02623 852247 | daklak@nso.gov.vn

Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam- Mở lối cho kỉ nguyên tăng trưởng mới

31/07/2026 19:32

Phóng viên: Thưa ông, trong bối cảnh thế giới đang bước vào kỷ nguyên số và cạnh tranh ngày càng gay gắt dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, những yêu cầu đòi hỏi cấp thiết và mang tính thời đại nào để Việt Nam đổi mới mô hình phát triển?

Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Trước hết, để làm rõ yêu cầu khách quan của việc đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, tôi muốn khẳng định Nghị quyết số 19-NQ/TW là quyết sách chiến lược nhằm tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 và tạo nền tảng cho tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2130.

Nhìn lại kết quả sau 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế có quy mô GDP chỉ khoảng 8 tỷ USD vào năm 1986, đến năm 2025 đã vượt 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 130 USD lên trên 5.000 USD và chính thức gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao.

Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và hiệu quả của mô hình phát triển dựa trên mở cửa, hội nhập quốc tế, huy động mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư, thu hút FDI và phát huy lợi thế lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, bối cảnh và yêu cầu phát triển đã thay đổi căn bản. Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số; dư địa mở rộng lao động và khai thác các lợi thế chi phí thấp ngày càng thu hẹp. Để duy trì tăng trưởng 2 con số trong dài hạn, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, nền kinh tế không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực truyền thống mà phải chuyển sang các động lực có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao hơn.

Thực tiễn cũng cho thấy mô hình phát triển dựa chủ yếu vào vốn, lao động và lợi thế chi phí thấp đang giảm dần hiệu quả; chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp; năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế. Giai đoạn 2021-2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội vẫn duy trì khoảng 32% GDP, hệ số ICOR ở mức khoảng 6,4; năng suất lao động chỉ tăng bình quân 5,2%/năm, thấp hơn mục tiêu 6,5%/năm. Năng suất lao động của Việt Nam hiện mới bằng khoảng 11,6% của Singapore; 23% của Hàn Quốc; 24,4% của Nhật Bản và khoảng 59% của Thái Lan. Đồng thời, khu vực FDI đóng góp khoảng 20,5% GDP, nhưng chiếm tới 77% kim ngạch xuất khẩu; riêng ngành điện tử, tỷ lệ nội địa hóa mới đạt khoảng 10%, cho thấy năng lực công nghệ nội sinh và giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế.

Trong khi đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những thay đổi mang tính thời đại. Sự phát triển đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và cạnh tranh giữa các quốc gia. Đây vừa là cơ hội để các nước bứt phá, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình phát triển nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tự chủ chiến lược và thích ứng với bối cảnh mới.

Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan phải đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam. Nghị quyết của Trung ương lần này đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy phát triển đất nước, chuyển từ định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng sang hoàn thiện mô hình phát triển Việt Nam, lấy năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đồng thời, Nghị quyết cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV, tạo lập khung thống nhất về mô hình phát triển đất nước và kết nối các chủ trương, nghị quyết lớn của Đảng đã ban hành trong thời gian qua, tạo nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 và tầm nhìn phát triển đến năm 2130.

Phóng viên: Thưa ông, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV và xác lập mô hình phát triển Việt Nam cho giai đoạn phát triển mới. Xin ông cho biết những điểm mới mang tính đột phá và ý nghĩa của mô hình phát triển này?

Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Theo tôi, điểm mới quan trọng nhất của Nghị quyết không chỉ là xác định các động lực tăng trưởng mới, mà là hình thành một tư duy phát triển toàn diện cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Nghị quyết đã cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV, tạo lập khung thống nhất về mô hình phát triển Việt Nam, đồng thời kết nối các chủ trương, nghị quyết lớn của Đảng thành một chỉnh thể thống nhất nhằm hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2130.

Thứ nhất, xác lập mô hình phát triển Việt Nam với nội hàm toàn diện hơn. Nghị quyết xác định mô hình phát triển Việt Nam theo hướng tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người là trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể của phát triển. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, chuyển từ trọng tâm đổi mới mô hình tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế thì mô hình mới hướng tới phát triển đồng bộ các trụ cột kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng trưởng kinh tế vẫn là nhiệm vụ trung tâm nhưng không còn là mục tiêu duy nhất; mục tiêu cao hơn là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có năng lực cạnh tranh cao, phát triển nhanh và bền vững.

Thứ hai, chuyển đổi căn bản động lực phát triển. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, lao động và lợi thế chi phí thấp thì mô hình mới lấy năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu. Đây là bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, trong đó nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trở thành mục tiêu xuyên suốt và là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng của mô hình phát triển mới. TFP không chỉ phản ánh tiến bộ công nghệ mà còn phản ánh chất lượng thể chế, hiệu quả quản trị quốc gia và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.

Thứ ba, hình thành lực lượng sản xuất mới và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Nghị quyết xác định phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới, hiện đại; đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu của tăng trưởng; coi dữ liệu là tư liệu sản xuất mới và tài nguyên chiến lược; phát triển trí tuệ nhân tạo thành hạ tầng trí tuệ và lực lượng sản xuất chất lượng cao. Đồng thời, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.

Thứ tư, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia. Đây là một trong những nội dung đột phá của Nghị quyết. Mô hình phát triển mới được vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, Nhân dân làm chủ, phát huy hài hòa vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội. Đồng thời, chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển, phối hợp liên thông, dựa trên dữ liệu, phản ứng chính sách và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển. Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở dữ liệu và công nghệ số, cùng với việc lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.

Có thể khẳng định, mô hình phát triển Việt Nam theo Nghị quyết không chỉ đổi mới các động lực tăng trưởng mà còn đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia nhằm tạo lập năng lực phát triển mới, nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, qua đó hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Phóng viên: Vậy theo ông, đâu là động lực cốt lõi của mô hình phát triển mới?

Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Một trong những điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc của Nghị quyết là xác định phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới, hiện đại và đưa lực lượng sản xuất mới trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đây không chỉ là sự phát triển mới về tư duy phát triển, mà còn phản ánh bước chuyển căn bản từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động và tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nếu trong nền kinh tế nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu; trong nền kinh tế công nghiệp, vốn và lao động là các yếu tố quyết định tăng trưởng; thì trong nền kinh tế số, dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất mới và tài nguyên chiến lược; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; chuyển đổi số là phương thức phát triển; còn trí tuệ nhân tạo được phát triển thành hạ tầng trí tuệ và lực lượng sản xuất chất lượng cao. Đây chính là sự thay đổi căn bản của các yếu tố tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Điểm cốt lõi của lực lượng sản xuất mới là làm thay đổi cơ chế tạo ra tăng trưởng kinh tế. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu được tạo ra bằng việc huy động thêm vốn, lao động và tài nguyên thì trong mô hình phát triển mới, tăng trưởng ngày càng được quyết định bởi năng suất lao động, tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khoa học, công nghệ tạo ra tri thức mới; đổi mới sáng tạo chuyển hóa tri thức thành giá trị; chuyển đổi số đổi mới phương thức sản xuất và quản trị; dữ liệu và trí tuệ nhân tạo tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chính sự cộng hưởng của các yếu tố này làm gia tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), tạo động lực căn bản cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Phóng viên: Mỗi mô hình phát triển đều cần một hệ quy chiếu để đánh giá hiệu quả. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển sang mô hình phát triển mới lấy khoa học, công nghệ là nền tảng phát triển; đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng, theo ông, đâu sẽ là “thước đo” để đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển đổi này?

Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Đổi mới mô hình phát triển không chỉ nhằm thay đổi cơ cấu ngành hay tăng đầu tư cho khoa học, công nghệ, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Xét dưới góc độ kinh tế học, như tôi nói ở trên, thước đo thành công của mô hình phát triển mới chính là sự gia tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). TFP phản ánh phần tăng trưởng được tạo ra bởi tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khác với tăng trưởng dựa vào mở rộng vốn và lao động, tăng trưởng dựa trên TFP giúp tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực, qua đó nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng phát triển.

Vì vậy, thành công của mô hình phát triển mới không nên chỉ được đánh giá bằng quy mô đầu tư cho khoa học, công nghệ hay số lượng doanh nghiệp công nghệ, mà quan trọng hơn phải được đo bằng những kết quả thực chất của quá trình chuyển đổi như: đóng góp của TFP ngày càng cao; năng suất lao động tăng nhanh hơn; hệ số ICOR giảm; tỷ lệ nội địa hóa và mức độ làm chủ công nghệ được nâng lên; tỷ trọng giá trị gia tăng trong nước trong xuất khẩu lớn hơn; năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế tiếp tục được cải thiện.

Nói cách khác, nếu trước đây, mục tiêu chủ yếu là mở rộng quy mô GDP thông qua gia tăng các yếu tố đầu vào, thì trong giai đoạn phát triển mới, mục tiêu quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng trên cơ sở đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Quá trình này được phản ánh bằng sự gia tăng đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế. Đây cũng là điều kiện quyết định để Việt Nam duy trì tăng trưởng 2 con số trong dài hạn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững.

Phóng viên: Theo ông, đâu là những đột phá có ý nghĩa quyết định để hiện thực hóa thành công mô hình phát triển Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết?

Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore, Israel và gần đây là Trung Quốc cho thấy, không có quốc gia nào trở thành nước phát triển chỉ bằng tích lũy vốn và mở rộng lao động. Điểm chung của các nền kinh tế thành công là đều tạo được bước đột phá về thể chế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển doanh nghiệp trong nước đủ năng lực làm chủ công nghệ; đồng thời xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Theo tôi, để hiện thực hóa mô hình phát triển mới, Việt Nam cần tập trung vào ba nhóm giải pháp đột phá có ý nghĩa quyết định.

Thứ nhất, đột phá về thể chế và quản trị quốc gia. Trọng tâm là xây dựng thể chế thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển; tạo môi trường pháp lý vượt trội cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bảo vệ và khai thác hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển, quản trị dựa trên dữ liệu, kết quả và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Thứ hai, đột phá về huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia. Cần ưu tiên đầu tư cho hạ tầng số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và các ngành công nghệ chiến lược; đồng thời đổi mới chính sách thu hút đầu tư theo hướng lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, gắn với chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Quan trọng hơn, phải chuyển từ tư duy phân bổ nguồn lực sang kiến tạo và phát huy hiệu quả nguồn lực, lấy hiệu quả và tác động phát triển làm thước đo trong huy động, phân bổ và sử dụng mọi nguồn lực của quốc gia.

Thứ ba, đột phá về phát triển doanh nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Tập trung hình thành đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp đầu chuỗi, có năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ lõi, từng bước tham gia vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, dữ liệu, sở hữu trí tuệ và thương hiệu trong chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời phát triển hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Ba nhóm giải pháp này có mối quan hệ hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau. Thể chế và quản trị quốc gia là khâu mở đường; nguồn lực là điều kiện bảo đảm; còn doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp chuyển hóa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Có thể khẳng định, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển sang một mô hình phát triển mới để thực hiện khát vọng trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã xác lập định hướng chiến lược cho quá trình chuyển đổi đó, với trọng tâm là tạo lập năng lực phát triển mới trên nền tảng thể chế hiện đại, quản trị quốc gia tiên tiến, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và lực lượng sản xuất mới. Nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả, Nghị quyết sẽ tạo động lực mạnh mẽ để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ chiến lược, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Nguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn/emagazine-doi-moi-mo-hinh-phat-trien-viet-nam-mo-loi-cho-ky-nguyen-tang-truong-moi-163323.html