2025 dự ước 1.605.562 người, tăng 0,39% so với quý trước và tăng 0,92% so với cùng kỳ năm trước.       Trong quý III/2025, tỉnh vào mùa thu hoạch sầu riêng và các loại cây ăn quả như bơ, chôm chôm, nhãn đồng thời trùng với dịp nghỉ hè nên các hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng tăng cao nên sản xuất kinh doanh, vui chơi, giải trí phục vụ du khách trong và ngoài tỉnh đến Đắk Lắk tham quan, nghỉ dưỡng trong quý tăng, điều này đã góp phần góp phần thúc đẩy thị trường lao động ngày càng ổn định, đưa nền kinh tế của tỉnh, nhất là ngành thương mại dịch vụ ngày càng phát triển hơn.         b) Lao động có việc làm         Quý III/2025, toàn tỉnh có 1.579.206 lao động có việc làm, chiếm 98,36% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, tăng 0,59% so với quý trước và tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực: Lao động ở khu vực thành thị có 414.035 người, chiếm 26,22% lao động có việc làm, tăng 1,28% so với quý trước và tăng 1,63% so với cùng kỳ; nông thôn có 1.165.171 người, chiếm 73,78%, tăng 0,34% so với quý trước và tăng 3,81%. Chia theo giới tính: Lao động nam có 858.858 người, chiếm 54,39% lao động có việc làm, tăng 0,29% so với quý trước và tăng 2,42% so với cùng kỳ; lao động nữ có 720.348 người, chiếm 45,61%, tăng 0,95% và tăng 4,21% so với cùng kỳ. Tình hình giải quyết việc làm: Công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm được triển khai đầy đủ, kịp thời; các nhiệm vụ, giải pháp cải cách chính sách BHXH, phát triển đối tượng tham gia BHXH, công tác quản lý nhà nước về cho thuê lại lao động được tăng cường thực hiện. Các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động được đẩy mạnh như: tổ chức Ngày hội việc làm, điểm tư vấn việc làm để giới thiệu, chắp nối việc làm cho người lao động tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động; cho vay vốn duy trì, mở rộng và tạo việc làm để giúp cho người lao động tự tạo việc làm hỗ trợ cho vay vốn giải quyết việc làm, vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng,... Trong 9 tháng năm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 42.000 người, đạt 75,26% kế hoạch; xuất khẩu lao động 1.700 người, trong đó có 348 người lao động đi làm việc thời vụ trong lĩnh nông, ngư nghiệp tại Hàn Quốc. Tỷ lệ lao động tham gia BHXH đạt 15,9%. Bên cạnh đó, đã ban hành 14.221 quyết định hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp, với số tiền chi trả gần 258 tỷ đồng. Chuyển dịch cơ cấu ngành: Lao động có việc làm trong 03 khu vực kinh tế so với cùng kỳ năm trước và so với quý trước đều tăng. Trong đó, lao động trong khu vực nông nghiệp là 975.947 người, chiếm tỷ trọng lớn nhất với 61,80%, tăng 0,40% so với quý trước và tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do trong thời gian này người dân tuyển thêm lao động để thu hoạch các cây trồng ăn quả lâu năm như sầu riêng, bơ, vải; đồng thời các cây trồng lâu năm như cà phê, tiêu đang trong giai đoạn chăm sóc, bón phân, tỉa cành, tưới nước… và diễn biến thời tiết cơ bản thuận lợi. Lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng là 211.212 người, chiếm 13,37%, tăng 0,84% so với quý trước và tăng 5,19% so với cùng kỳ, chủ yếu do tình hình sản xuất của nhiều doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã ổn định trở lại. Khu vực dịch vụ có 392.047 người, chiếm 24,83%, tăng 0,93% so với quý trước và tăng 4,82% so với cùng kỳ năm trước, do quý III là mùa du lịch hè, các hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra rất sôi động, nhộn nhịp, tạo thêm nhiều việc làm mới. c) Thiếu việc làm trong độ tuổi lao động Nền kinh tế ổn định và phát triển mạnh ở tất cả các ngành kinh tế đã làm tăng nhu cầu tuyển dụng thêm lao động, lao động có việc làm không ngừng tăng lên, tỷ lệ người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ngày càng giảm. Trong quý III/2025, dự ước tỷ lệ thất nghiệp là 1,64%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 2,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. d)Thu nhập bình quân của người lao động Thu nhập bình quân của người lao động đang làm việc trong quý III/2025 dự ước 8.165,4 nghìn đồng/tháng, tăng 2,51% so với quý trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý, lao động nam có thu nhập bình quân là 9.232,9 nghìn đồng, cao gấp 1,42 lần mức thu nhập bình quân của lao động nữ. Lao động làm việc tại khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân là 9.164,0 nghìn đồng, cao gấp 1,17 lần mức thu nhập bình quân của lao động làm việc tại khu vực nông thôn. 2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Các chế độ, chính sách cho người có công, bảo trợ xã hội, trẻ em, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được quan tâm triển khai ở các cấp các ngành. Dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, các cơ quan chức năng và tổ chức xã hội đã thăm, tặng 105.899 suất quà với tổng kinh phí hơn 37 tỷ đồng. Tặng quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 30.124 suất quà, tổng kinh phí:15 tỷ đồng. Tặng cho các đối tượng chính sách người có công nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh, liệt sĩ với 54.897 suất quà, tổng kinh phí: 20 tỷ đồng… Trong 09 tháng năm 2025, đã giải quyết chế độ đối với 2.184 hồ sơ người có công, thân nhân người có công và các đối tượng liên khác đủ điều kiện. Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, giảm nghèo bền vững, an sinh xã hội được tập trung thực hiện. Đến nay, toàn tỉnh đã hỗ trợ xây mới, sửa chữa và bàn giao đưa vào sử dụng 8.915 căn nhà, đạt 100% kế hoạch và đã tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh vào ngày 16/9/2025.        3. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm       Ngành y tế tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường đầu tư trang thiết bị, giáo dục về y đức, củng cố nhân lực, nâng cao kỹ năng giao tiếp, giáo dục sức khỏe và chăm sóc bệnh nhân. Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Tăng cường luân phiên cán bộ y tế, đào tạo cán bộ tại chỗ, từng bước đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân tại cơ sở; tăng cường phối hợp chuyên môn với các bệnh viện tuyến trên để hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật.        Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm thực hiện; các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân; trong tháng 9 đã có 421.798 lượt khám bệnh, lũy kế 9 tháng có 3.350.697 lượt.       Tăng cường công tác giám sát, theo dõi tình hình, báo cáo và xử lý dịch bệnh. Từ ngày15/8/2025-14/9/2025, bệnh sốt xuất huyết có 1.800 ca mắc; bệnh tay chân miệng có 109 ca mắc; bệnh sởi có 46 ca mắc. Lũy kế đến ngày 14/9/2025, toàn tỉnh ghi nhận 3.946 ca mắc sốt xuất huyết, trong đó có 01 trường hợp tử vong; 999 ca mắc tay chân miệng; 696 trường hợp mắc bệnh sởi, trong đó có 01 trường hợp tử vong.  Tiếp tục triển khai Chương trình tiêm chủng mở rộng, đến nay tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm đủ 8 loại vắc xin đạt 71,3%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (cân nặng theo độ tuổi) giảm còn 13,7%; số giường bệnh đạt 28,5 giường/vạn dân; số bác sỹ đạt 8,6 bác sỹ/vạn dân. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 90,77% dân số toàn tỉnh       Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS: Số HIV/AIDS/tử vong do AIDS mới phát hiện trong tháng là 13/00/00; tích luỹ 406/04/13.       Công tác kiểm tra, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn được tập trung thực hiện. Tuy nhiên, trong kỳ đã xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (tại xã Ea Drăng) với 05 người mắc và nhập viện điều trị; nguyên nhân do độc tố tự nhiên có trong thịt và trứng cóc. Tính đến ngày 14/9/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ ngộ độc thực phẩm với 81 người mắc, tăng 03 vụ và tăng 45 người mắc so với cùng kỳ năm trước.        4. Giáo dục- Đào tạo       Trong 9 tháng năm 2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tập trung thực hiện các nội dung Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Các cơ sở giáo dục duy trì việc tổ chức dạy, học nghiêm túc theo đúng thời gian, kế hoạch đề ra; hoàn thành kế hoạch năm học 2024-2025; tổ chức các hoạt động hè 2025; chuẩn bị mọi điều kiện cho năm học mới; tổ chức khai giảng và triển khai thực hiện kế hoạch năm học 2025-2026. Tiếp tục duy trì thực hiện tốt Chương trình GDPT 2018, nâng cao chất lượng dạy và học. Giáo dục STEM đã có bước chuyển biến mạnh mẽ; chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh đã có bước tiến nhảy vọt, đạt thành tích cao trong các kỳ thi quốc gia và khu vực. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác giáo dục, đào tạo được quan tâm đầu tư, nguồn lực từ xã hội hoá được đẩy mạnh. Toàn tỉnh hiện có 1.352 cơ sở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông với 691.698 học sinh; trong đó 805/1.352 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 59,54%.        5. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao       Văn hóa: Công tác bảo tồn di sản văn hóa được chú trọng ([12]). Công tác quản lý và tổ chức lễ hội ở địa phương tuân thủ quy định, đảm bảo các điều kiện về không gian, thời gian, địa điểm, vui tươi, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội, góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của tỉnh được tổ chức rộng khắp từ tỉnh đến cơ sở. Đặc biệt, trong 9 tháng năm 2025, tỉnh đã tổ chức thành công các hoạt động Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắk Lắk, Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 9 năm 2025; kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng tỉnh Phú Yên; các sự kiện kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tuyên truyền Đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng,...      Thể thao: Các hoạt động thể dục thể thao được tổ chức ở nhiều địa phương trong tỉnh. Phối hợp tổ chức các giải thể thao của tỉnh, đăng cai giải khu vực và toàn quốc([13]) Phong trào thể dục, thể thao quần chúng và thể dục thể thao thành tích cao tiếp tục được tỉnh quan tâm phát triển, đã đăng ký tham gia thi đấu 71 giải thể thao, đạt 362 huy chương các loại (89 huy chương vàng, 101 huy chương bạc, 172 huy chương đồng). 6. Tình hình an ninh và trật tự an toàn giao thông Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được tăng cường, giữ vững ổn định. Lực lượng vũ trang duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu từ tỉnh đến cơ sở. Tỷ lệ điều tra, khám phá tội phạm xâm phạm trật tự xã hội đạt 82,91% (KH: 85%), trong đó án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng được điều tra, làm rõ đạt 90,36% (KH: 90%). An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản được giữ vững, tai nạn giao thông giảm cả 03 tiêu chí so với cùng kỳ năm 2024.       Từ ngày 15/8/2025 đến ngày 14/9/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, giảm 7 vụ (giảm 11,48%); làm chết 29 người, giảm 11 người (giảm 27,5%); bị thương 41 người, giảm 4 người (giảm 8,89%) so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 830 triệu đồng.        Tính từ ngày 15/12/2024 đến 14/9/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 417 vụ tai nạn giao thông, giảm 99 vụ (giảm 19,19%); làm chết 300 người, giảm 21 người (giảm 6,54%); bị thương 269 người, giảm 83 người (giảm 23,58%) so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 4.320,6 triệu đồng.        7. Thiệt hai do thiên tai       Từ ngày 26/8/2025 đến 25/9/2025, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ thiên tai, do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài từ đêm ngày 05 đến ngày 07/9/2025, một số địa phương trên địa bàn tỉnh đã bị ngập lụt cục bộ, gây thiệt hại về tài sản của người dân và làm hư hỏng một số công trình hạ tầng, thiệt hại tài sản 17.050 triệu đồng.       Tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/9/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ thiên tai (gồm: 03 đợt lũ, ngập lụt và 04 trận mưa lớn, 02 trận lốc xoáy), ước tính giá trị thiệt hại khoảng 83.277,7 triệu đồng. Lãnh đạo chính quyền địa phương của các địa phương bị thiệt hại đã chỉ đạo công tác kiểm tra, thống kê thiệt hại; huy động lực lượng tại chỗ (các ban ngành, đoàn thể) khắc phục hậu quả thiên tai kịp thời nhằm sớm ổn định cuộc sống của nhân dân.       8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ       Vi phạm môi trường: Từ ngày 26/8/2025 đến 25/9/2025 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 19 vụ vi phạm môi trường, xử lý vi phạm 18 vụ với số tiền phạt là 1.399 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 06 vụ (tăng 46,15%), số vụ vi phạm đã xử lý tăng 12 vụ (gấp 03 lần), số tiền xử phạt tăng 971 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (gấp 19 lần), số vụ vi phạm đã xử lý tăng 15 vụ (gấp 06 lần), tăng 1.260,5 triệu đồng số tiền xử phạt. Tính từ đầu năm đến 25/9/2025 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 109 vụ vi phạm môi trường, xử lý vi phạm 80 vụ, tổng số tiền xử phạt là 5.091,75 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường giảm 16 vụ (giảm 12,8%), số vụ vi phạm đã xử lý tăng 01 vụ (tăng 1,27%) số tiền xử phạt giảm 782 triệu đồng. Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/8/2025 đến ngày 14/9/2025, toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, gấp 4 lần so với tháng trước, giảm 42,86% so với cùng kỳ, thiệt hại 127,6 triệu đồng, tăng 72,43% so với tháng trước, giảm 65,65% so với cùng kỳ năm trước. Tính từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/09/2025 toàn tỉnh xảy ra 14 vụ cháy, giảm 61,11% so với cùng kỳ, bị thương 01 người, thiệt hại tài sản khoảng 1.126,6 triệu đồng, giảm 78,19% so với cùng kỳ năm trước. Tóm lại, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới biến động khó lường, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng nhưng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, sát sao của Chính phủ và nỗ lực của Chính quyền, các cấp, các ngành, các trên địa bàn tỉnh, kinh tế 9 tháng năm 2025 đạt mức tăng trưởng khá 6,90%. Các chỉ tiêu thống kê cho thấy kinh tế vĩ mô của tỉnh tiếp tục ổn định, sản xuất công nghiệp trên đà tăng trưởng tích cực, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì tăng trưởng và là “trụ đỡ” của nền kinh tế, xuất khẩu hàng hóa tiếp tục đạt mức tăng cao; ngành du lịch phục tăng trưởng tích cực. Vốn đầu tư thực hiện tiếp tục duy trì mức tăng khá. Công tác an sinh xã hội được quan tâm kịp thời; công tác hỗ trợ dịch bệnh, thiên tai tại các địa phương bị ảnh hưởng được thực hiện nhanh, hiệu quả.       Bước sang quý IV/2025, dự báo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do chịu nhiều tác động trước những rủi ro, bất ổn trên thế giới về kinh tế, chính trị, thiên tai, dịch bệnh… Mục tiêu tăng trưởng đạt 8% của năm 2025 là thách thức lớn, cần sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, của doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh. Các ngành, các cấp tăng cường dự báo, chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới, kịp thời ứng phó với mọi tình huống phát sinh, kiên định thực hiện hiệu quả các mục tiêu tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tối đa cho khu vực doanh nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống của người dân. Cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:       Một là, Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các Chương trình, Đề án, Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, của Tỉnh.       Hai là, Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tập trung hoàn thành kế hoạch sản xuất ngành nông nghiệp, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng của ngành đạt 5,79% trở lên; Khẩn trương lựa chọn đơn vị tư vấn xây dựng Báo cáo tiền khả thi các dự án đầu tư năng lượng phía Tây Đắk Lắk và thành lập các cụm công nghiệp đã đủ điều kiện theo kế hoạch; Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá các sản phẩm, kết nối giao thương nhằm mở rộng tiêu thụ nội địa và thị trường xuất khẩu.       Ba là, Triển khai quyết liệt, mạnh mẽ các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công; kiên quyết không để việc triển khai chính quyền địa phương 02 cấp ảnh hưởng đến công tác giải phóng mặt bằng và giải ngân các dự án đầu tư công; phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2025.       Bốn là, Tập trung rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án thu tiền sử dụng đất năm 2025 và giai đoạn 2021-2025 để các dự án sớm đi vào hoạt động, tạo nguồn thu cho ngân sách tỉnh, đảm bảo nguồn vốn bố trí cho các dự án đầu tư công       Năm là, Chú trọng thực hiện các chính sách an sinh xã hội; chính sách giảm nghèo, ưu tiên nguồn lực thực hiện chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần nâng cao mức sống của người dân       Sáu là, Tập trung triển khai các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Phong trào “Bình dân học vụ số” và Đề án 06 của Chính phủ và các chương trình, kế hoạch của tỉnh. Hoàn thành dự án “Xây dựng hạ tầng chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030”.        Bảy là, Tập trung triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk năm 2025; Đề án 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến 2030.        Tám là, Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về y tế; thường xuyên củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở; chú trọng đào tạo, có cơ chế thu hút, phát triển nguồn nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng; nâng cao trình độ chuyên môn, trách nhiệm và y đức của đội ngũ cán bộ y tế.       Chín là, Tăng cường lực lượng bám sát địa bàn trọng điểm; bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, các đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đoàn khách quốc tế đến tỉnh. Tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả các đợt cao điểm tấn công, trấn áp các loại tội phạm. Tăng cường phát hiện, xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý kinh tế, môi trường. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phòng ngừa tai nạn giao thông, PCCC; duy trì tuần tra kiểm soát, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông./. [1] Trên cây Lúa vụ Hè thu + Mùa: Sâu đục thân tỷ lệ hại 1-45%, diện tích nhiễm 226,3 ha, rầy nâu + rầy lưng trắng mật độ 50-1.900 con/m2, diện tích nhiễm 236,1 ha; bệnh khô vằn TLH 1-25%, DTN 61 ha bệnh hoa cúc TLH 3-14%, DTN 31 ha; bọ xít đen tỷ lệ hại 2-15%, diện tích nhiễm 25 ha; bệnh đen lép hạt TLH 1-30%, DTN 33 ha; chuột TLH 3-5%, DTN 19,5 ha (Phú Hoà 1, Phú Hoà 2); bệnh bạc lá (cháy bìa) TLH 5-20%, DTN 15 ha… [2] Cây cà phê: Rệp sáp TLH 3-12%, DTN 26 ha; bệnh khô cành TLH 3-17%, DTN 19 ha; bệnh nấm hồng TLH 3-15%, DTN 14,8 ha; sâu đục thân mình hồng TLH 1- 5%, DTN 05 ha; bọ cánh cứng ăn lá cà phê TLH 4-16%, DTN 05 ha ; bệnh gỉ sắt TLH 5-10%, DTN 04 ha.Cây tiêu: Bọ xít lưới TLH 1-17%, DTN 17,3; bệnh chết chậm TLH 2-8%, DTN 7,1 ha; bệnh chết nhanh TLH 2-8%, DTN 06 ha, rệp sáp gốc TLH 5-15%, DTN 03 ha.Cây cao su: Bệnh đốm mắt chim TLH 3-7%, DTN 4,7 ha; bệnh loét sọc mặt cạo TLH 3-15%, DTN 5,3 ha [3] Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong kỳ báo cáo, dịch bệnh phát sinh và tiêu huỷ 2.146 con; khối lượng tiêu hủy 91.378kg. Tại 72 hộ, 30 thôn, 10 xã, phường: Ea Kly, Hòa Hiệp, Ea Drông, Ea Súp, Buôn Đôn, Cư Prao, Xuân Phước, Ea Wer, Dur Kmăl, Hòa Phú. Lũy kế, từ đầu năm đến nay, dịch bệnh DTLCP trên địa bàn tỉnh phát sinh và tiêu hủy 3.334 con; khối lượng tiêu hủy là 169.646 kg. Tại 164 hộ, 82 thôn, 39 xã.Dịch bệnh Viêm da nổi cục: Trong kỳ báo cáo, phát sinh và tiêu hủy mới 01 con bò mắc bệnh, khối lượng 60 kg tại xã Ea Súp. Lũy kế, tính từ đầu năm đến nay, dịch bệnh VDNC trâu, bò xảy ra trên địa bàn tỉnh Đắk Lăk với tổng số mắc bệnh là 06 con, chết và tiêu hủy 03 con, khối lượng tiêu hủy là 225 kg. Tại 04 hộ, 03 thôn của 02 xã Ea Bung và Ea Súp.Dịch bệnh LMLM trâu, bò: Trong kỳ báo cáo, phát sinh 22 con bò mắc bệnh tại 01 thôn, 05 hộ thuộc xã Ea Wy. Lũy kế, tính từ đầu năm đến nay, dịch bệnh LMLM trâu, bò xảy ra trên địa bàn tỉnh làm mắc bệnh 79 con, trong đó có 60 con bò và 19 con trâu. Tại 8 hộ, 2 thôn, thuộc 02 xã Ea Rốc và Ea Wy. [4] Các lâm trường + cá thể [5] (1) Dự án “Giảm thiểu khí thải tại khu vực Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu Chương trình hành động quốc gia REDD+” do IFAD và GCF đồng tài trợ; (2) Dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đô thị trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, giai đoạn 1; (3) Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk; (4) Dự án Phát triển đô thị khu vực phía Đông và dọc hành lang suối Ea Nao - Ea Tam, Buôn Ma Thuột;(5) Dự án Cấp điện nông thôn sử dụng vốn Chương trình SETP – EU tài trợ;(6) Dự án Đầu tư nâng cấp mở rộng và đầu tư xây dựng mới Bệnh viện Đa khoa tỉnh. [6] Trong đó: thu từ khu vực ngoài quốc doanh đạt 3.464.969 triệu đồng, tăng 14,62% so với cùng kỳ; lệ phí trước bạ đạt 746.802 triệu đồng, tăng 34,17%. [7] Tiền thuê nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 1,65%; Vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,44%; Giá nước sinh hoạt tăng 0,44% do nhu cầu sử dụng nước tăng. [8] Tủ lạnh tăng 0,22%; máy vi tính và phụ kiện tăng 0,18%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,14%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,27%; xà phòng giặt tăng 0,34% [9] Túi xách, va ly, ví tăng 0,59%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 1,71%; dịch vụ về hỉ tăng 0,12% [10]Thuốc chống dị ứng và các trường hợp quá mẫn tăng 0,19%; Thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,36%; Nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,12%; Nhóm thuốc giảm đau; thuốc hạ sốt; chống viêm không steroid và thuốc điều trị gút và các bệnh xương tăng 0,43%. [11] Gạo tẻ thường giảm 1,83%; gạo tẻ ngon giảm 0,22%, gạo nếp giảm 0,23%. [12] Lập hồ sơ di sản “Tri thức trồng và chế biến cà phê tỉnh Đắk Lắk” ghi danh vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia và đề xuất UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tổng kết 20 năm thực hiện công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk. Tham mưu lập 14 hồ sơ khoa học đề nghị UBND tỉnh xem xét, xếp hạng di tích cấp tỉnh và 01 đề nghị xếp hạng di tích quốc gia. Tổ chức Lễ công bố Quyết định của TTCP công nhận bảo vật quốc gia Phù điêu Kala Núi Bà,… [13] Giải bóng chuyền bãi biển nữ Châu Á năm 2025 – Cloud Gate Cup tại Phú Yên (cũ); Phối hợp Đài Truyền hình TP.Hồ Chí Minh tổ chức Giải xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình TP.HCM lần thứ 37 năm 2025 (chặng 14, 15, 16 qua Buôn Ma Thuột); Giải vô địch Boxing các đội mạnh Quốc gia; Giải vô địch Thanh thiếu niên môn Cử tạ Quốc gia; Giải vô địch các CLB Karate Quốc gia lần thứ XXV; Giải vô địch Bóng rổ 5x5 U18 Quốc gia; Giải vô địch các nhóm tuổi thanh thiếu niên quốc gia môn Súng hơi; Giải Quần vợt đồng đội trẻ toàn quốc; Giải vô địch Đẩy gậy, Kéo co trẻ và thiếu niên Quốc gia; Giải vô địch Câu lạc bộ Lân Sư Rồng toàn quốc năm 2025; Giải vô địch Câu lạc bộ Thể dục Aerobic quốc gia năm 2025; Vòng loại bóng đá U11, U13 Quốc gia; Vòng bảng giải Bóng đá U15 Quốc gia.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2025
  •   03/09/2025 15:00

Sau 2 tháng sáp nhập, tỉnh Đắk Lắk mới đã có những bước khởi đầu thuận lợi, tạo được khí thế mới và niềm tin vào một tương lai phát triển bền vững, trở thành một cực tăng trưởng mới ở khu vực Nam Trung Bộ. Kinh tế tỉnh duy trì đà tăng trưởng ổn định và có những bước đột phá với nhiều chỉ số ấn tượng: Sản xuất vụ Hè thu, Mùa 2025 được đẩy nhanh tiến độ; thu ngân sách nhà nước, chỉ số phát triển công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục tăng trưởng cao; nhiều công trình, dự án lớn được khởi công xây dựng; nhiều sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch được tổ chức nhằm phát huy lợi thế vùng núi và biển đã thu hút một lượng lớn khách du lịch đến với tỉnh; các cấp chính quyền đã nhanh chóng triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng, đảm bảo bộ máy hoạt động thông suốt và hiệu quả; các chính sách xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời, chăm lo đời sống nhân dân; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, việc sáp nhập cũng đặt ra những thách thức cần giải quyết như: sự chênh lệch phát triển giữa các vùng, thiếu lao động kỹ năng cao và nhu cầu vốn đầu tư lớn cho hạ tầng; bên cạnh đó, dịch bệnh trên vật nuôi, cây trồng, tình trạng thiên tai và vi phạm trật tự an toàn giao thông vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương ít nhiều đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân. 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng 8/2025 tập trung gieo trồng vụ Hè thu và Mùa; chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định; sản xuất lâm nghiệp tập trung vào công tác trồng rừng; nuôi trồng và khai thác thủy sản có nhiều thuận lợi. a) Nông nghiệp Trồng trọt Toàn tỉnh đã thu hoạch xong vụ Đông xuân năm 2024-2025 với tổng diện tích 136.989 ha tăng 2,40% (+ 3.215 ha) so với vụ Đông xuân năm 2023-2024, trong đó: lúa 75.973 ha, ngô 5.537 ha, khoai lang 2.277 ha, sắn 15.023 ha, mía 16.792 ha, rau các loại 8.826 ha, đậu các loại 2.196 ha,... Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 618.072 tấn tăng 1,75% (+10.635 tấn) so với vụ Đông xuân 2023-2024, trong đó: sản lượng thóc 584.423 tấn, tăng 1,90%; sản lượng ngô 33.649 tấn, giảm 0,85%. Sản lượng một số cây hàng năm khác: Khoai lang 55.099 tấn tăng 5,87%; sắn 321.586 tấn giảm 6,8%; mía 1.101,74 nghìn tấn tăng 15,84%; rau các loại 180.817 tấn tăng 2,81%; đậu các loại 2.485 tấn giảm 16,02%... so vụ Đông xuân năm 2023-2024. Cây lúa: Đến ngày 20/8/2025, toàn tỉnh gieo trồng ước đạt 167.828 ha tăng 1,17% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: - Vụ Đông Xuân: diện tích gieo trồng và thu hoạch đạt 75.973 ha tăng 2,53% so cùng kỳ vụ Đông Xuân 2023-2024. - Vụ Hè thu: Đã xuống giống gieo sạ ở phía Đông Đắk Lắk với diện tích 24.720 ha, giảm 0,08% so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu giống lúa chủ yếu ĐV108, ML213, PY2... - Vụ Mùa: cùng với việc chăm sóc lúa vụ Hè thu phía Đông tỉnh Đắk lắk, bà con ở các địa phương phía Tây tỉnh Đắk Lắk đang khẩn trương gieo cấy hết số diện tích lúa vụ Mùa cho kịp thời vụ. Đến nay, diện tích lúa đã gieo cấy ước đạt 67.135 ha, tăng 0,12% so với cùng kỳ năm trước. Cây hàng năm khác: Tính từ đầu vụ Đông xuân đến ngày 20/8/2025 đã gieo trồng được: Ngô ước đạt 54.007 ha giảm 0,27%; khoai lang 4.603 ha giảm 0,07%; lạc 2.814 ha giảm 0,11%; rau các loại 16.820 ha tăng 1,44%; đậu các loại 15.230 ha giảm 0,73%... so với cùng kỳ năm trước. Cây lâu năm: Hiện nay, các địa phương đang tập trung chăm sóc vườn cây như: phát tán bờ lô, bón phân chống rụng quả, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Công tác trồng mới cây lâu năm cũng được các địa phương trong tỉnh đang chuẩn bị cây giống, đào hố, phân bón để trồng mới năm 2025. Theo đánh giá của cơ quan chuyên ngành thì số diện tích cây lâu năm trồng mới năm nay chủ yếu là tái canh các vuờn cây lâu năm đã già cỗi như cà phê, tiêu, điều, … ít mở rộng diện tích so với các năm trước. Diện tích một số cây trồng chính như sau: Cà phê 214.266 ha, cao su 33.353 ha, tiêu 28.321 ha, điều 27.586 ha, sầu riêng 39.580 ha. Tình hình sâu bệnh Trên cây lúa và cây hàng năm khác: Tình hình sâu bệnh diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng([1]). Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường. Trên cây công nghiệp lâu năm: Thời điểm hiện nay là mùa mưa, độ ẩm cao rất thích hợp cho các loại sâu bệnh, nấm, sinh vật gây hại trên cây công nghiệp lâu năm, các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh, cụ thể dịch bệnh đã xảy ra trên từng loại cây trồng([2]). Chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh được sự quan tâm với những chính sách của Nhà nước về phát triển chăn nuôi; công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm được tỉnh chỉ đạo tích cực; công tác thú y luôn được các cấp, các ngành quan tâm, ý thức phòng chống dịch bệnh của các hộ chăn nuôi thường xuyên được coi trọng như: vệ sinh chuồng trại, kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển và giết mổ; công tác tổ chức tiêm phòng các loại vắc xin được triển khai đồng bộ ở các địa phương nên cơ bản đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định theo hướng đẩy mạnh chất lượng sản phẩm. Ước tính đến thời điểm 20/8/2025, đàn trâu có 32.781 con giảm 0,95%; đàn bò có 402.820 con giảm 2,05% (trong đó, đàn bò sữa có 4.642 con tăng 52,70% nhờ doanh nghiệp tăng đàn); đàn lợn thịt có 1.228.282 con tăng 2%; đàn gia cầm có 21.986 nghìn con tăng 1,48% (trong đó, đàn gà khoảng 19.606 nghìn con tăng 2,32%) so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm([3]): Các ngành, các cấp có liên quan vẫn tích cực chỉ đạo chính quyền địa phương và nhân dân thực hiện tốt công tác giám sát trong thời điểm giao mùa, nhằm phát hiện, điều trị và xử lý kịp thời, tránh để dịch bệnh lây lan, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân, tăng cường công tác phòng chống dịch ở các chốt kiểm dịch đầu mối ra vào tỉnh và công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn tỉnh. Công tác kiểm dịch, Chi cục Thú ý tỉnh đã triển khai công tác kiểm dịch như sau: - Kiểm dịch xuất tỉnh: tháng 8/2025 được 902.290 con gia súc, gia cầm, trong đó: bò 158 con, heo 71.304 con, gà 725.948 con, vịt và ngan 104.775 con, dê 105 con. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2025 kiểm dịch xuất tỉnh được 4.711.100 con gia súc, gia cầm. - Kiểm dịch nhập tỉnh: tháng 8/2025 được 1.288.006 con gia súc, gia cầm, trong đó: trâu 13 con, bò 435 con, heo 61.338 con, gà 670.622 con, vịt và ngan 555.558 con, dê 40 con; thịt trâu bò 1.705 kg, thịt gia cầm 22.812 kg, thịt heo 18.524 kg; kiểm soát giết mổ được 36.485 con; gia súc, gia cầm xuất, nhập tỉnh với mục đích chăn nuôi (xuất tỉnh: Heo 14.383 con, dê 105 con, gà 577.680 con, vịt và ngan 9.000 con; nhập tỉnh: bò 93 con, heo 53.762 con, gà 665.122 con, vịt và ngan 565.598 con). Lũy kế 8 tháng đầu năm 2025, kiểm dịch nhập tỉnh được 9.921.237 con gia súc, gia cầm. ....

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2025
  •   18/08/2025 09:35

Thực hiện mô hình chính quyền 02 cấp từ ngày 01/7/2025, tỉnh Đắk Lắk mới được thành lập từ việc sáp nhập 2 tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên. Tỉnh Đắk Lắk mới thuộc vùng Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 18.096,41 km2, với hơn 71 km đường biên giới và bờ biển dài 189 km, dân số trung bình năm 2024 khoảng 2.831.326 người, gồm 49 dân tộc anh em cùng sinh sống. Sau sắp xếp đơn vị hành chính 02 cấp, Đắk Lắk hiện có 102 xã, phường trực thuộc. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh có nhiều tín hiệu tích cực với việc phát huy lợi thế kinh tế của 2 vùng núi và biển. Sản xuất vụ Hè thu, Mùa 2025 đang được đẩy nhanh tiến độ; thu ngân sách nhà nước; chỉ số phát triển công nghiệp; tổng mức bán lẻ hàng háo và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục tăng trưởng. Nhiều sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch được tổ chức đã thu hút một lượng lớn khách du lịch đến với tỉnh nhà. Mô hình tổ chức chính quyền 2 cấp bước đầu hoạt động ổn định, các thủ tục hành chính được xử lý kịp thời, tạo tiền đề đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền trong thời gian tới. Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Tuy nhiên, dịch bệnh trên vật nuôi, cây trồng, tình trạng thiên tai và vi phạm trật tự an toàn giao thông vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương ít nhiều đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân.A. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 7/2025, sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng vụ Hè thu, Mùa; chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát; Sản xuất lâm nghiệp tập trung vào công tác trồng rừng; Thủy sản tập trung nuôi trồng và khai thác thủy sản có nhiều thuận lợi. 1.1. Sản xuất cây hàng năm Tính đến ngày 20 tháng 7 năm 2025, toàn tỉnh gieo cấy được 167.729 ha lúa, tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lúa Đông xuân đạt 75.973 ha, tăng 2,53%; lúa Hè thu ước đạt 24.700 ha, giảm 0,16%; lúa mùa ước đạt 67.056 ha, tăng 0,29% so với cùng kỳ năm trước. Cây hàng năm khác: Diện tích cây ngô ước đạt 54.007 ha, tăng 0,28% so với cùng kỳ năm trước; khoai lang 4.603 ha, giảm 0,07%; lạc 2.814 ha, tăng 2,3%; rau các loại 16.667 ha, tăng 1,39%; đậu các loại 15.093 ha, giảm 1,63% so với cùng kỳ năm trước.        Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm 2024-2025: Sản lượng lúa đạt 586.631 tấn, tăng 2,29% so với cùng kỳ năm trước; ngô 35.166 tấn, tăng 3,62%; khoai lang 53.829 tấn, tăng 3,43%; sắn 321.605 tấn, giảm 6,80%; cây mía 1.100.539 tấn, tăng 15,71%; đậu các loại 2.511 tấn, giảm 15,15%; rau các loại 105.598 tấn, tăng 1,03% so với cùng kỳ năm trước.       Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng ([1]). Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường. 1.2. Cây lâu năm Hiện nay, các địa phương đang tập trung chăm sóc vườn cây như: Tỉa cảnh, tạo tán, bón phân và phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Công tác trồng mới, chăm sóc cây lâu năm đang được các địa phương triển khai thực hiện. Theo đánh giá của cơ quan chuyên ngành thì diện tích cây lâu năm trồng mới năm nay chủ yếu là tái canh các vuờn cây lâu năm đã già cỗi như: cà phê, tiêu, điều, … ít mở rộng diện tích so với các năm trước. Diện tích một số cây trồng chính như sau: Cà phê 214.266 ha, cao su 33.353 ha, tiêu 28.321 ha, điều 27.586 ha, sầu riêng 39.580 ha. Một số cây trồng chính đang thu hoạch chính vụ như sầu riêng, chôm chôm, bơ các loại.... So với cùng kỳ năm trước giá sầu riêng tuy có giảm, song sản lượng được dự báo sẽ tăng cao do diện tích đi vào kinh doanh tăng. Tình hình sâu bệnh trên cây công nghiệp lâu năm: hiện nay đang là mùa mưa, độ ẩm cao rất thích hợp cho các loại sâu bệnh, nấm, sinh vật gây hại trên cây công nghiệp lâu năm. Các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh, cụ thể dịch bệnh đã xảy ra trên từng loại cây trồng[2]. 1.3. Công tác chăn nuôi, thú y  Tình hình chăn nuôi trong tháng 7/2025 như sau: Ước số lượng đàn trâu hiện có 33.400 con, giảm 0,66%; đàn bò hiện có 403.602 con, giảm 1,53% (trong đó, đàn bò sữa có 4.646 con, tăng 52,63% nhờ doanh nghiệp tăng đàn); đàn lợn thịt hiện có 1.249.730 con, tăng 0,99%; đàn gia cầm hiện có 21.955 nghìn con, tăng 1,34% (trong đó, đàn gà khoảng 19.419 nghìn con, tăng 1,70%) so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh đến nay vẫn ổn định, dịch bệnh chỉ xảy ra rải rác ở một vài nơi, diễn biến bệnh vẫn đang được kiểm soát([3]). Tuy vậy, các ngành, các cấp có liên quan vẫn tích cực chỉ đạo chính quyền địa phương và nhân dân thực hiện tốt công tác giám sát trong thời điểm giao mùa, nhằm phát hiện, điều trị và xử lý kịp thời, tránh để dịch bệnh lây lan, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân, tăng cường công tác phòng chống dịch ở các chốt kiểm dịch đầu mối ra vào tỉnh và công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, người dân vẫn đang tập trung vào công tác tái đàn nhằm duy trì được nguồn thực phẩm phục vụ nhu cầu của thị trường. Chính vì vậy, ngành Nông nghiệp của tỉnh đã và đang hỗ trợ người dân về con giống, thức ăn, vắcxin phòng chống dịch bệnh. Kiểm dịch xuất tỉnh tháng 7/2025 được 706.161 con gia súc, gia cầm, trong đó: Trâu 82 con, bò 242 con, heo 46.035 con, dê 404 con, gà 616.658 con, vịt và ngan 42.740 con. Tính chung 7 tháng năm 2025, kiểm dịch xuất tỉnh được 3.808.810 con gia súc, gia cầm.  Kiểm dịch nhập tỉnh tháng 7/2025 được 1.440.708 con gia súc, gia cầm, trong đó: Trâu 1 con, bò 300 con, heo 56.773 con, gà 1.025.544 con, vịt và ngan 358.082 con, dê 8 con. Tính chung 7 tháng năm 2025 kiểm dịch nhập tỉnh được 8.633.231 con gia súc, gia cầm. 1.4. Lâm nghiệp Công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng tiếp tục được các ngành chức năng, các địa phương và các chủ rừng chú trọng thực hiện. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép vẫn còn xảy ra.  Khai thác lâm sản: Trong tháng 7/2025, sản lượng gỗ toàn tỉnh khai thác ước đạt 122.900 m3, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là gỗ nguyên liệu giấy. Tính chung 7 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 453.081 m3, tăng 2,86%. Phát triển rừng: Công tác trồng rừng và phát triển rừng được quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu năm. Trong tháng 7/2025, tổng diện tích rừng được trồng mới là 1.025 ha, tăng 1,49% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là của các hộ cá thể. Tính chung 7 tháng năm 2025 là 1.596 ha, tăng 1,08% so với cùng kỳ. Diện tích rừng trồng mới chủ yếu là gỗ nguyên liệu làm giấy.       Quản lý bảo vệ rừng: Trong những tháng đầu năm 2025, UBND tỉnh đã chỉ đạo cho các ngành chức năng phải thường xuyên tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các chủ rừng, đơn vị triển khai công tác PCCCR và tổ chức triển khai công tác phòng chống chặt phá rừng tại các địa phương, đơn vị; đảm bảo công tác trực 24/24 giờ, cảnh báo và xử lý kịp thời tình huống xảy ra phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép...       Trong tháng 7/2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 49 vụ (43 vụ phá rừng trái pháp luật, 02 khai thác rừng trái pháp luật, 01 vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 03 tàng trữ lâm sản trái phép), lâm sản tịch thu 43,400 m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 16 chiếc các loại, tổng các khoản thu 311,6 triệu đồng, tổng số tiền nộp ngân sách 283,1 triệu đồng. Tính từ đầu năm 2025 đến ngày 15/7/2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 665 vụ, lâm sản tịch thu 199,843m3 gỗ các loại, phương tiện tịch thu 95 chiếc các loại, tổng các khoản thu 2.351,3 triệu đồng.        1.5. Thủy sản       Mùa mưa năm nay đến sớm hơn so với cùng kỳ, mực nước trên ao hồ, sông suối tại các địa phương trên địa bàn tỉnh dồi dào, công tác nuôi trồng và khai thác của người dân vẫn phát triển và ổn định, đặc biệt là việc nuôi trồng các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao trên các lồng, bè..........