Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 3 và quý I năm 2026
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026 diễn ra trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; căng thẳng chính trị leo thang, đặc biệt xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông làm gián đoạn các tuyến vận tải biển và hàng không quốc tế, tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Nguồn cung và giá cả các mặt hàng năng lượng như dầu thô, khí LNG, các sản phẩm từ dầu mỏ biến động mạnh, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, thương mại và triển vọng phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Thị trường tài chính, tiền tệ, đầu tư, thương mại, phí vận tải toàn cầu biến động mạnh. Giá các mặt hàng nhiên liệu, vàng, bạc, kim loại quý tăng cao. Nhiều nền kinh tế lớn có xu hướng tiếp tục nới lỏng thận trọng chính sách tiền tệ, đẩy mạnh chính sách tài khóa, mở rộng chi tiêu hỗ trợ tăng trưởng, thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Thiên tai, thời tiết ngày càng diễn biến bất thường, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Trong nước, Nhân dân đón Tết Nguyên Đán năm 2026 trong không khí vui tươi, đầm ấm, an toàn, lành mạnh và tiết kiệm; đồng thời phấn khởi trước thành công tốt đẹp của Đại hội XIV của Đảng, Cuộc bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2030 tạo niềm tin và khí thế mới, góp phần củng cố tinh thần đoàn kết, thúc đẩy các phong trào thi đua lao động sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội ngay từ những tháng đầu năm. Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các dự án trọng điểm quốc gia đồng loạt triển khai tạo động lực tăng trưởng nền kinh tế. Tuy nhiên, những thuận lợi và thách thức đan xen, trong đó khó khăn lớn nhất là các yếu tố bất lợi từ bên ngoài và những hạn chế nội tại của nền kinh tế kéo dài nhiều năm.
Về phía tỉnh Đắk Lắk, mặc dù tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động, song với sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, sự điều hành quyết liệt của UBND tỉnh và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; hầu hết các khu vực kinh tế đều tăng trưởng so với cùng kỳ. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch phát triển khá; sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng; sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định; công tác hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp được quan tâm, số doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội được chú trọng, an sinh xã hội được bảo đảm, chất lượng giáo dục, y tế từng bước được nâng lên; các chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí, góp phần tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bên cạnh đó, vẫn còn những tồn tại như: Tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh không đạt kịch bản tăng trưởng đề ra; một số ngành, lĩnh vực tuy có tăng trưởng nhưng chưa đạt kỳ vọng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chưa đạt kế hoạch; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn. Kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, chưa tạo được đột phá. Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch còn hạn chế; chưa có nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa tạo chuyển biến rõ nét và chưa thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Đời sống của một bộ phận Nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn.
Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong năm 2026 trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau:
I. Tăng trưởng kinh tế
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh
Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh (giá so sánh 2020) quý I/2026 ước đạt 36.291,4 tỷ đồng, tăng 7,47% so với cùng kỳ. Trong đó, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 8.343,3 tỷ đồng, tăng 5,44% (KH tăng 5,77%), đóng góp 17,72% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng đạt 8.147,1 tỷ đồng, tăng 9,51% (KH tăng 15,53%), đóng góp 29,10%; Khu vực Dịch vụ đạt 17.947,3 tỷ đồng, tăng 7,76% (KH tăng 10,05%), đóng góp lớn nhất với 53,18% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.
Bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế tỉnh cho ta thấy Khu vực Dịch vụ chính là điểm sáng nhất với tốc độ tăng trưởng 7,76%, đóng góp lớn nhất 3,83 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Xét về mức độ đóng góp của các ngành trong Khu vực Dịch vụ cho thấy: Ngành bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tiếp tục đứng thứ nhất về mức độ đóng góp là 1,22 điểm phần trăm, tăng 8,79% là do nhu cầu của người dân và xuất khẩu tăng; tiếp theo là ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống đóng góp 0,41%, tăng 9,75%; ngành giáo dục vào đào tạo đóng góp 0,40 điểm, tằng 6,31%; ngành hoạt động của đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội đóng góp 0,38 điểm, tăng 8,61%; ngành hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm đóng góp là 0,32 điểm, tăng 6,95%;... Mặc dù không có ngành nào tăng trưởng âm, tuy nhiên một số ngành còn lại tăng thấp hoặc đóng góp ít như: hoạt động kinh doanh bất động sản chỉ tăng 3,43%, đóng góp 0,12 điểm; ngành nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 3,69%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế ...
Đứng ở vị trí thứ hai trong đóng góp vào vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế là Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đóng góp 2,09 điểm phần trăm, tăng 9,51%. Nổi bật trong khu vực này chính là ngành công nghiệp tăng 10,50% so với cùng kỳ và đóng góp 1,75 điểm phần trăm. Một số ngành có mức tăng trưởng tích cực trong ngành công nghiệp chính là: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,60%, đóng góp 0,92 điểm, đây là điểm tích cực bởi vì ngành này còn chịu tác động như: giá nguyên, nhiên vật liệu tăng cao, một số đơn hàng bị giảm, thị trường xuất, nhập khẩu bị ảnh hưởng do căng thẳng chính trị giữa các quốc gia lớn trên thế giới; ngành sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,76 điểm, tăng 9,61% nguyên nhân do các nhà máy thủy điện hoạt động hết công suất, các công trình điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối tiếp tục hoạt động ổn định. Riêng đối với ngành Xây dựng duy trì ổn định tăng 6,44%, đóng góp 0,35 điểm là do các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh đã và đang đưa vào hoạt động.

Đứng ở vị trí cuối cùng chính là Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,28 điểm phần trăm, tăng 5,44%. Trong kỳ, điều kiện thời tiết, khí hậu nhìn chung thuận lợi nên diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng tăng so với cùng kỳ, đặc biệt giá các loại nông sản, hoa quả đều tăng đã góp phần ổn định thu nhập cho người dân, nâng cao giá trị sản phẩm. Sau thiệt hại của cơn bão số 13, ngành nông nghiệp đã có sự phục hồi và tiếp tục giữ vai trò chủ đạo đóng góp 1,16 điểm, tăng 5,50%. Ngành lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì mức đóng góp ổn định. Bên cạnh đó, giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn gia súc và thủy sản vẫn đang ở mức cao ít nhiều đã tác động đến quá trình sản xuất của khu vực này.
So với cùng kỳ năm trước, Thuế sản phẩm và trợ cấp sản phẩm tăng 5,20%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm, trong đó thuế giá trị giá tăng và các loại thuế sản phẩm khác còn lại tăng 5,24%, đóng góp 0,27 điểm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quý I/2026 (theo giá hiện hành): Giá trị tổng sản phẩm ước đạt 45.569,0 tỷ đồng, đạt 17,25% KH năm. Trong đó: Khu vực Nông lâm, nghiệp và thủy sản ước đạt 10.799,5 tỷ đồng, đạt 11,52% kế hoạch, chiếm 23,70% trong giá trị tổng sản phẩm, giảm 1,22 điểm phần trăm so với tỷ trọng nền kinh tế quý I/2025; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 9.845,8 tỷ đồng, đạt 18,03% so kế hoạch, chiếm 21,61%, tăng 0,54 điểm phần trăm; Khu vực Dịch vụ đạt 22.596,1 tỷ đồng, đạt 21,26% kế hoạch, chiếm 49,58%, tăng 0,8 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 2.327,6 tỷ đồng, đạt 24,39% kế hoạch năm, chiếm 5,11%, giảm 0,11điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm 2025
Cơ cấu của các ngành kinh tế trong quý I/2026 đã có sự chuyển dịch dần về phía khu vực dịch vụ và khu vực công nghiệp – xây dựng. Tỷ trọng của của 02 khu vực này dù tăng nhẹ nhưng đã thể hiện nỗ lực của tỉnh trong việc hướng tới công nghiệp hóa, hiện đai hóa nền kinh tế.
2. Nguyên nhân tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I/2026 không đạt kế hoạch và Dự báo tăng trưởng kinh tế quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh quý I/2026 không đạt kế hoạch đã tác động rất lớn đến mục tiêu tăng trưởng năm 2026 là trên 11% nguyên nhân chính là do tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng, giá nguyên vật liệu và chi phí sản xuất. Sản xuất nông nghiệp bị tác động bởi dịch tả lợn Châu Phi. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công thấp hơn so cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư khu vực Nhà nước giảm do kế hoạch vốn năm 2026 giảm và nhiều dự án lớn chuyển sang giai đoạn hoàn thiện hoặc chưa khởi công, nên khối lượng thực hiện không đáng kể. Bên cạnh đó, các dự án xây dựng mới chủ yếu đang trong giai đoạn chuẩn bị, chưa phát sinh giá trị. Ngoài ra, do yếu tố thời vụ, các dự án thường tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công vào cuối Quý IV năm 2025; vì vậy, giai đoạn đầu năm chủ yếu triển khai công tác chuẩn bị đầu tư, nên khối lượng thực hiện thấp. Điểm nghẽn chủ yếu nằm ở khu vực công nghiệp – xây dựng và hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, đây là giai đoạn đầu năm mang tính khởi động, dự kiến các dự án lớn sẽ được đẩy nhanh triển khai trong các quý tiếp theo, tạo dư địa để cải thiện tăng trưởng, góp phần phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm 2026.
Theo kế hoạch tăng trưởng năm 2026, tăng trưởng kinh tế của tỉnh quý II/2026 ước đạt 10,06% và 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10,02%. Tuy nhiên trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, nhất là giá xăng, dầu tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế của nước ta nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Nếu không tháo gỡ được những vướng mắc của 04 công trình điện gió, giải ngân vốn đầu tư phát triển đạt mức thấp, không phát sinh sản phẩm công nghiệp mới...dự báo tăng trưởng quý II và 6 tháng đầu năm 2026 của tỉnh sẽ không đạt được kế hoạch đề ra và dự báo chỉ tăng trưởng từ 7-8% so cùng kỳ năm trước.
3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong quý I năm 2026, ngành nông nghiệp tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Sản xuất vụ Đông xuân năm nay tương đối thuận lợi về thời tiết, kênh mương dẫn nước được gia cố cải tạo đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng. Các loại cây lâu năm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng phát triển tốt, đặc biệt giá hồ tiêu duy trì ở mức cao kỷ lục tạo động lực cho người dân đầu tư chăm sóc. Chăn nuôi phát triển ổn định. Công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được giám sát chặt chẽ, xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh. Lâm nghiệp chú trọng công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô, đồng thời đẩy mạnh diện tích rừng trồng mới và giao khoán bảo vệ rừng. Thủy sản phát triển tích cực với sản lượng nuôi trồng và khai thác đều tăng, hứa hẹn một năm sản xuất thuận lợi. Chương trình Nông thôn mới và OCOP tiếp tục đạt nhiều kết quả thực chất với số lượng sản phẩm đạt chuẩn ngày càng tăng.
a) Nông nghiệp
Lúa đông xuân: Tính đến ngày 20/3/2026, toàn tỉnh gieo trồng 75.810 ha, giảm 0,22% so với cùng kỳ năm trước; Nguyên nhân do một số diện tích lúa tại một số địa phương ở phía Đông chuyển sang mục đích xây dựng công trình giao thông. Đến nay, một số diện tích lúa gieo sạ trà sớm đã thu hoạch được 76.500 tấn, tăng 4,72% so với cùng kỳ năm trước.
Cây hằng năm: Tính từ đầu vụ Đông xuân đến ngày 20/3/2026 đã gieo trồng được: Ngô 5.620 ha, tăng 1,5%, sản lượng ước đạt 3.880 tấn, tăng 4,86%; khoai lang 2.240 ha, giảm 1,64%, sản lượng ước đạt 672 tấn, tăng 7,52%; lạc 580 ha, giảm 1,71%, sản lượng ước đạt 12 tấn, tăng 10,09%; đậu tương 40 ha, giảm 3,8%, sản lượng ước đạt 37 tấn, tăng 5,71%; rau các loại 8.914 ha, tăng 1,0%, sản lượng ước đạt 73.189 tấn, tăng 6,67%; đậu các loại 1.460 ha, giảm 0,57%, sản lượng ước đạt 625 tấn, tăng 4,57% so cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung, việc sản xuất vụ Đông xuân năm nay tương đối thuận lợi về thời tiết, kênh mương dẫn nước được gia cố cải tạo đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng.

Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng ([1]). Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật.
Cây lâu năm: Diện tích cây cà phê toàn tỉnh ước tính 217.654 ha, tăng 1,58%, chiếm 55,59% tổng diện tích cây lâu năm. Hiện nay, cây cà phê đang được đầu tư chăm sóc, phát tán bờ lô, bón phân kích thích ra hoa, đậu quả, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng.
Diện tích cây cao su toàn tỉnh ước tính 33.151 ha, giảm 0,61%, chiếm 8,47% tổng diện tích cây lâu năm; Sản lượng mủ cao su khai thác 3 tháng đầu năm ước đạt khoảng 8.400 tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, cây cao su bước vào mùa thay lá. Các vườn cây hầu hết tạm dừng khai thác mủ để dưỡng cây, chuẩn bị cho vụ thu hoạch mới vào khoảng tháng 5/2026.

Diện tích cây tiêu toàn tỉnh ước tính 28.804 ha, tăng 1,78% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 7,36% tổng diện tích cây lâu năm; Ước tính sản lượng đạt 82.450 tấn, tăng 5,32% so với cùng kỳ năm trước. Giá hồ tiêu tại Đắk Lắk vẫn duy trì ở ngưỡng cao kỷ lục. Việc giá tiêu cao giúp người dân phấn khởi và chăm sóc cho cây tiêu tốt hơn để đạt được sản lượng tốt nhất.
Diện tích cây điều toàn tỉnh ước tính 26.408 ha, giảm 4,27%, chiếm 6,74%, tổng diện tích cây lâu năm; Sản lượng điều ước đạt khoảng 40.850 tấn, tăng 4,85% so với cùng kỳ năm trước. Cây điều đang chịu áp lực lớn từ việc chuyển đổi sang trồng sầu riêng và các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao hơn.
Diện tích cây sầu riêng ước đạt 41.821 ha, tăng 5,76%, chiếm 52,54% trong tổng diện tích cây ăn quả của tỉnh. Ước sản lượng sầu riêng thu hoạch trái vụ trong 3 tháng đạt 120 tấn, tăng 44,58% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, sầu riêng chính vụ đang trong giai đoạn ra hoa và đậu quả non. Nông dân đang tập trung cao độ cho việc tưới nước và bón phân trong bối cảnh thời tiết khô hạn đặc trưng của Tây Nguyên.
Diện tích cây bơ ước đạt 3.760 ha, giảm 7,99%, chiếm 4,72% trong tổng diện tích cây ăn quả của tỉnh; Ước sản lượng bơ trái vụ 3 tháng đầu năm đạt 58 tấn, tăng 4,32% so với cùng kỳ năm trước. Quý I là thời điểm các giống bơ nội địa (bơ sáp, bơ 034) đang trong giai đoạn ra hoa và đậu quả non. Thời tiết nắng nóng đặc trưng của Tây Nguyên trong quý này đòi hỏi chế độ tưới tiêu khắt khe để tránh rụng trái sinh lý.
Tình hình sâu bệnh trên cây công nghiệp lâu năm: Thời điểm hiện nay là thời tiết khô hanh, các loại dịch bệnh có xu hướng phát triển mạnh trên diện rộng, các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh.
Chăn nuôi: Trong quý I/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, tổng đàn vật nuôi được duy trì, sản lượng sản phẩm chăn nuôi tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn và gia cầm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của dân cư trong dịp Tết Nguyên Đán. Công tác tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc khử trùng, kiểm dịch động vật và giám sát dịch bệnh được triển khai theo kế hoạch. Tuy nhiên, dịch bệnh trên động vật vẫn tiềm ẩn nguy cơ, đặc biệt là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi và bệnh Dại trên động vật vẫn xảy ra trên một số địa bàn trong tỉnh([2]). Trong thời gian tới cần tiếp tục tăng cường tiêm phòng, giám sát dịch bệnh và thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh.
Đến cuối tháng 3/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm dự ước như sau:

Đàn trâu hiện có 26.957 con, giảm 4,14% so với cùng kỳ năm trước. Ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I/2026 ước đạt 665 tấn, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước.
Đàn bò hiện có 367.292 con, giảm 6,85% so với cùng kỳ năm trước. Ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I/2026 là 11.254 tấn, tăng 4,67% so cùng kỳ năm trước.
Đàn lợn hiện có 1.053.121 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,33%. Ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I/2026 là 62.975 tấn, tăng 6,24% so với cùng kỳ năm trước.
Đàn gia cầm hiện có 21.282 nghìn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,99% là do các hộ nuôi gia cầm theo quy mô lớn tăng([3]). Sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng quý I/2026 ước đạt 21.135 tấn, tăng 7,42% so cùng kỳ năm trước.
Sản lượng trứng gia cầm ước quý I/2026 là 105.715 nghìn quả, tăng 6,67% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng sữa bò quý I/2026 ước đạt 6.250 tấn, tăng 2,46% so với cùng kỳ.

Trong tháng 3/2026, công tác kiểm tra gia súc, gia cầm trước khi xuất, nhập tỉnh, quá cảnh và kiểm soát giết mổ cũng được chú trọng, đã kiểm dịch xuất tỉnh 2.675.329 con (trâu 385 con, bò 2.218 con, heo 192.105 con, gà 2.414.516 con, vịt + ngan 66.105 con); kiểm dịch nhập tỉnh được 3.903.360 con (trâu 2 con, bò 1.286 con, heo 130.387 con, gà 2.810.087 con, vịt + ngan 961.598 con). Lũy kế quý I/2026, kiểm dịch xuất tỉnh hơn 4,7 triệu con; kiểm dịch nhập tỉnh gần 6,7 triệu con.
b) Lâm nghiệp
Tình hình sản xuất lâm nghiệp quý I/2026 trên địa bàn tỉnh được đánh giá là duy trì đà tăng trưởng ổn định. Tập trung cao độ vào công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô và chuẩn bị tốt các điều kiện kỹ thuật cho kế hoạch trồng rừng cả năm.
Phát triển rừng: Diện tích rừng trồng mới của tỉnh trong quý I/2026 ước đạt 1.247,8 ha, tăng 4,59% so với cùng kỳ năm trước (trong đó, diện tích rừng sản xuất trồng mới là 1.209 ha, tăng 4,58%; diện tích rừng phòng hộ trồng mới là 31,5 ha, tăng 5%; đặc dụng trồng mới là 7,3 ha, tăng 4,29%). Diện tích rừng trồng được chăm sóc là 4.453 ha, tăng 4,74%. Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 11.200 ha, tăng 4,07%. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 302.120 ha, tăng 8,71%. Cây lâm nghiệp trồng phân tán ước 0,52 triệu cây, tăng 4%.

Khai thác lâm sản: Ước sản lượng gỗ khai thác trong tháng 3 trên địa bàn tỉnh đạt 44,2 ngàn m3 gỗ, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, sản lượng gỗ khai thác được 103.521 m3, tăng 4,37%, chủ yếu sản lượng gỗ nguyên liệu giấy trong nhân dân; Ước sản lượng củi khai thác quý I/2026 là 345.600 ster, tăng 2,98% so với cùng kỳ năm trước.
Quản lý bảo vệ rừng: Các cấp, các ngành tăng cường các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao trách nhiệm trong quản lý rừng tự nhiên; tập trung chỉ đạo các chủ rừng thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, phát triển rừng; đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản. Trong quý I/2026, trên địa bàn tỉnh lực lượng Kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chủ rừng và các ngành chức năng phát hiện và lập biên bản để xử lý các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp gồm 187 vụ, trong đó: 04 vụ khai thác rừng trái pháp luật, 07 vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng, 124 vụ phá rừng trái pháp luật, 01 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ động vật rừng, 25 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 21 vụ tàng trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến lâm sản trái pháp luật, 05 vụ vi phạm quy định về quản lý hồ sơ lâm sản trong vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản. Tang vật vi phạm gồm: Phương tiện, máy móc, công cụ tạm giữ: 31 loại; Gỗ các loại: 51,791 m3; 36 cá thể và 45 kg động vật rừng; 151,654 ster củi; 7.150 kg và 3.750 cây lâm sản các loại. Đã xử lý 140 vụ, trong đó xử phạt vi phạm hành chính 138 vụ, xử lý hình sự 02 vụ; số tiền thu sau xử lý đã nộp ngân sách nhà nước là 282,675 triệu đồng.
c) Thủy sản
Trong quý I/2026, tình hình nuôi trồng và đánh bắt thủy sản (đặc biệt là nuôi trồng) diễn biến tích cực, tăng trưởng đều, hứa hẹn cho một năm nuôi trồng thuận lợi.

Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 3/2026, ước đạt 9.636,1 tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026 ước đạt 21.327 tấn, tăng 7,15%.
- Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng 3/2026 ước đạt 8.392 tấn, tăng 7,54% so với cùng kỳ, chia ra: Cá các loại 7.146 tấn, tăng 8,14% (trong đó: Cá ngừ đại dương 580 tấn, tăng 5,1% và chiếm 6,9% trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển); tôm 39 tấn, tăng 2,82%; thủy sản khác 1.207 ngàn tấn, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 19.487,9 tấn, tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá đạt 16.203,1 tấn, tăng 7,68%; tôm đạt 105,7 tấn, tăng 4,73%; thủy sản khác đạt 3.179,1 tấn, tăng 5,44% so với cùng kỳ năm trước.
- Sản lượng thủy sản khai thác nội địa tháng 3/2026 ước đạt 51,8 tấn, tăng 10,14% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản khai thác nội địa ước đạt 150 tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước.
- Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 3/2026 ước đạt 1.192,3 tấn, tăng 7,14%. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.689,1 tấn, tăng 5,74% so với cùng kỳ năm trước.
d) Chương trình Xây dựng nông thôn mới
Các ngành, địa phương tiếp tục tập trung triển khai các nội dung thuộc Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đã được Quốc hội kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2026 để đảm bảo hoàn thành dự toán, kế hoạch và mục tiêu đã đề ra; tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Đến nay, toàn tỉnh có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới và 764 sản phẩm OCOP của 374 chủ thể.
4. Công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 3 và quý I năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá. Các ngành công nghiệp cấp I duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, nổi bật trong đó chính là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 12,16% so với cùng kỳ năm trước, giữ vai trò động lực chính của toàn ngành.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 3/2026 tăng 22,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 6,29%; chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,23%([4]); chỉ số ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 30,54%; chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,98%.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý I/2026 tăng 12,03% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 5,57%, sản lượng các sản phẩm khai khoáng biến động trái chiều; trong đó, đá xây dựng khác giảm 5%, còn đá cẩm thạch, travertine tăng mạnh, góp phần duy trì mức tăng chung của toàn ngành. Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,16%, chỉ số này tăng ở hầu hết các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 33,12%, thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên đạt 394,5 triệu viên, tăng 33,12%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 25,59%, dăm gỗ đạt 46.279 tấn, tăng 28,14%; sản xuất đồ uống tăng 16,83%, bia đóng chai đạt 18 triệu lít, tăng 11,40%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,28%, trong đó cá ngừ đóng hộp đạt 1.818,8 tấn, tăng 26,24%, cà phê bột các loại đạt 15.097,4 tấn, tăng 18,36%, hạt điều khô đạt 31,177,9 tấn, tăng 13,35%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,61%, đá lát lề đường đạt 112.632 m2, tăng 20,41%; sản xuất trang phục tăng 6,42%, quần áo các loại 7.910,2 nghìn cái, tăng 11,63%; riêng ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 5,02% đã hạn chế mức tăng chung của ngành. Chỉ số ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt trong tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước, điện sản xuất đạt 2.278,2 triệu kWh, tăng 19,01% và điện thương phẩm đạt 980 triệu kWh, tăng 6,71%. Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,93%, sản phẩm nước uống được đạt 15.552,9 nghìn m3, tăng 13,30% và dịch vụ thu gom xử lý rác thải đạt 36,7 tỷ đồng, tăng 6,14%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2026 tăng 39,10% so với tháng trước và tăng 48,66% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành tăng 38,42% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2026 nhìn chung tích cực nhưng không đồng đều giữa các ngành. Một số ngành có mức tăng khá như: sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 27,48%, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 20,91%, sản xuất đồ uống tăng 19,26%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,29% và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,79%. Bên cạnh đó, một số ngành có mức tăng thấp hơn như sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,92% và sản xuất trang phục tăng 10,49%, phản ánh nhu cầu thị trường chưa ổn định, chịu tác động của chi phí đầu vào và nhu cầu tiêu dùng còn thấp.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2026 tăng 23,24% so với tháng trước và giảm 29,38% so với cùng thời điểm năm trước, cho thấy lượng tồn kho có xu hướng tăng trở lại trong ngắn hạn tuy nhiên vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, phản ánh khả năng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp nhìn chung được cải thiện.
Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2026 tăng 0,58% so với tháng trước và tăng 1,27% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu sử dụng lao động có xu hướng ổn định và tăng nhẹ. Tính chung quý I/2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo loại hình doanh nghiệp, lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,72%, tiếp tục là khu vực thu hút lao động; trong khi khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 2,58% và khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 10,33%. Xét theo ngành công nghiệp cấp I, lao động tăng ở ngành khai khoáng (tăng 14,54%), ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (tăng 0,56%) và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (tăng 2,54%); riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm nhẹ 0,02%. Sự biến động lao động diễn ra không đồng đều giữa các ngành và loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên xét chung toàn ngành, tình hình sử dụng lao động không có nhiều thay đổi.
Nhìn chung, sản xuất công nghiệp quý I/2026 trên địa bàn tỉnh chịu tác động đan xen của cả yếu tố thuận lợi và khó khăn. Trong bối cảnh các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên Đán, hoạt động sản xuất công nghiệp cơ bản được duy trì. Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều biến động, đặc biệt là xung đột địa chính trị tại khu vực Trung Đông làm gia tăng giá xăng dầu, kéo theo chi phí nguyên vật liệu và logistics tăng cao; cùng với đó, một số ngành hàng, nhất là dệt may xuất khẩu, chịu tác động do đơn hàng giảm. Bên cạnh đó, khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và đổi mới công nghệ, ảnh hưởng đến khả năng nâng cao năng suất và thúc đẩy chuyển đổi số. Hạ tầng kỹ thuật tại một số khu, cụm công nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ, các hạng mục về giao thông, logistics và xử lý môi trường còn là điểm nghẽn, làm giảm hiệu quả sản xuất và thu hút đầu tư. Nguồn nguyên liệu đầu vào cho một số ngành chế biến nông sản chưa ổn định do tính mùa vụ, ảnh hưởng của thời tiết và biến động giá cả, dẫn đến một số nhà máy chưa hoạt động hết công suất. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp đã chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, tiết giảm chi phí, tìm kiếm thị trường tiêu thụ và nâng cao hiệu quả hoạt động. Nhờ vậy, mặc dù còn nhiều khó khăn, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động, từng bước thích ứng với điều kiện mới, góp phần ổn định sản xuất và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong quý I/2026.
5. Hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã
a) Về hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp (DN)
Tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước; tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, tỉnh tổ chức các hoạt động gặp mặt, động viên, khen thưởng doanh nghiệp tiêu biểu nhân dịp Tết Nguyên Đán, góp phần khích lệ cộng đồng doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh.

Quý I/2026, tình hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục có nhiều biến động, ước tính có 990 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 6.020 tỷ đồng (tăng 96,43% về số doanh nghiệp nhưng giảm 53,26% về số vốn so với cùng kỳ năm trước), có 300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 25,52%); bên cạnh đó, có 200 doanh nghiệp giải thể, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 900 doanh nghiệp, tăng 9,09%.
Trong quý I/2026, bức tranh doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thể hiện sự đan xen giữa tín hiệu tích cực và yếu tố thách thức. Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tăng, cho thấy môi trường kinh doanh có những cải thiện nhất định và niềm tin thị trường dần được củng cố. Tuy nhiên, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao, phản ánh năng lực chống chịu của khu vực doanh nghiệp còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu do phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ; trước tác động của tình hình kinh tế thế giới còn nhiều biến động, khả năng chống chịu và năng lực tài chính còn yếu. Nhiều doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, doanh thu thấp hoặc không có doanh thu, khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng, nợ thuế lớn, gặp khó khăn trong chi trả tiền lương cho người lao động. Bên cạnh đó, một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế về năng lực quản trị, chiến lược kinh doanh chưa phù hợp, chậm chuyển đổi số và chưa kịp thời thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Do đó, việc tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ thiết thực, nâng cao hiệu quả điều hành và tăng cường khả năng thích ứng của doanh nghiệp là yêu cầu quan trọng trong thời gian tới.
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp chế biến, chế tạo
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2026 cho thấy 30,68% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn so với quý trước; 51,14% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 18,18% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.
Dự kiến quý II/2026, có 31,82% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ thuận lợi hơn so với quý I/2026; 47,73% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 20,45% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.
Xét theo các ngành công nghiệp chủ yếu, triển vọng sản xuất kinh doanh quý II/2026 có sự phân hóa rõ rệt giữa các ngành. Một số ngành có mức độ lạc quan cao, trong đó ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu có toàn bộ doanh nghiệp đánh giá tình hình thuận lợi; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất cũng có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá thuận lợi cao hơn so với tỷ lệ đánh giá khó khăn, phản ánh xu hướng tích cực. Một số ngành có xu hướng tương đối ổn định, khi số doanh nghiệp đánh giá thuận lợi cao hơn hoặc gần tương đương với số doanh nghiệp đánh giá khó khăn như sản xuất chế biến thực phẩm và sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác, cho thấy kỳ vọng duy trì hoạt động sản xuất trong điều kiện ít biến động. Ngược lại, một số ngành có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá khó khăn cao hơn so với tỷ lệ đánh giá thuận lợi như chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế; bên cạnh đó, ngành sản xuất trang phục có tỷ lệ đánh giá thuận lợi và khó khăn tương đương, còn ngành sản xuất đồ uống có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá khó khăn chiếm ưu thế, cho thấy triển vọng còn nhiều thách thức.
Về khối lượng sản xuất, có 34,09% số doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất quý I/2026 tăng so với quý trước; 47,73% số doanh nghiệp đánh giá ổn định và 18,18% số doanh nghiệp đánh giá giảm. Xu hướng quý II/2026 so với quý I/2026, có 31,82% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 53,41% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 14,77% số doanh nghiệp dự báo giảm.

Về đơn đặt hàng, có 31,33% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới quý I/2026 tăng so với quý trước; 43,37% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 25,30% số doanh nghiệp đánh giá giảm. Xu hướng quý II/2026 so với quý I/2026, có 31,33% số doanh nghiệp dự kiến số lượng đơn đặt hàng mới tăng; 46,99% số doanh nghiệp dự kiến ổn định và 21,69% số doanh nghiệp dự kiến giảm.
c)Tình hình kinh tế tập thể: Trong quý I năm 2026, ước có 20 hợp tác xã thành lập mới; lũy kế toàn tỉnh có khoảng 990 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã còn hoạt động. Các hợp tác xã chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống người dân.
6. Hoạt động dịch vụ
Giá xăng, dầu trong tháng 3/2026 tăng cao đã tác động mạnh tới doanh thu các ngành dịch vụ giảm so với tháng trước. Tính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng vẫn tăng cao so với cùng kỳ năm trước (+14,09%) là do nhu cầu tiêu dùng, sản xuất phục vụ cho xuất khẩu hàng hóa và các chương trình kích cầu du lịch trong dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026.
Tình hình thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, lưu thông thông suốt. Nhiều doanh nghiệp, trung tâm thương mại, siêu thị và cửa hàng bán lẻ tổ chức các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, giảm giá nhiều mặt hàng nhằm kích cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026. Tuy nhiên, trong tháng 3, trước tình hình xung đột leo thang tại Iran và các nước Trung Đông, thị trường xăng dầu trong nước và thế giới có nhiều biến động, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn cung xăng dầu phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của Nhân dân; Ban Chỉ đạo 389 tỉnh đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh, đồng thời, theo dõi, nắm bắt tình hình thị trường, diễn biến cung cầu, giá bán xăng dầu, nhằm tránh ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của các cơ sở kinh doanh xăng dầu, giúp ổn định thị trường, tránh gây tâm lý bất an cho người dân; chưa phát hiện trường hợp nào vi phạm về găm hàng, tạo khan hiếm nguồn cung xăng dầu, ngừng bán hàng không có lý do chính đáng, tự ý tăng giá, bán không đúng giá niêm yết, kinh doanh xăng dầu nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không đảm bảo chất lượng.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026 ước đạt 16.525,9 tỷ đồng, giảm 6,33% so với tháng trước và tăng 12,05% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 13.685,8 tỷ đồng, giảm 6,45% so với tháng trước, tăng 11,83% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 82,81% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026; so với cùng kỳ năm trước, một số mặt hàng tăng như: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 168,40%; nhiên liệu khác tăng 39,46%; ô tô các loại tăng 20,25%... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.845,3 tỷ đồng, giảm 4,97% so với tháng trước, tăng 14,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 225,5 tỷ đồng, giảm 10,96% và tăng 12,12%; dịch vụ ăn uống ước đạt 1.619,9 tỷ đồng, giảm 4,07% và tăng 14,96%. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 9,4 tỷ đồng, tăng 11,77% và tăng 17,95%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 985,3 tỷ đồng, giảm 7,27% so với tháng trước và tăng 10,47% so cùng kỳ năm 2025.
Tính chung quý I/2026, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 50.887,7 tỷ đồng, tăng 14,09% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 42.138,2 tỷ đồng, tăng 13,68% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 82,81% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026. Xét theo doanh thu của các mặt hàng bán lẻ, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung, đó là mặt hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 155,96%; nhiên liệu khác tăng 26,03%; ô tô các loại tăng 50,72%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,30%;…Một số mặt hàng có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: Vật phẩm văn hoá giáo dục chỉ tăng 3,04%; Hàng may mặc tăng 7,92%; hàng hoá khác tăng 8,34%; %;…đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ;

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt gần 5.631 tỷ đồng, tăng 16,65% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 11,07% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 674,8 tỷ đồng, tăng 22,71%; dịch vụ ăn uống đạt 4.956,2 tỷ đồng, tăng 15,87%.
Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch đạt 24,7 tỷ đồng, tăng 46,90%.
Dịch vụ khác đạt 3.093,9 tỷ đồng, tăng 14,87% so với cùng kỳ năm trước.
Các hoạt động vui Xuân đón Tết được tổ chức sôi nổi, thu hút đông đảo Nhân dân và du khách đến tham quan, trải nghiệm, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong dịp đầu xuân, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương, kích cầu tiêu dùng và thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ trên địa bàn.
Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Tháng 3/2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 565.564 lượt khách, giảm 5,70% so với tháng trước, tăng 8,64% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Lượt khách ngủ qua đêm là 403.800 lượt khách giảm 6,76% và tăng 17,83%, lượt khách trong ngày là 161.764 lượt giảm 2,94% và tăng 5,26%. Tính chung quý I/2026, tổng số lượt khách phục vụ là 1.676.848 lượt, tăng 17,81% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, lượt khách ngủ qua đêm là 1.207.347 lượt, tăng 17,83%, khách trong ngày là 469.501 lượt, tăng 17,75%.
Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour tháng 3/2026 là 2.174 lượt, tăng 16,19% so với tháng trước và tăng 51,82% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 tổng số lượt khách du lịch theo tour là 5.546 lượt, tăng 107,25%, trong đó: Khách đi trong nước là 5.546 lượt, tăng 107,25% so với cùng kỳ năm trước.
b) Vận tải hành khách và hàng hoá
Giá xăng dầu tăng mạnh trong tháng 3/2026 đã ảnh hưởng không nhỏ đến doanh thu dịch vụ vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2026. Một số doanh nghiệp vận tải trên địa bàn tỉnh tiếp tục vận chuyển, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân song giá vé vận chuyển hàng khách và cước hàng hóa ngày đã tăng 20-30%.
Tháng 3/2026, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 883,5 tỷ đồng, giảm 1,89% so với tháng trước, tăng 6,05% so cùng kỳ năm trước, trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 248,4 tỷ đồng, giảm 1,01% và tăng 6,37%; vận tải hàng hóa đạt 537,8 tỷ đồng giảm 1,12% và tăng 6,39; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 51,5 tỷ đồng, giảm 10,46% và tăng 3,99%; dịch vụ bưu chính chuyển phát ước đạt 45,7 tỷ đồng, giảm 4,88% so với tháng trước và tăng 2,90% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách ước đạt 2.196 ngàn lượt hành khách và 307 triệu lượt hành khách.km, so với tháng trước giảm 0,81% về khối lượng vận chuyển và giảm 2,24% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 3,24% về khối lượng vận chuyển và tăng 4,42% về khối lượng luân chuyển; Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.391 ngàn tấn và 447 triệu tấn.km, so với tháng trước giảm 5,47% về khối lượng vận chuyền và giảm 9,26% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 6,22% về khối lượng vận chuyển và tăng 8,43% về khối lượng luân chuyển.
Tính chung quý I/2026, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 2.637,1 tỷ đồng, tăng 11,06% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 731,2 tỷ đồng, tăng 12,41%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.609,5 tỷ đồng, tăng 10,24%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 159,2 tỷ đồng, tăng 12,06%; bưu chính chuyển phát đạt 137,2 tỷ đồng, tăng 12,58%; Ước tính vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 6.548 ngàn lượt hành khách và 902 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước trước tăng 10,13% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,53% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 4.303 ngàn tấn và 1.382 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,30% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,84% về khối lượng luân chuyển hàng hóa.
c) Chuyển đổi số
Công tác chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo được quan tâm chỉ đạo và triển khai đồng bộ. Đã xây dựng Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030; Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo UBND tỉnh về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06. Đồng thời, xây dựng dự thảo Quyết định ban hành Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số của các sở, ban, ngành và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Triển khai Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 55 năm 2026 trên địa bàn tỉnh; cấp phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến đối với thiết bị đặt trên phương tiện nghề cá và thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo[5].
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm
Ngân hàng: Đến cuối quý I/2026, tổng nguồn vốn huy động ước đạt 171.200 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ và tăng 2,32% so với cuối năm 2025 (tăng thêm 3.887 tỷ đồng); tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn ước đạt 271.800 tỷ đồng, tăng 16,99% so với cùng kỳ và tăng 4,34% so với cuối năm 2025 (tăng thêm 11.310 tỷ đồng); nợ xấu chiếm 1,0% tổng dư nợ cho vay. Dư nợ cho vay của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh ước đạt 15.311 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ và tăng 5,86% so với cuối năm 2025.
Bảo hiểm: Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ước quý I/2026 đạt 2.114,1 tỷ đồng, đạt 26,16% kế hoạch (KH), tăng 6,10% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi từ BHXH, BHYT, BHTN là 2.411,7 tỷ đồng, đạt 19,0% KH, tăng 2,83%. Ước số người tham gia bảo hiểm y tế là 2.645.480 người, đạt 99,30%, tăng 5,69%;
2. Đầu tư và xây dựng
2.1. Đầu tư
Quý I/2026, công tác giải phóng mặt bằng chậm, thủ tục đầu tư kéo dài và tiến độ thi công nhiều dự án bị chậm, không phát sinh dự án đầu tư mới; thêm vào đó, thiếu vật liệu, biến động giá và sự phối hợp giữa các đơn vị chưa hiệu quả đã làm cho vốn đầu tư thực hiện quý I/2026 trên địa bàn tỉnh giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đầu từ khu vực dân cư chính là điểm sáng trong bức tranh đầu tư của tỉnh tăng 4,95% so với cùng kỳ năm trước.
* Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý:
Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 3/2026 ước đạt 847,8 tỷ đồng, tăng 12,25% so với tháng trước và giảm 9,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 830,7 tỷ đồng, tăng 11,68% so với tháng trước và giảm 9,95% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 97,98% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 17,1 tỷ đồng, tăng 49,49% so với tháng trước và tăng 35,33% so với cùng kỳ năm trước.
Ước quý I/2026 vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh là 2.271,8 tỷ đồng, giảm 5,77% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.229,6 tỷ đồng, chiếm 98,14% trong tổng vốn, giảm 6,04% so với cùng quý năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 42,2 tỷ đồng, tăng 11,25% so cùng kỳ năm trước.
*Vốn đầu tư thực hiện: Huy động vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh quý I/2026 ước đạt 11.588,8 tỷ đồng, giảm 25,02% so với quý IV/2025, giảm 5,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn Nhà nước đạt gần 3.542 tỷ đồng, giảm 40,62% so với quý trước và giảm 14,89% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước (dân cư và tư nhân) đạt 7.940,9 tỷ đồng, giảm 11,59% so với quý IV/2025 và tăng 4,95% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 105,9 tỷ đồng, giảm 79,14% so với quý IV/2025 và giảm 80,17% so cùng kỳ năm trước

Tính đến ngày 20/3/2026, toàn tỉnh đã giải ngân 466,848 tỷ đồng, đạt 4,97% kế hoạch[6]. Hoàn thành việc tham mưu cấp có thẩm quyền cho phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2025 sang năm 2026 nguồn vốn ngân sách trung ương để chủ đầu tư tiếp tục triển khai thực hiện và giải ngân cho 30 dự án, với số vốn là 2.815.239,314 triệu đồng.
Một số công trình, dự án có tiến độ và giá trị thực hiện lớn tiếp tục được đầu tư thực hiện như: Dự án thành phần 3 (Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột giai đoạn 1) ước thực hiện 431.120 triệu đồng; Đầu tư xây dựng bệnh viện sản nhi ước thực hiện 88.060 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển tỉnh phú yên, đoạn kết nối huyện tuy an - thành phố tuy hòa (giai đoạn 1) ước thực hiện 76.070 triệu đồng; Hồ Suối Cái 73.960 triệu đồng; Nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho các tỉnh bị hạn hán 73.960 triệu đồng; Đường Đông Tây Buôn Ma Thuột (Giai đoạn 2) 67.720 triệu đồng; Nâng cấp khoa ung bướu thành trung tâm ung bướu thuộc bệnh viện vùng Tây Nguyên ước thực hiện 55.945 triệu đồng; Dự án chuyển đổi Nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VNSAT) 50.930 triệu đồng; Xây dựng Hệ thống chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030 ước thực hiện 47.585 triệu đồng; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc Cầu An Hải ước đạt 47.550 triệu đồng; Kè chống sạt lở bờ tả Sông Ba kết hợp phát triển hạ tầng đô thị đoạn qua thôn Vĩnh Phú 35.230 triệu đồng;...

Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư quý I/2026 giảm so với cùng kỳ năm trước vì kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 giảm so với năm 2025; bên cạnh đó các dự án trọng điểm quốc gia do Bộ Xây dựng quản lý như dự án đường bộ cao tốc bắc nam phía đông đang ở giai đoạn hoàn thiện nên khối lượng thực hiện giảm so cùng kỳ 2025. Đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các Nhà máy điện gió: Krông Búk 1; Krông Búk 2; Cư Né 1; Cư Né 2,… trong năm 2025 thực hiện đầu tư với giá trị lớn và hoàn thành trong năm 2025. Trong năm 2026, tỉnh chưa có dự án lớn của khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) khởi công mới trên địa bàn nên vốn khu vực FDI giảm so với năm trước.
Về thu hút đầu tư: Công tác xúc tiến đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm triển khai thực hiện. Tỉnh đã chủ động làm việc, trao đổi với một số nhà đầu tư lớn và các nhà đầu tư tiềm năng như: Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Hòa Phát, Xuân Cầu Holdings, Xuân Thiện Group, T&T Group, Pacific Construction Group (Trung Quốc) và một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn khác để giới thiệu về tiềm năng của tỉnh và mời gọi các doanh nghiệp, nhà đầu tư nghiên cứu, đề xuất dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh. Tính chung quý I/2026, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 05 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 2.995,83 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 10 dự án (trong đó có 02 dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư, với tổng mức tăng 807,5 tỷ đồng), tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư triển khai dự án theo quy định.
2.2. Xây dựng
Quý I/2026, ngành xây dựng tỉnh tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị; đầu tư kết cấu hạ tầng trong các khu, cụm công nghiệp, đầu tư phát triển nhà ở, khu dân cư đô thị mới; đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, các dự án xây dựng lớn. Nhiều hạng mục công trình được xây dựng và hoàn thiện như các công trình điện gió, điện mặt trời, các hệ thống đường giao thông, xây dựng trụ sở làm việc trong các khu hành chính đã đóng góp rất lớn vào giá trị sản xuất toàn ngành xây dựng quý. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế có nhiều biến động, giá xăng đâu tăng cao nên một số doanh nghiệp xây dựng vẫn còn gặp khó khăn về vốn, giá nguyên vật liệu tăng cao dẫn tới việc triển khai các dự án còn chậm, chưa hoàn thành kế hoạch đề ra.
Tỉnh đang xem xét, phê duyệt đề cương nhiệm vụ và dự toán kinh phí xây dựng điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2030; đề xuất thành lập Quỹ nhà ở địa phương trên địa bàn tỉnh; nghiên cứu chấp thuận chủ trương đầu tư 03 dự án các dự án nhà ở xã hội[7].
Ước quý I/2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng (giá so sánh 2020) đạt gần 6.557 tỷ đồng, tăng 6,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công trình kỹ thuật dân dụng đạt 3.277,5 tỷ đồng, giảm 2,37%, chiếm 49,98% tổng giá trị sản xuất; công trình nhà các loại đạt 2.666,8 tỷ đồng, tăng 4,17%, chiếm 40,67%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 612,7 tỷ đồng, tăng 131,35%. Nhìn chung, giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 tuy có tăng song chưa đạt được mục tiêu của tỉnh đề ra là do tiến độ thực hiện và giải ngân các nguồn vốn xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh vẫn còn chậm, thiếu đất đắp cho công trình, thiếu vốn để thực hiện; biến động giá vật liệu, xây dựng… Các dự án ngoài nhà nước, vốn đầu tư nước ngoài chưa thu hút được nhiều dự án lớn, chủ yếu các dự án thực hiện từ các năm trước, dự án mới với vốn đầu tư nhỏ…
3. Tài chính
Một số chính sách miễn, giảm thuế có hiệu lực từ 01/01/2026 cộng với cùng kỳ năm 2025 phát sinh khoản thu đột biến từ đấu giá quyền sử dụng đất[8] là những nguyên nhân làm cho tổng thu ngân sách nhà nước quý I/2026 không tăng cao như cùng kỳ các năm trước. Chi NSNN đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả trong khả năng cân đối ngân sách tỉnh. Ưu tiên nguồn lực cho chi đầu tư phát triển, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội và phòng chống dịch bệnh trên địa bàn.
Ngay từ đầu năm, công tác thu ngân sách nhà nước được tập trung chỉ đạo, triển khai quyết liệt với nhiều giải pháp trọng tâm, đồng bộ; tăng cường quản lý các nguồn thu, đẩy mạnh chống thất thu, xử lý nợ đọng thuế; đồng thời tập trung hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý thu, phòng, chống gian lận thương mại và hạn chế thất thu ngân sách nhà nước.

Tính đến hết 31/3, Tổng thu NSNN ước đạt 4.969.064 triệu đồng, đạt 29,03% dự toán TW và 28,06% dự toán HĐND tỉnh, tăng 6,10%. Trong đó thu nội địa ước đạt 3.759.703 triệu đồng, đạt 33,97% dự toán TW và đạt 33,97% dự toán HĐND tỉnh, tăng 17,26%, trong đó thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.894.092 triệu đồng, đạt 39,22% dự toán TW và đạt 39,22% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 35,35%. Thu xổ số kiến thiết ước đạt 150.338 triệu đồng, đạt 37,58% dự toán TW giao và đạt 37,58% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 12,25%. Thu tiền sử dụng đất đạt 1021.535 triệu đồng, đạt 18,57% dự toán TW và đạt 16,77% dự toán HĐND, giảm 21,73%. Thu xuất, nhập khẩu đạt 28.319 triệu đồng, đạt 19,13% dự toán TW và đạt 19,13% dự toán HĐND, giảm 1,85% so với cùng kỳ.
- Chi ngân sách nhà nước: Tính đến hết 31/3, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 10.442.304 triệu đồng, đạt 26,11% dự toán TW giao và đạt 25,30% dự toán HĐND tỉnh giao, giảm 1,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Chi thường xuyên đạt 6.181.892 triệu đồng, đạt 20,55% dự toán TW giao và đạt 20,55% dự toán HĐND giao, tăng 12,63%. Chi đầu tư phát triển đạt 4.260.413 triệu đồng, đạt 46,24% dự toán TW giao và đạt 40,69% dự toán HĐND, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước.
4. Xuất, nhập khẩu
Trong quý I năm 2026, hoạt động xuất khẩu tiếp tục được quan tâm và đạt kết quả tích cực. Các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng đã ký kết, chủ động duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ, nhất là đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Dự báo trong những tháng tiếp theo xuất nhập khẩu của tỉnh có thể chịu tác động bất lợi nếu xung đột tại Iran và khu vực Trung Đông tiếp tục kéo dài hoặc lan rộng, như giá xăng dầu biến động khiến cước vận tải biển và chi phí bảo hiểm hàng hải tăng, làm gia tăng chi phí đầu vào, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng theo hợp đồng đã ký kết.
Tổng kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2026 ước đạt 344 triệu USD, giảm 3,03% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 ước đạt 950 triệu USD, tăng 5,20%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 450 triệu USD, tăng 7,14% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu tháng 3 ước đạt 259 triệu USD, giảm 5,98% so cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 ước đạt 700 triệu USD, tăng 5,82% so với cùng kỳ năm trước, đạt 23,97% kế hoạch. Sản lượng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: cà phê 61.000 tấn, giảm 2,68% , hạt điều 10.500 tấn, tăng 2,40%, cao su 1.650 tấn, giảm 18,80%; tiêu 9.000 tấn, tăng 19,33%, rau củ quả 155 triệu USD, tăng 120,80%, hải sản 25 triệu USD, tăng 31,58%....Giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản duy trì ở mức cao, góp phần làm kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, đạt mục tiêu đề ra.
Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 3 ước thực hiện 85 triệu USD, tăng 13,90% so cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 ước đạt 250 triệu USD, tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước, đạt 28,74% kế hoạch. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.
5. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Sau Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026, tình hình cung cầu thị trường trên địa bàn tỉnh nguồn cung hàng hóa ổn định, giá cả nhiều mặt hàng tăng đột biến dịp Tết cũng được bình ổn. Tuy nhiên, trong tháng 3/2026, do ảnh hưởng của tình hình chính trị và kinh tế trên Thế giới, đặc biệt xung đột quân sự ở Trung Đông làm giá xăng dầu, giá vàng, giá các loại hàng hoá biến động mạnh; xuất, nhập khẩu của các mặt hàng trong nước gặp nhiều khó khăn nên tình hình giá cả các mặt hàng tiêu dùng tháng này cũng tăng khá cao.
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,47%, tăng 5,35% so với cùng kỳ năm trước tăng 5,35%, so với tháng 12 năm trước tăng 2,12%; Chỉ số giá bình quân quý bình quân quý I/2026 tăng 4,12%.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 tăng 1,47%[9]. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 08 nhóm có chỉ số giá tăng nhẹ; 02 nhóm giảm giá và 01 nhóm không đổi so với tháng trước. Nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

Nhóm giao thông tăng 11,83% làm cho CPI chung tăng 1,23 điểm phần trăm do nguồn cung giảm bởi tình hình chiến sự căng thẳng ở Trung Đông cụ thể xăng tăng 29,37%, dầu diesel tăng 56,64%, giá dịch vụ giao thông công cộng tăng cao 8,85%...Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,08% làm CPI chung tăng 0,33 điểm phần trăm, chủ yếu do giá gas và các loại chất đốt khác tăng 22,88%. Nhóm đồ uống và Thuốc lá tăng 1,1% cụ thể đồ uống không cồn tăng 2,51%; rượu, bia tăng 0,73%; thuốc hút tăng 0,71%, do nguyên liệu nhập khẩu tăng, chi phí logistic tăng. Nhóm giáo dục tăng 0,55% ở một số mặt hàng văn phòng phẩm. Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,33% do mặt hàng đồ trang sức tăng 2,88% do giá vàng, bạc tăng cao; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,46%; hiếu hỷ tăng 0,62%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18% do máy giặt tăng 1,53%; đồ nhựa và cao su tăng 1,36%... Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14% do giá nguyên vật liệu, giá vận chuyển, giá nhập khẩu tăng. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,13% do dịch vụ giải trí tăng 0,26% do giá vé xem phim, ca nhạc tăng 9,35%.
Ở chiều ngược lại có 02/11 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyển thông giảm 1,43% do giá điện thoại đi động và các phụ kiện đi kèm giảm để kích cầu tiêu dùng. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,22%, trong đó lương thực giảm 0,22%, thực phẩm giảm 0,12%, ăn uống ngoài gia đình giảm 0,67%. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giá không đổi so với tháng trước.
Bình quân quý I/2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,12%. Có 10/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 11,99%. Tiếp đến là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,04%, trong đó thực phẩm tăng 4,36%, ăn uống ngoài gia đình tăng 5,22%. Nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 3,23%. Nhóm giáo dục tăng 3,77%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 4,0%. Nhóm giao thông tăng 2,54%.. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,76% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, tết. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,95%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,75% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,0%. Nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,67%, trong đó dịch vụ y tế tăng 0,48%.

Có 01 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyền thông giảm 1,25% đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2026.
Hiện nay, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã và đang theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, lạm phát trên thế giới và kịp thời cảnh báo các nguy cơ ảnh hưởng đến tình hình trong nước. Đặc biệt, trong việc đánh giá, nhận định các mặt hàng, nguyên vật liệu có khả năng thiếu hụt tạm thời hay trong dài hạn để từ đó đưa ra được chính sách phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa một cách bình thường. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Công thương và Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, đồng thời kết hợp Quỹ bình ổn xăng, dầu để hạn chế mức tăng giá của mặt hàng này. Thông tin kịp thời, chính xác và rõ ràng các chính sách, giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ nhằm loại bỏ thông tin sai lệch về giá cả thị trường, không để xảy ra hiện tượng lạm phát do tâm lý.
b) Chỉ số giá vàng, giá đô la Mỹ
Giá vàng trong nước tháng 3/2026 biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá đô la giảm là do tình hình chính trị căng thẳng ở một số quốc gia lớn trên thế giới. Sức mua của loại hàng hóa này cũng ở mức bình thường.
Giá vàng tháng 3/2026 tăng 12,25% so với tháng trước; giá Đô la Mỹ giảm 0,85%. Bình quân quý I/2026, giá vàng tăng 86,0%; giá Đô la Mỹ tăng 2,96% so với cùng kỳ năm trước.
c) Chỉ số giá sản xuất
Tình hình chính trị thế giới có nhiều biến động, ảnh hưởng đến giá cả toàn cầu và nước ta, điều này đã ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất. Cụ thể:
Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm có liên quan tăng 1,03% và tăng 2,72%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 2,08% và tăng 4,89%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 0,20% và tăng 9,02%.
Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý I/2026 giảm 1,18% so với quý trước và giảm 0,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 10,01% so quý trước và giảm 15,38% so cùng kỳ năm trước chủ yếu giảm ở nhóm giá cà phê nhân giảm sâu do nguồn cung dồi dào và tâm lý lo ngại rủi ro từ xung động chính trị ở Trung Đông; chỉ số giá sản phẩm khai khoáng khác tăng 1,28% và tăng 78,59% do nguồn đất sét dùng sản xuất gạch xây dựng ngày càng khan hiếm; chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu khác tăng 4,63% và tăng 7,12%; chỉ số giá điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,07% và giảm 8,18%; chỉ số giá sản phẩm nước tự nhiên khai thác tăng 1,18% và tăng 0,7%; chỉ số giá dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ có giá không đổi...
III. Một số vấn đề xã hội
1. Lao động, việc làm
Thị trường lao động trên địa bàn tỉnh trong quý I/2026 cơ bản ổn định. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng nhẹ so với quý trước và cùng kỳ; thu nhập của người lao động tiếp tục được cải thiện, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng ở khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng, tình trạng thiếu việc làm còn xảy ra ở một số lĩnh vực do hoạt động sản xuất, kinh doanh còn gặp khó khăn, chi phí đầu vào tăng và tiến độ đầu tư chậm.
Quy mô lực lượng lao động tiếp tục duy trì ở mức cao, phản ánh khả năng tham gia và đáp ứng nhu cầu lao động của nền kinh tế trên địa bàn tỉnh. Cơ cấu lao động theo khu vực thành thị – nông thôn và theo giới tính nhìn chung ổn định, phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của địa phương, trong đó khu vực nông thôn và lao động nam vẫn chiếm tỷ trọng lớn. So với cùng kỳ năm trước, lực lượng lao động nam tăng chủ yếu ở khu vực nông thôn, gắn với sự phát triển của các hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, góp phần tạo thêm việc làm và nâng cao khả năng thu hút lao động.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý I/2026 dự ước 1.639,83 nghìn người, tăng 0,72 nghìn người (tăng 0,04%) so với quý trước và tăng 14,19 nghìn người (tăng 0,87%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lực lượng lao động khu vực thành thị chiếm 25,80%, giảm 0,03% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn chiếm 74,20%, tăng 1,19%. Chia theo giới tính, lực lượng lao động nam chiếm 54,33%, tăng 2,17% so với cùng kỳ năm trước; lực lượng lao động nữ chiếm 45,67%, giảm 0,62%.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc quý I/2026 dự ước 1.614,01 nghìn người, tăng 0,71 nghìn người (tăng 0,04%) so với quý trước và tăng 12,55 nghìn người (tăng 0,78%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lao động có việc làm ở khu vực thành thị chiếm 25,75%, tăng 0,87% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn chiếm 74,25%, tăng 0,75%. Chia theo giới tính, lao động nam chiếm 54,40%, tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước; lao động nữ chiếm 45,60%, tăng 0,22%.
Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Lao động khu vực dịch vụ đạt 455,84 nghìn người, chiếm 28,24%, tăng 12,62% so với quý trước và tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh sự phục hồi và phát triển của hoạt động thương mại, du lịch, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên Đán và các chương trình kích cầu du lịch trên địa bàn. Lao động khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 216,57 nghìn người, chiếm 13,42%, tăng 0,04% so với quý trước nhưng giảm 3,56% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy hoạt động sản xuất cơ bản ổn định nhưng còn chịu ảnh hưởng bởi tiến độ đầu tư và triển khai dự án. Trong khi đó, lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 941,60 nghìn người, chiếm 58,34%, giảm 5,09% so với quý trước nhưng tăng 0,97% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do yếu tố mùa vụ khi kết thúc thời gian thu hoạch một số cây trồng chủ lực, người lao động chuyển sang các lĩnh vực khác.

Tỷ lệ thất nghiệp: Tình hình thất nghiệp của người lao động có xu hướng tăng. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I/2026 dự ước 31,95 nghìn người, tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp chung của lực lượng lao động 1,95%, tăng 0,37 điểm phần trăm so với quý trước
Thu nhập bình quân tháng của người lao động làm công hưởng lương trong quý I/2026 dự ước 8.991,01 nghìn đồng, tăng 6,08% so với quý trước và tăng 13,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động nam có thu nhập bình quân ước đạt 9.617,85 nghìn đồng, gấp 1,27 lần mức thu nhập bình quân của lao động nữ; lao động làm việc tại khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân gấp 1,17 lần so với khu vực nông thôn.
Trong quý I/2026, thị trường lao động trên địa bàn tỉnh nhìn chung duy trì ổn định và có dấu hiệu phục hồi sau Tết Nguyên Đán; lực lượng lao động dồi dào, số người có việc làm tăng, thu nhập của người lao động tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, lao động có tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường; cùng với tác động của biến động kinh tế thế giới, chi phí đầu vào tăng, đơn hàng giảm và số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giải thể còn ở mức cao đã ảnh hưởng đến việc làm và làm gia tăng tình trạng thiếu việc làm ở một số lĩnh vực.
Công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm tiếp tục được triển khai đồng bộ; các chính sách bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ học nghề và giải quyết việc làm được thực hiện kịp thời. Các hoạt động kết nối cung – cầu lao động được đẩy mạnh với 08 phiên giao dịch việc làm, 17 buổi tư vấn, định hướng nghề nghiệp và 07 hội nghị tuyên truyền, qua đó đã tư vấn việc làm cho khoảng 19,20 nghìn lượt người, giới thiệu việc làm cho 380 người và cung cấp thông tin thị trường lao động cho hơn 22,55 nghìn lượt tổ chức, cá nhân; đồng thời tư vấn cho khoảng 950 lượt người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Ước tính quý I/2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 11,76 nghìn người, đạt 21% kế hoạch đề ra; xuất khẩu lao động khoảng 0,46 nghìn người, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường lao động cơ bản ổn định, song vẫn tiềm ẩn những khó khăn, đòi hỏi tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động thích ứng với biến động của thị trường trong thời gian tới.
2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và công tác phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được quan tâm thực hiện.
Nhân dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ năm 2026, toàn tỉnh đã tổ chức thăm, tặng quà cho các đối tượng chính sách, người có công với tổng kinh phí hơn 43 tỷ đồng([10]); đã hỗ trợ cho 33.306 hộ với 95.079 khẩu, tổng khối lượng gạo hỗ trợ đạt 1.426,86 tấn (trong đó, nguồn hỗ trợ từ Trung ương chiếm 95,94% và nguồn địa phương 4,06%).
Công tác quản lý, chi trả chế độ được thực hiện đầy đủ, đúng quy định. Toàn tỉnh hiện quản lý hơn 128 nghìn hồ sơ đối tượng hưởng các chế độ chính sách; số đối tượng hưởng trợ cấp hằng tháng khoảng 17,7 nghìn lượt người, với kinh phí chi trả hơn 52 tỷ đồng/tháng. Trong quý I năm 2026, đã giải quyết chế độ đối với 497 hồ sơ người có công, thân nhân người có công và các đối tượng liên quan đủ điều kiện theo quy định. Công tác hỗ trợ các đối tượng bảo trợ xã hội tiếp tục được triển khai kịp thời, tổng kinh phí hỗ trợ theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP đạt 243,8 tỷ đồng; hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không thuộc Nghị định 20/2021/NĐ-CP đạt 23,6 tỷ đồng. Toàn tỉnh đã hỗ trợ 174.047 lượt người yếu thế, trong đó chủ yếu là đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng (84.870 lượt người) và người cao tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội (74.668 lượt người); ngoài ra, có 480 lượt đối tượng được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội, 6.533 lượt người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn và 7.496 lượt trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hỗ trợ.
Về nhà ở xã hội, trong quý I năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 01 dự án nhà ở xã hội khởi công với 506 căn, tổng diện tích sàn xây dựng 48.180 m²; đồng thời có 02 dự án đang triển khai xây dựng với 572 căn, tổng diện tích sàn 57.025 m². Đồng thời, tỉnh đã hoàn thành “Chiến dịch Quang Trung”, thần tốc xây dựng mới, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân bị thiệt hại do bão, lũ trên địa bàn theo kế hoạch, bảo đảm người dân có nhà để đón Tết. Theo đó, 892/892 nhà hư hỏng nặng đã được sửa chữa và 606/606 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi đã được xây dựng hoàn thành, đạt 100% kế hoạch.
3. Y tế
Ngành y tế tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường đầu tư trang thiết bị, giáo dục về y đức, củng cố nhân lực, nâng cao kỹ năng giao tiếp, giáo dục sức khỏe và chăm sóc bệnh nhân.
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm thực hiện; các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân; trong quý I năm 2026 đã khám 576.660 lượt, điều trị nội trú cho 71.342 lượt, điều trị ngoại trú cho 18.000 lượt, chuyển viện nội trú: 3.260 lượt. Tăng cường công tác giám sát, theo dõi tình hình, báo cáo và xử lý dịch bệnh. Trong tháng 3/2026, toàn tỉnh ghi nhận 159 ca mắc bệnh tay chân miệng; 171 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 13 ca mắc bệnh thủy đậu; 01 ca mắc bệnh sởi; không có ca mắc viêm não Nhật Bản. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 371 ca mắc bệnh tay chân miệng; 445 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; 22 ca mắc bệnh thủy đậu; 01 ca mắc bệnh sởi; không có ca mắc viêm não Nhật Bản.
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (cân nặng theo độ tuổi) 13,3%; số giường bệnh đạt 31,5 giường/vạn dân; số bác sỹ đạt 9,06 bác sỹ/vạn dân. Chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục được triển khai; đến nay tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin đạt 6,1%. Số người tham gia bảo hiểm y tế đạt 2.645.480, tỷ lệ bao phủ bao hiểm y tế đạt 92%.
Công tác kiểm tra, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn được tập trung triển khai thực hiện. Trong quý I, trên địa bàn xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Dliê Ya vào ngày 28/02/2026, với 06 người mắc và phải nhập viện điều trị, không có trường hợp tử vong (tăng 01 vụ và tăng 06 người mắc so với cùng kỳ năm trước).
4. Giáo dục- Đào tạo
Trong quý I năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã chủ động triển khai các nhiệm vụ theo chỉ đạo của UBND tỉnh, bảo đảm tiến độ và chất lượng đề ra. Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được duy trì ổn định với 1.378 cơ sở giáo dục; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên cơ bản đáp ứng yêu cầu giảng dạy và quản lý, với hơn 38 nghìn cán bộ, giáo viên và trên 711 nghìn học sinh, học viên các cấp học. Chất lượng giáo dục tiếp tục được giữ vững, tỷ lệ huy động học sinh đến trường đạt mức cao; trong đó, tỷ lệ trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo đạt khoảng 99,71%, góp phần củng cố phổ cập giáo dục trên địa bàn.
Trong kỳ, ngành đã tổ chức thành công Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT năm học 2025–2026, với 114 học sinh đạt giải (gồm 03 giải Nhất, 21 giải Nhì, 34 giải Ba và 56 giải Khuyến khích), thể hiện chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được nâng cao.
Bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức Lễ khởi công xây dựng các Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại xã Ea Rốk và xã Ea Bung.
5. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao
Văn hóa: Công tác tuyên truyền, cổ động trực quan và tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật trong quý I/2026 được triển khai kịp thời, bám sát chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, góp phần phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và các sự kiện lớn, trọng tâm là tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026–2031. Hoạt động văn hóa, nghệ thuật diễn ra sôi nổi, toàn tỉnh đã tổ chức khoảng 21 lễ hội và 5 sự kiện văn hóa, tập trung chủ yếu trong dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026, cùng với các hoạt động dâng hương tại di tích và các sự kiện văn hóa lớn, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống. Đồng thời, đã tham mưu xây dựng, hoàn thiện các chương trình, đề án phát triển văn hóa; tổ chức các hoạt động sáng tác, quảng bá và xây dựng thương hiệu văn hóa địa phương.
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được quan tâm, với việc xây dựng các chương trình, chính sách bảo tồn di sản giai đoạn 2026–2030; triển khai kiểm kê di sản, điều chỉnh định hướng xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh “Tri thức trồng và chế biến cà phê” và phối hợp khảo sát, đánh giá các di tích trên địa bàn.
Các hoạt động văn hóa cơ sở, gia đình và thư viện được duy trì hiệu quả; phong trào xây dựng đời sống văn hóa và “Bộ quy tắc ứng xử Người Đắk Lắk văn minh - thân thiện - mến khách” được triển khai đồng bộ; hoạt động thư viện có nhiều đổi mới, góp phần phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.
Hoạt động nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh tiếp tục được đẩy mạnh, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Trong quý I/2026, đã tổ chức khoảng 80 buổi biểu diễn nghệ thuật; đồng thời thực hiện khoảng 400 suất chiếu phim thương mại và hơn 250 buổi chiếu phim lưu động kết hợp tuyên truyền, phục vụ các sự kiện lớn, thu hút đông đảo người dân tham gia; tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn về điều kiện tổ chức và trang thiết bị phục vụ.
Công tác đối ngoại văn hóa được quan tâm triển khai, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa.
Thể thao: Công tác thể dục, thể thao tiếp tục được triển khai đồng bộ. Đã tham mưu ban hành Kế hoạch phát triển thể dục, thể thao giai đoạn 2026–2030, kế hoạch năm 2026 và các nội dung thực hiện Kết luận số 70-KL/TW; đồng thời hướng dẫn triển khai Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” và chuẩn bị Đại hội Thể dục thể thao các cấp. Hoạt động thể thao diễn ra sôi nổi với nhiều sự kiện quy mô lớn, nổi bật như Giải chạy “New Year Run 2026”, Lễ hội đua ngựa truyền thống Gò Thì Thùng Xuân Bính Ngọ 2026, Giải Pickleball ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch mở rộng; đồng thời tổ chức tập huấn, thi đấu giao lưu và hỗ trợ chuyên môn cho các hoạt động thể thao cơ sở. Về thể thao thành tích cao, toàn tỉnh có 493 vận động viên thuộc 18 môn được đào tạo, huấn luyện; có 115 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia, gồm 39 kiện tướng và 76 vận động viên cấp I.
6. Thiệt hai do thiên tai
Trong tháng 3/2026 không ghi nhận thiên tai; tính chung quý I/2026, trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai.
7. Tình hình vi phạm môi trường
Từ ngày 26/02/2026 đến ngày 25/3/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 6 vụ vi phạm môi trường, xử lý 8 vụ, số tiền xử phạt là 105,3 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm đã phát hiện gấp 2 lần (tăng 3 vụ), số vụ đã xử lý gấp 4 lần (tăng 6 vụ), số tiền xử phạt giảm 57,02%.
Tính chung từ ngày 26/12/2025 đến ngày 25/3/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 49 vụ vi phạm môi trường, xử lý 46 vụ, tổng số tiền xử phạt là 1.008,3 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 53,13%, số vụ đã xử lý tăng 64,29%, số tiền xử phạt tăng 38,50%.
8. Tình hình an ninh và trật tự an toàn giao thông
Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2026 cơ bản ổn định; các lực lượng chức năng tăng cường quản lý địa bàn, kịp thời phát hiện, xử lý các vụ việc phát sinh, không để hình thành “điểm nóng”. Các kế hoạch, phương án bảo vệ, bảo đảm an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, các dịp lễ, Tết và các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng được triển khai hiệu quả. Đặc biệt, đã bảo đảm tuyệt đối an toàn chuyến thăm, chúc Tết của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng và tham dự Lễ khởi công xây dựng trường học liên cấp tại xã Ea Rốk.
Tình hình cháy, nổ: Tình hình cháy, nổ vẫn còn diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do ý thức chấp hành các quy định về phòng cháy, chữa cháy của một bộ phận người dân và cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa cao; nguy cơ cháy, nổ vẫn tiềm ẩn tại các khu dân cư, cơ sở sản xuất và trong sinh hoạt hàng ngày. Từ ngày 15/02/2026 đến ngày 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, nổ, không có người chết và không có người bị thương, thiệt hại tài sản ước tính khoảng 94 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ tăng 50,00%, giá trị tài sản thiệt hại giảm 24,80%. Tính chung từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy, nổ, làm 04 người chết và 01 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 2.202 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ gấp 2 lần và giá trị tài sản thiệt hại gấp 3,47 lần.
Tình hình tai nạn giao thông: Tai nạn giao thông có xu hướng giảm ở cả ba tiêu chí (số vụ, số người chết và bị thương), cho thấy hiệu quả của các giải pháp tăng cường tuần tra, kiểm soát và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông. Từ ngày 15/02/2026 đến ngày 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 32 vụ tai nạn giao thông, làm chết 23 người, bị thương 18 người; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 13,51%, số người chết giảm 23,33% và số người bị thương giảm 10,00%. Tính chung từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 113 vụ tai nạn giao thông, làm chết 87 người, bị thương 61 người; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 23,65%, số người chết giảm 17,92% và số người bị thương giảm 38,38%.
Tóm lại, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới biến động khó lường đã tác động mọi mặt của nền kinh tế. Song với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt của Chính phủ và nỗ lực của Chính quyền, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I/2026 của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá 7,47%. Các chỉ tiêu thống kê cho thấy kinh tế vĩ mô của tỉnh tiếp tục ổn định, sản xuất công nghiệp, dịch vụ trên đà tăng trưởng tích cực, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì tăng trưởng và là “trụ đỡ” của nền kinh tế, xuất khẩu hàng hóa tiếp tục đạt mức tăng cao; ngành du lịch tăng trưởng tích cực. Công tác an sinh xã hội được quan tâm kịp thời; công tác hỗ trợ dịch bệnh, thiên tai tại các địa phương bị ảnh hưởng được thực hiện nhanh, hiệu quả.
Bước sang quý II/2026, dự báo dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Xung đột tại Trung Đông ngày càng căng thẳng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến môi trường an ninh và kinh tế toàn cầu. Các chuỗi cung ứng, thị trường năng lượng và tài chính quốc tế đối mặt nhiều rủi ro, làm cho triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới có xu hướng chậm lại và tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn.
Trong nước, dự báo khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi. Thiên tai, biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan, bất thường diễn biến phức tạp, gây tác động lớn đến sản xuất và đời sống, đặt ra nhiều thách thức và áp lực đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với tỉnh Đắk Lắk, việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10,02% trở lên (năm 2026) dự báo sẽ rất nhiều khó khăn, thách thức; đòi hỏi các cấp, ngành và địa phương cần phải tiếp tục nỗ lực cao hơn nữa, triển khai công việc với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, linh hoạt và sáng tạo hơn; bám sát các mục tiêu, chỉ tiêu và kịch bản tăng trưởng đã đề ra, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 – 2030 của tỉnh. Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng đề ra, một số giải pháp chủ yếu như sau:
Một là, Tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các Chương trình, Đề án, Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, của Tỉnh. Rà soát, đánh giá và dự báo tình hình thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026; trên cơ sở đó điều chỉnh kịch bản các quý còn lại năm 2026 phù hợp với tình hình thực tế.
Hai là, Theo dõi chặt chẽ tình hình thu, chi ngân sách nhà nước, kịp thời tham mưu UBND tỉnh các giải pháp điều hành ngân sách linh hoạt, hiệu quả nhằm bảo đảm cân đối ngân sách địa phương. Thực hiện các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; khẩn trương tham mưu phân bổ hết nguồn vốn kế hoạch đầu tư công năm 2026
Ba là, Tập trung chăm sóc cây trồng và thu hoạch vụ Đông Xuân, chuẩn bị triển khai sản xuất vụ Hè Thu năm 2026; bố trí thời vụ và cơ cấu giống sản xuất hợp lý. Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng trang trại, hiện đại, bền vững, an toàn dịch bệnh
Bốn là, Tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam đoạn qua địa bàn tỉnh, dự án cao tốc Khánh Hoà - Buôn Ma Thuột (giai đoạn 1) nhằm sớm đưa vào khai thác, vận hành. Đồng thời, chủ động nghiên cứu, cập nhật đầy đủ các chủ trương, định hướng, chỉ đạo mới liên quan đến dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; kịp thời triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của địa phương, bảo đảm đồng bộ, đúng yêu cầu.
Năm là, Đẩy nhanh tiến độ triển khai công tác chuẩn bị, kêu gọi đầu tư 08 dự án năng lượng phía Tây[11], 04 dự án năng lượng phía Đông[12] theo Quy hoạch tỉnh và các công trình phát triển, truyền tải, phân phối điện, nhất là năng lượng tái tạo. Theo dõi sát diễn biến tình hình Trung Đông; kịp thời thông tin, cảnh báo đến doanh nghiệp về các tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu.
Sáu là, Chỉ đạo, thực hiện quyết liệt công tác thu thuế; tăng cường quản lý thu, chống thất thu, trốn thuế, xử lý nợ đọng thuế, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các loại thuế, phí theo quy định, nộp NSNN.
Bảy là, Chú trọng thực hiện các chính sách an sinh xã hội; chính sách giảm nghèo, ưu tiên nguồn lực thực hiện chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần nâng cao mức sống của người dân. Nâng cao chất lượng các tiêu chí và chất lượng thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn./.
[1] Cây lúa: Chuột cắn phá tỷ lệ hại (TLH) 5-30%, diện tích nhiễm (DTN) 53,5 ha (Ia Lốp, Ia Rvê, Tây Hòa, Hòa Mỹ, Đông Hòa, Phú Hoà 2, Bình Kiến..); ốc bươu vàng mật độ 5-8 con/m2, DTN 12,5 ha (Phú Hoà 1, Phú Hoà 2); đạo ôn lá TLH 5-30%, DTN 11 ha (Đồng Xuân, Xuân Phước, Tuy An Tây, Đắk Liêng, Ea Wer...); sâu cuốn lá nhỏ TLH 5-10%, DTN 07 ha (Ea Kar, Cư Yang, Tân tiến, M’Đrắk...); sâu đục thân TLH 3-7%, DTN 06 ha (Tân Tiến, Ea Knuếc, Ea Súp, Ea Rốc).
Cây sắn: Khảm lá virus TLH 5-100%, DTN 3.954,5 ha (Sông Hinh, Ea Bá, Ea Ly, Ea Súp, Ia Rvê, Ia Lốp, Ea Rốc, Tây Sơn, Vân Hòa, Sơn Hòa, Suối Trai, Ea Kar, Ea Knốp, Xuân Lãnh,...).
Cây ngô: Sâu keo mùa thu TLH 2-8 con/m2, DTN 08 ha (Krông Búk, Phú Hoà 1, Phú Hoà 2).
Cây mía: Bệnh đốm vàng TLH 10-80%, DTN 922,6 ha (Ea Bá, Ea Ly, Đức Bình, Sông Hinh, Tây Sơn, Vân Hòa, Sơn Hòa, Suối Trai); sâu đục thân TLH 3-12%, DTN 95,6 ha (Tây Sơn, Vân Hòa, Sơn Hòa, Suối Trai, Ea Knốp).
[2] Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Luỹ kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh dịch bệnh phát sinh làm chết và tiêu huỷ 824 con lợn, khối lượng tiêu hủy 43.510 kg, tại 22 xã, phường, 38 thôn, buôn.
Bệnh Dại: Trong quý I/2026 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, phát hiện và ghi nhận ghi nhận 03 ca bệnh Dại động vật. Tổng số con chết và tiêu huỷ do mắc bệnh Dại, nghi mắc bệnh Dại là 5 con. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk, từ đầu năm đến nay ghi nhận có 01 trường hợp nghi tử vong do bệnh Dại trên người tại xã Buôn Đôn.
[3] Trong đó đàn gà 17.497 nghìn con, tăng 2,17% so với cùng kỳ năm trước.
[4] Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp II chủ yếu có chỉ số tăng khá: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 27,48%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 20,91%, sản xuất đồ uống tăng 19,26%.
[5] Tại Quyết định số 562/QĐ-UBND ngày 12/02/2026 của UBND tỉnh.
[6] Trong đó: Ngân sách trung ương đã giải ngân 82,356 tỷ đồng, đạt 3,83% kế hoạch; ngân sách địa phương đã giải ngân 384,492 tỷ đồng, đạt 5,31% kế hoạch
[7] Gồm: Dự án Khu dân cư nông thôn kết hợp du lịch sinh thái xã Ea Kpam và xã Cư M’gar, huyện Cư M’gar; Dự án Khu dân cư trung tâm phường Tân Hoà (này là phường Tân Lập); Dự án Nhà ở xã hội tại khu phố Phước Hậu, phường Bình Kiến.
[8] Quý I năm 2025 phát sinh khoản thu đột biến từ đấu giá quyền sử dụng đất tại số 02 đường Mai Hắc Đế, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, với số thu ngân sách hơn 568 tỷ đồng
[9] Khu vực thành thị tăng 1,01%; khu vực nông thôn tăng 1,78%
[10] Quà thực hiện theo Nghị quyết số 418/NQ-CP ngày 28/12/2025 của Chính phủ: 24.971 người; với tổng kinh phí: 9.988.400.000 đồng. Quà của Chủ tịch nước: Tổng số đối tượng được tặng quà: 29.576 người; với tổng kinh phí thực hiện: 8.940.300.000 đồng. Quà của tỉnh: 60 đơn vị; 30 người có công tiểu biểu và 34.277 người có công, với tổng kinh phí thực hiện: 21.119.400.000 đồng. Quà của xã từ nguồn Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, nguồn vận động địa phương và xã hội hóa: Tổng số đối tượng được tặng quà: 11.121 người; với tổng kinh phí: 3.378.300.000 đồng.
[11] Gồm: (1) Nhà máy điện gió Easin 1 công suất 100MW; (2) Nhà máy điện gió Krông Búk 3 công suất 100MW; (3) Nhà máy điện gió Thuận Phong Đắk Lắk công suất 100MW; (4) Nhà máy điện gió Tân Lập – Ea Hồ công suất 50MW; (5) Nhà máy điện gió Cư Pơng 1,2 công suất 80MW; (6) Nhà máy điện gió Krông Năng 1.1 và 1.2 (mỗi dự án công suất 40MW); (7) Nhà máy điện gió NT 1 (45MW); NT 2 (30MW); (8) Nhà máy điện gió Ea Sin công suất 77MW).
[12] Gồm: (1) Nhà máy điện gió Xanh Nam Việt, công suất 49MW; (2) Nhà máy điện gió LRSH Sơn Hòa giai đoạn 1, công suất 82MW; (3) Nhà máy điện sinh khối Phú Yên, công suất 30MW; (4) Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt và phát điện Trung An, công suất 15MW.
Tin khác