Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026
Tháng 8/2026 ghi dấu nhiều hoạt động, sự kiện nổi bật, phản ánh những chuyển động tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội và đời sống Nhân dân. Nổi bật là Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 với chủ đề “Sầu riêng Đắk Lắk - Kết nối vươn xa”, tiếp tục khẳng định giá trị, thương hiệu của một trong những ngành hàng nông sản chủ lực của tỉnh. Sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định; công nghiệp phục hồi mạnh với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng. Thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục tăng trưởng. Thu, chi ngân sách được điều hành chặt chẽ; tổng thu ngân sách nhà nước tăng so với cùng kỳ. Môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục cải thiện; số doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ; công tác hỗ trợ doanh nghiệp, giải ngân đầu tư công, phát triển hạ tầng, giải phóng mặt bằng và tháo gỡ khó khăn cho các dự án trọng điểm được chỉ đạo quyết liệt. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp còn tiềm ẩn rủi ro do thời tiết, dịch bệnh, biến động thị trường; dịch tả lợn châu Phi còn phát sinh; công tác quản lý, bảo vệ rừng và chống khai thác IUU còn nhiều khó khăn, vẫn xảy ra vi phạm. Thu ngân sách chưa bền vững, một số khoản thu, nhất là thu tiền sử dụng đất, đạt thấp so với yêu cầu. Hoạt động doanh nghiệp còn khó khăn; số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ở mức cao; số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh. Giải ngân vốn đầu tư công còn vướng về thủ tục đầu tư, đất đai, quy hoạch, giải phóng mặt bằng, tái định cư, vật liệu xây dựng và năng lực thi công; một số dự án trọng điểm còn chậm tiến độ; Ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có chuyển biến nhưng chưa trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng. Đời sống một bộ phận Nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn; nhu cầu đầu tư hạ tầng thiết yếu, sinh kế, giáo dục, y tế và nước sạch còn lớn. Tình trạng cháy nổ, thiên tai vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh.
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong tháng 8/2026 cơ bản duy trì ổn định, sản xuất trồng trọt tập trung chăm sóc và thu hoạch lúa, hoa màu vụ Hè thu và vụ Mùa, đồng thời tiếp tục chăm sóc các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả; đối với cây lâu năm, cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, điều tiếp tục là những cây trồng chủ lực, có vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Cây cà phê bước vào giai đoạn chăm sóc, nuôi quả và chuẩn bị cho thu hoạch niên vụ 2026-2027; các vùng sầu riêng tập trung chăm sóc, thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm; chăn nuôi cơ bản ổn định, trong đó: chăn nuôi lợn duy trì ổn định; chăn nuôi trâu, bò có xu hướng giảm; hoạt động khai thác biển tiếp tục được duy trì; nuôi trồng thủy sản tập trung chăm sóc, thu hoạch và thả nuôi theo lịch thời vụ, đồng thời chú trọng kiểm soát môi trường và dịch bệnh.
1.1 Sản xuất cây hàng năm
Các xã, phường trên địa bàn toàn tỉnh đã thu hoạch xong các loại cây trồng vụ Đông Xuân năm 2025-2026. Hiện nay, các địa phương đang tăng cường hướng dẫn bà con nông dân đẩy nhanh tiến độ xuống giống vụ Hè thu và vụ Mùa nhằm đảm bảo kế hoạch.
Tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2026, toàn tỉnh gieo cấy được 176.174 ha lúa, tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lúa Đông xuân đạt 76.979 ha, tăng 1,32%; lúa Hè thu ước đạt 25.259 ha, tăng 2,19%; lúa Mùa ước đạt 73.936 ha, tăng 1,63% so với cùng kỳ năm trước.
Cây hàng năm khác: Ngô ước đạt 58.450 ha, tăng 0,54%; khoai lang 4.950 ha, tăng 6,28%; lạc 3.180 ha, tăng 1,60%; rau các loại 17.110 ha, giảm 1,43%; đậu các loại 16.000 ha, giảm 0,14% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng diễn biến ở mức độ nhẹ, ít ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các loại cây trồng[1]. Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường.
1.2. Cây lâu năm
Hiện nay các địa phương đang tập trung chăm sóc vườn cây như: Tỉa cảnh, tạo tán, bón phân và phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Công tác trồng mới cây lâu năm cũng được các địa phương trong tỉnh đang chuẩn bị cây giống, đào hố, phân bón để trồng mới năm 2026, theo đánh giá của cơ quan chuyên ngành số diện tích cây lâu năm trồng mới năm nay chủ yếu là tái canh các vườn cây lâu năm đã già cỗi như cà phê, tiêu, điều, … ít mở rộng diện tích so với các năm trước. Diện tích một số cây trồng chính như sau: Cà phê 217.700 ha, tăng 0,02%; cao su 33.200 ha, tăng 0,15%; tiêu 28.643 ha, giảm 0,56%; điều 26.250 ha, giảm 0,60%; sầu riêng 42.000 ha, tăng 0,43% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình sâu bệnh trên cây công nghiệp lâu năm: Thời điểm hiện nay là mùa mưa (phía Tây tỉnh), độ ẩm cao rất thích hợp cho các loại sâu bệnh, nấm, sinh vật gây hại trên cây công nghiệp lâu năm, các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân phòng trừ dịch bệnh, cụ thể dịch bệnh đã xảy ra trên từng loại cây trồng[2].
1.3. Công tác chăn nuôi, thú y
Tình hình chăn nuôi trong tháng 8/2026 như sau: Ước số lượng đàn trâu có 28.686 con, giảm 2,60% so với cùng kỳ (do cơ giới hóa nông nghiệp thay thế sức kéo); đàn bò hiện có 389.097 con, giảm 3,13% (trong đó, đàn bò sữa có 5.009 con, tăng 6,69% nhờ các doanh nghiệp Công ty bò sữa Sơn Hòa chủ động tăng quy mô tổng đàn); đàn lợn thịt (không tính lợn con chưa tách mẹ) hiện có 1.035.663 con, tăng 0,18%; đàn gia cầm hiện có 23.717 nghìn con, giảm 4,85% (trong đó, đàn gà 19.995 nghìn con, giảm 3,76%) so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh đến nay vẫn ổn định, dịch bệnh chỉ xảy ra rải rác ở một vài nơi, diễn biến bệnh vẫn đang được kiểm soát[3]. Tuy vậy, các ngành, các cấp có liên quan vẫn tích cực chỉ đạo chính quyền địa phương và nhân dân thực hiện tốt công tác giám sát trong thời điểm giao mùa, nhằm phát hiện, điều trị và xử lý kịp thời, tránh để dịch bệnh lây lan, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân, tăng cường công tác phòng chống dịch ở các chốt kiểm dịch đầu mối ra vào tỉnh và công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn tỉnh.
Công tác kiểm dịch: Trong tháng 8/2026, Chi cục thú y các cấp đã kiểm dịch xuất tỉnh được 975.932 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Trâu thịt 211 con, bò thịt 151 con; lợn thịt 68.107 con; gà thịt 86.300 con; vịt thịt 73.228 con; lợn nuôi 17.815 con; gà nuôi 730.120 con. Tính chung 8 tháng năm 2026 kiểm dịch xuất tỉnh được hơn 8,6 triệu con gia súc, gia cầm.
Kiểm dịch nhập tỉnh tháng 8/2026 được 1.292.279 con gia súc, gia cầm. Trong đó: Trâu thịt 24 con; Bò thịt 235 con; Lợn thịt 4.402 con; Gà thịt 12.100 con; Vịt thịt 1.500 con; lợn nuôi 37.107 con; gà nuôi 878.619 con; vịt nuôi 358.292 con. Tính chung 8 tháng năm 2026 kiểm dịch nhập tỉnh được hơn 13,3 triệu con gia súc, gia cầm.
1.4. Lâm nghiệp
Công tác quản lý, bảo vệ, PCCC rừng tiếp tục được các ngành chức năng, các địa phương và các chủ rừng chú trọng thực hiện. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép vẫn còn xảy ra.
Khai thác lâm sản: Trong tháng 8/2026, sản lượng gỗ toàn tỉnh khai thác ước đạt 120.100 m³, tăng 6,76% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là gỗ nguyên liệu giấy. Luỹ kế sản lượng gỗ khai thác 8 tháng năm 2026 ước đạt 601.187 m3, tăng 5,29%.

Phát triển rừng: Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng 8/2026 đạt 1.265 ha, tăng 5,42% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 trồng đạt 4.285 ha, tăng 4,97% so với cùng kỳ. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng 8/2026 ước đạt 0,26 nghìn cây, tăng 4,0% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng đạt 2,04 nghìn cây, tăng 6,81%. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tăng so với cùng kỳ nhờ mùa mưa năm nay đến sớm.
Quản lý bảo vệ rừng: Trong những tháng đầu năm 2026, UBND tỉnh đã chỉ đạo cho các ngành chức năng phải thường xuyên tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các chủ rừng, đơn vị triển khai công tác PCCCR và tổ chức triển khai công tác phòng chống chặt phá rừng tại các địa phương, đơn vị; đảm bảo công tác trực 24/24 giờ, cảnh báo và xử lý kịp thời tình huống xảy ra phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép...
Trong tháng 8/2026, trên địa bàn tỉnh lực lượng Kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chủ rừng và các ngành chức năng phát hiện và lập biên bản để xử lý các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp gồm 45 vụ (trong đó: 26 vụ với diện tích rừng bị phá là 5,32 ha; khai thác rừng trái pháp luật 01 vụ; vi phạm chung các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng 03 vụ; vận chuyển lâm sản trái pháp luật 02 vụ; tàng trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến lâm sản trái pháp luật 11 vụ; các vi phạm khác 02 vụ). Tang vật, phương tiện, lâm sản, động vật rừng tịch thu gồm: 25,851 m3 gỗ các loại; 39,565 ster củi các loại; 40 cá thể động vật rừng; 180 kg lâm sản khác; 06 chiếc phương tiện, công cụ, dụng cụ. Đã xử lý hình sự 04 vụ và xử phạt vi phạm hành chính 33 vụ; số tiền thu sau xử lý đã nộp ngân sách nhà nước là 207,9 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng số vụ vi phạm là 547 vụ; lâm sản tịch thu gồm: 237,157 m3 gỗ các loại; 461,268 ster củi các loại; 12.320 cây và 12.930 kg lâm sản khác; phương tiện, công cụ, dụng cụ tịch thu: 153 chiếc các loại; tổng các khoản thu nộp ngân sách: 1.946,937 triệu đồng trong đó tổng số tiền đã nộp ngân sách là 1.586,775 triệu đồng.
1.5. Thủy sản
Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh trong 8 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Diện tích nuôi được duy trì ổn định, thời tiết nhìn chung thuận lợi, công tác theo dõi và kiểm soát dịch bệnh được thực hiện thường xuyên. Bên cạnh đó, người nuôi chú trọng áp dụng quy trình kỹ thuật, nâng cao hiệu quả chăm sóc và quản lý ao nuôi, góp phần cải thiện năng suất và sản lượng nuôi trồng.

Sản lượng thủy sản toàn tỉnh tháng 8/2026 ước đạt 10.705,8 tấn, tăng 4,60% so với cùng kỳ năm trước. Luỹ kế sản lượng thuỷ sản 8 tháng năm 2026 là 90.581,8 tấn, tăng 5,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:
+ Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng 8/2026 ước đạt 6.213 tấn, tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 5.880 tấn, tăng 4,93% (trong đó: Cá ngừ đại dương 357 tấn, tăng 4,28%, chiếm khoảng 6,07% trong tổng sản lượng cá các loại khai thác biển); tôm 68 tấn, tăng 4,04%; thủy sản khác 265 tấn, tăng 4,21%. Luỹ kế sản lượng thuỷ sản khai thác biển 8 tháng năm 2026 ước đạt 61.985,6 tấn, tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá 54.800,3 tấn, tăng 3,49% (trong đó: Cá ngừ đại dương 4.083,39 tấn, tăng 11,50%); tôm 521,5 tấn, tăng 10,68%; thủy sản khác 6.663,8 tấn, tăng 25,24%.
+ Sản lượng thủy sản khai thác nội địa tháng 8/2026 ước đạt 187,3 tấn, tăng 5,22% so với cùng kỳ năm trước. Luỹ kế sản lượng thuỷ sản khai thác nội địa 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.071,6 tấn, tăng 5,12% so với cùng kỳ năm trước.
+ Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 8/2026 ước đạt 4.305,5 tấn, tăng 4,17% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 2.533 tấn, tăng 3,56%; tôm 1.690,5 tấn, tăng 5,13%; thủy sản khác 82 tấn, tăng 3,80%. Luỹ kế sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 8 tháng năm 2026 ước đạt 26.524,6 tấn, tăng 5,84% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Cá các loại 14.406,8 tấn, tăng 5,58%; tôm 10.748,6 tấn, tăng 4,19%; thủy sản khác 1.369,2 tấn, tăng 24,52%.
1.6. Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM)
Các ngành, địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), bảo đảm tiến độ và chất lượng theo kế hoạch đề ra. Đến nay, toàn tỉnh có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 29,55% (qua rà soát sơ bộ tại 88 xã, toàn tỉnh đạt 214/880 tiêu chí, bình quân 2,61 tiêu chí/xã [4]) và 770 sản phẩm OCOP của 320 chủ thể [5] (trong đó, có 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 60 sản phẩm đạt 4 sao, 603 sản phẩm đạt 3 sao, 104 sản phẩm hết hạn).
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8 và 8 tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá. Tính chung 8 tháng năm 2026, các ngành công nghiệp cấp I đều tăng so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,41%, tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu của toàn ngành.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 8/2026 ước tính tăng 21,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 44,52%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,51%[6]; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 22,70%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,92% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 8 tháng năm 2026 ước tính tăng 14,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 17,52%; sản phẩm đá xây dựng khác đạt 1.600,5 nghìn m³, tăng 16,63% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,41%; nhiều ngành công nghiệp chủ lực duy trì mức tăng khá như: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 37,26% (thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên đạt 1.193,1 triệu viên, tăng 37,26%); sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 20,19% (cá ngừ đóng hộp đạt 5.442,8 tấn, tăng 27,82%; cà phê bột các loại đạt 45.122,2 tấn, tăng 24,26%; hạt điều khô đạt 64.482,7 tấn, tăng 8,05%); sản xuất đồ uống tăng 17,78% (bia đóng chai đạt 54.194,7 nghìn lít, tăng 6,11%); chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 15,99% (vỏ bào, dăm gỗ đạt 127.768,5 tấn, tăng 8,49%); sản xuất trang phục tăng 10,46% (bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc đạt 15.122,8 nghìn cái, tăng 29,05%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 6,23% (gạch xây dựng bằng đất sét nung đạt 158.775,4 nghìn viên, tăng 3,37%). Ở chiều ngược lại, ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3,55%, góp phần hạn chế mức tăng chung của toàn ngành. Chỉ số ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,22% (điện sản xuất đạt 6.904,0 triệu kWh, tăng 16,74%; điện thương phẩm đạt 2.794,2 triệu kWh, tăng 6,13%). Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,51% (nước uống được đạt 44.244,6 nghìn m³, tăng 11,05%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế đạt 108.452,5 triệu đồng, tăng 6,76%).

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 8/2026 tăng 0,46% so với tháng trước và tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 0,49% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo loại hình doanh nghiệp, lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9,97%, tiếp tục là khu vực có mức tăng cao nhất; khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,37% và khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 4,77%. Xét theo ngành công nghiệp cấp I, lao động tăng ở ngành khai khoáng (tăng 16,97%), ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (tăng 5,74%) và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (tăng 1,63%); riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,27% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp cơ bản ổn định, song vẫn có sự phân hóa giữa các ngành và loại hình doanh nghiệp.
Nhìn chung, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng 8 tiếp tục tăng trưởng tích cực, cả bốn ngành công nghiệp cấp I đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung. Các nhà máy điện gió Cư Né 1, Cư Né 2, Krông Búk 1 và Krông Búk 2 đi vào hoạt động đã bổ sung năng lực sản xuất, tạo thêm động lực cho ngành công nghiệp điện và đóng góp vào tăng trưởng chung của toàn ngành. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn về vốn, nguyên liệu, lao động, chi phí vận chuyển và hạ tầng phục vụ sản xuất; một số cơ sở chưa hoạt động hết công suất. Thời gian tới, cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, tìm kiếm thị trường, ổn định nguồn nguyên liệu và lao động; đồng thời từng bước hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm công nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất.
3. Tình hình phát triển doanh nghiệp
Trong tháng, tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xúc tiến đầu tư, mở rộng thị trường và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Chương trình “Cà phê doanh nhân” được duy trì định kỳ 2 tuần/lần, tạo kênh đối thoại trực tiếp giữa chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó thể hiện tinh thần đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp ổn định và phát triển sản xuất, kinh doanh.
Trong tháng 8/2026, ước có 340 doanh nghiệp thành lập mới (giảm 8,60% so với cùng kỳ năm trước), với số vốn đăng ký khoảng 3.000 tỷ đồng (tăng 35,87%); có 50 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 38,89%). Bên cạnh đó, có 600 doanh nghiệp giải thể (gấp 8 lần cùng kỳ) và 80 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bằng cùng kỳ năm trước).
Tính chung 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.500 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 17,98% so với cùng kỳ năm trước), với tổng vốn đăng ký khoảng 21.500 tỷ đồng (giảm 18,12%); có 510 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 23,49%). Trong khi đó, có 1.200 doanh nghiệp giải thể (gấp 2,77 lần cùng kỳ) và 1.218 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 5,82% so với cùng kỳ năm trước).

Qua kết quả trên cho thấy, số doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại thị trường trong 8 tháng năm 2026 tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới giảm, trong khi số doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng kinh doanh đều tăng, cho thấy hoạt động của một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn. Vì vậy, cần tiếp tục tập trung tháo gỡ các vướng mắc về vốn, thị trường, đất đai và thủ tục đầu tư, góp phần nâng cao năng lực hoạt động và sức chống chịu của doanh nghiệp.
4. Đầu tư
Tỉnh tiếp tục chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư công; tập trung thực hiện các dự án chuyển tiếp và dự án mới khởi công trong năm 2026, nhất là các trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới. Đồng thời, tỉnh triển khai “Chiến dịch 45 ngày đêm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng các dự án”, tập trung tháo gỡ khó khăn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tháng 8/2026 ước đạt 1.348,1 tỷ đồng, tăng 24,01% so với tháng trước và tăng 22,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.318,4 tỷ đồng, tăng 24,50% so với tháng trước và tăng 22,75% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 29,7 tỷ đồng, tăng 5,73% so với tháng trước và tăng 13,16% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 8 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn ước đạt 7.431,6 tỷ đồng, bằng 49,04% kế hoạch năm và giảm 2,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 7.275,7 tỷ đồng, chiếm 97,90% tổng nguồn vốn và giảm 2,60% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 155,9 tỷ đồng, chiếm 2,10% và tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước.
Các chủ đầu tư, nhà thầu đang tập trung triển khai thi công các dự án, công trình chuyển tiếp từ năm trước, đồng thời đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án mới khởi công trong năm 2026 như: Tuyến đường bộ ven biển (tỉnh Phú Yên cũ), đoạn kết nối huyện Tuy An - Tuy Hòa (giai đoạn 1); Dự án Nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho các tỉnh bị ảnh hưởng bởi hạn hán; Tuyến đường bộ ven biển đoạn phía Bắc cầu An Hải; Trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở xã Buôn Đôn; Trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở xã Ia Rvê; Trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở xã Ia Lốp; Tuyến đường giao thông từ Cảng Bãi Gốc (Khu kinh tế Nam Phú Yên) kết nối Quốc lộ 1 đi Khu kinh tế Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa);…

Tính đến hết ngày 28/8/2026, các đơn vị, chủ đầu tư đã giải ngân 3.854,1 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 38,86% kế hoạch địa phương đã giao chi tiết[7], đạt 38,39% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Về công tác xúc tiến, thu hút đầu tư: Phát huy hiệu quả của Tổ theo dõi, hỗ trợ 25 dự án đã trao chủ trương đầu tư và 79 Bản ghi nhớ, chủ trương nghiên cứu, khảo sát sau Hội nghị Công bố Quy hoạch và Xúc tiến đầu tư tỉnh năm 2026[8]; từng bước cụ thể hóa các cam kết, đề xuất đầu tư sau Hội nghị, một số dự án đã có chuyển biến tích cực trong công tác hỗ trợ nhà đầu tư tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đất đai, xây dựng và giải phóng mặt bằng. Trong tháng, tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 02 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 929,5 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 03 dự án. Lũy kế từ đầu năm đến nay, đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 35 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 30.616,9 tỷ đồng; điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 40 dự án, trong đó có 11 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng mức tăng 1.487,3 tỷ đồng.
Công tác rà soát, xử lý các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài, hiệu quả thấp tiếp tục được chỉ đạo quyết liệt. Qua rà soát, tỉnh đã tổng hợp 396 công trình, dự án có khó khăn, vướng mắc, nguy cơ thất thoát, lãng phí; trong đó 32 dự án thuộc thẩm quyền Trung ương và 364 dự án thuộc thẩm quyền địa phương. Đến nay, toàn tỉnh đã xử lý dứt điểm 232/396 dự án, với tổng vốn đầu tư khoảng 35.169,1 tỷ đồng, tổng diện tích sử dụng đất của các dự án ngoài ngân sách khoảng 1.630 ha; 154 dự án đã được xác định rõ phương án xử lý, đang triển khai theo lộ trình cụ thể; 10 dự án còn lại đang được tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, hướng dẫn hoặc áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù theo quy định.
5. Tài chính, ngân hàng
Tài chính: Tỉnh đã tập trung chỉ đạo, tăng cường công tác quản lý thu ngân sách nhà nước, triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm khai thác tốt các nguồn thu, phấn đấu hoàn thành và vượt dự toán được giao. Công tác điều hành chi ngân sách được thực hiện chủ động, chặt chẽ, tiết kiệm, bảo đảm đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và hoạt động quản lý nhà nước; đồng thời, ưu tiên nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân.
- Thu ngân sách nhà nước: Ước tính 8 tháng năm 2026, tổng thu NSNN đạt 11.394.004 triệu đồng, đạt 66,57% dự toán TW và đạt 62,95% dự toán HĐND tỉnh giao
[9]
, tăng 7,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó
thu nội địa (trừ tiền sử dụng đất và xổ số kiến thiết)
ước đạt 8.406.276 triệu đồng, đạt 75,95% dự toán TW và đạt 73,34% dự toán HĐND tỉnh, tăng 17,10%, trong đó thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 4.116.579 triệu đồng, đạt 85,23% dự toán TW và đạt 85,23% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 45,68%.
Thu xổ số kiến thiết
ước đạt 355.443 triệu đồng, đạt 88,86% dự toán TW giao và đạt 88,86% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 19,98%.
Thu tiền sử dụng đất
đạt 2.474.885 triệu đồng, đạt 45,0% dự toán TW và đạt 40,64% dự toán HĐND, giảm 16,73%. Thu xuất, nhập khẩu đạt 106.221 triệu đồng, đạt 71,77% dự toán TW và đạt 71,77% dự toán HĐND, giảm 16,54% so với cùng kỳ.
- Chi ngân sách nhà nước: Ước tính 8 tháng năm 2026, tổng chi ngân sách nhà nước đạt 27.672.532 triệu đồng, đạt 69,20% dự toán TW giao và đạt 67,05% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 3,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó,
Chi thường xuyên đạt 18.344.509 triệu đồng, đạt 60,97% dự toán TW giao và đạt 60,97% dự toán HĐND giao, tăng 9,66%. Chi đầu tư phát triển ước đạt 9.322.031 triệu đồng, đạt 89,04% dự toán TW giao và đạt 93,41% dự toán HĐND giao, giảm 6,59% so với cùng kỳ năm trước.
Hình 9. Thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh

Ngân hàng: Duy trì tăng trưởng tích cực, tổng nguồn vốn huy động ước đạt 177.400 tỷ đồng, tăng 6,03% so với cuối năm 2025 và tăng 12% so với cùng kỳ; dư nợ cho vay ước đạt 287.300 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cuối năm 2025 và tăng 16,7% so với cùng kỳ. Chất lượng tín dụng được kiểm soát, nợ xấu ước 2.643 tỷ đồng, chiếm 0,92% tổng dư nợ, thấp hơn mức quy định. Dư nợ cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 15.971 tỷ đồng, tăng 10,42% so với cuối năm 2025, tập trung hỗ trợ hộ nghèo, giải quyết việc làm và các chương trình tín dụng chính sách, góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tháng 8 năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động với nhiều sự kiện văn hoá, đặc biệt là Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk lần thứ I năm 2026 với chủ đề “Sầu riêng Đắk Lắk - Kết nối vươn xa đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan và thưởng thức sầu riêng cùng với đó là sự phát triển của các dịch vụ lưu trú, ăn uống đã thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 và 8 tháng năm 2026 tăng cao so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2026 ước đạt 19.316,0 tỷ đồng, tăng 2,59% so với tháng trước và tăng 20,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.915,6 tỷ đồng, tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 19,26% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước như: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 56,05%; Ô tô các loại tăng 52,29%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 29,54%, xăng dầu các loại tăng 45,19%... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.297,3 tỷ đồng, tăng 1,11% so với tháng trước, tăng 27,35% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 25,8 tỷ đồng, tăng 1,81% so với tháng trước và tăng 33,14% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.077,3 tỷ đồng, tăng 1,30% so với tháng trước và tăng 19,73% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 8 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 143.251,6 tỷ đồng, tăng 16,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 118.214,1 tỷ đồng, tăng 16,11%, chiếm 82,52% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Một số mặt hàng bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 140,47%; ô tô các loại tăng 46,59%; xăng dầu các loại tăng 34,48%;... Một số mặt hàng có mức tăng thấp hơn mức tăng chung như: lương thực, thực phẩm chỉ tăng 7,05%; hàng may mặc tăng 2,44%; hàng hoá khác tăng 1,28%;…Các mặt hàng này đã tác động đến tổng mức bán lẻ trong kỳ.
Hình 10. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
8 tháng giai đoạn 2022-2026 so với cùng kỳ năm trước

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 16.527,5 tỷ đồng, tăng 22,0%, chiếm 11,54%. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.046,9 tỷ đồng, tăng 36,39%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 14.480,6 tỷ đồng, tăng 20,21%.
Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 136,8 tỷ đồng, tăng 42,08%, chiếm 0,10%.
Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 8.373,2 tỷ đồng, tăng 18,85%, chiếm 5,85%. Phân theo nhóm, ngành hàng thì dịch vụ tăng trưởng cao nhất là ngành dịch vụ sửa chữa máy tính và đồ dùng cá nhân tăng 28,97%; dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 28,37%; dịch vụ khác tăng 18,82%...Một số ngành có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng chung như: dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí chỉ tăng 13,73%, dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,18% so với cùng kỳ năm trước…
Hoạt động các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: Trong tháng 8/2026, tỉnh Đắk Lắk diễn ra nhiều sự kiện nổi bật như Lễ hội Cánh Diều di sản 2026 với chủ đề “Sắc màu trên miền di sản biển” quy tụ gần 100 cánh diều nghệ thuật sẽ diễn ra trong hai ngày 22 và 23/8 tại hai di tích danh thắng quốc gia nổi tiếng là Gành Đá Đĩa và Bãi Môn – Mũi Đại Lãnh; Liên hoan Piano toàn quốc 2026 với gần 1000 em tham gia; Đêm nhạc “SAY BINH KIEN!” tại Tháp Nghinh Phong vào tối ngày 28/8/2026; đặc biệt, Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk lần thứ I năm 2026 với chủ đề “Sầu riêng Đắk Lắk - Kết nối vươn xa” diễn ra từ ngày 15/8 đến 2/9 tại phường Buôn Ma Thuột, xã Krông Pắc, phường Tuy Hòa và các địa phương trồng sầu riêng trên địa bàn tỉnh. Đây là lần đầu tiên tỉnh Đắk Lắk tổ chức Lễ hội Sầu riêng với quy mô cấp tỉnh, ước khoảng 300.000 lượt du khách trong và ngoài nước tham quan...
Ước tháng 8/2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 665.382 lượt khách, tăng 3,69% so với tháng trước, tăng 21,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách ngủ qua đêm là 483.306 lượt khách, tăng 3,53% và tăng 23,07%; lượt khách trong ngày là 182.076 lượt, tăng 4,14% và tăng 16,78%. Tính chung 8 tháng năm 2026, các đơn vị lưu trú trên địa bàn tỉnh đã phục vụ 4.761.563 lượt khách, tăng 21,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lượt khách ngủ qua đêm là 3.440.531 lượt khách tăng 22,44%; lượt khách trong ngày là 1.321.032 lượt, tăng 19,44%.
Đối với dịch vụ lữ hành: Số lượt khách phục vụ theo tour tháng 8/2026 là 9.363 lượt, tăng 3,41% so với tháng trước và tăng 49,62% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2026 là 42.349 lượt, tăng 86,60% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu là khách đi trong nước.
6.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Hoạt động xuất khẩu của tỉnh vẫn duy trì tăng trưởng, đảm bảo theo kịch bản đã xây dựng. Nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh tiếp tục tăng trưởng cao do tổng cầu tăng và thị trường thế giới dần ổn định sau những biến động về giá nguyên nhiên vật liệu.
Trong tháng 8/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 340 triệu USD, tăng 1,80% so với tháng trước, tăng 5,62% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 2.831 triệu USD, tăng 4,76% so với cùng kỳ năm trước, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1.297 triệu USD, giảm 4,19% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu tháng 8/2026 của tỉnh ước đạt 245 triệu USD, tăng 1,24% so với tháng trước, tăng 0,16% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2026, đạt 2.064 triệu USD, tăng 1,78% so với cùng kỳ. Trong đó: Giá trị cà phê đạt 798,8 triệu USD, tăng 6,79%; hồ tiêu đạt 168,6 triệu USD, giảm 1,4%, điều 193,9 triệu USD, giảm 4,48%; cao su 12,8 triệu USD, tăng 13,27%; hàng rau quả 484 triệu USD, tăng 53,90%, hải sản 122,2 triệu USD, tăng 16,83%; linh kiện điện tử 24,0 triệu USD, tăng 7,14%...
Hình 11. Xuất, nhập khẩu

Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu tháng 8/2026 ước đạt 95 triệu USD, tăng 3,26% so với tháng trước, tăng 22,90% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2026 đạt 767 triệu USD, tăng 13,75% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất.
6.3. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la Mỹ
Trong tháng 08/2026, Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng trở lại do tác động của nhiều yếu tố trong nước và quốc tế. Giá xăng, dầu, khí đốt và vàng thế giới có xu hướng tăng, tạo áp lực lên mặt bằng giá chung. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và nguồn cung lương thực, thực phẩm giảm làm giá hàng hóa thế giới tăng. Giá xuất khẩu một số mặt hàng nông sản, chế biến trong nước phục hồi nhẹ, trong khi chi phí thuế, cảng, kho bãi và logistics duy trì ở mức cao. Những yếu tố trên góp phần làm CPI tháng 08/2026 tăng 0,53% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,96%; so với tháng 12 năm trước tăng 2,07%. Bình quân chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng năm tăng 4,66%.
Trong mức tăng 0,53% của chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2026 so với tháng trước, có 08/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chỉ số giá tăng. Trong đó tăng mạnh nhất là nhóm giao thông, tăng 3,70% (làm cho CPI chung tăng 0,38 điểm %) là do giá xăng, dầu tăng theo giá thế giới, cụ thể giá xăng tăng 9,53%; dầu diesel tăng 22,17%. Tiếp đến là nhóm nhà ở điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,57% (làm cho CPI chung tăng 0,09 điểm %) là do giá gas và các loại chất đốt khác tăng mạnh, cụ thể giá gas tăng 10,02%, dầu hoả tăng 16,47%. Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,31% chủ yếu do dụng cụ cá nhân không dùng điện tăng 0,52%; nhóm dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,81%, cắt tóc, gội đầu tăng 0,87%...Nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,14%, trong đó lương thực tăng 0,79% do giá gạo và một số loại ngũ cốc tăng[10], thực phẩm tăng 0,03% do giá thịt gia cầm, trứng các loại, và một số loại rau củ tăng[11], ăn uống ngoài gia đình tăng 0,03%. Nhóm giáo dục tăng 0,13% chủ yếu ở nhóm dịch vụ giáo dục và văn phòng phẩm chuẩn bị năm học mới tăng[12]. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,1% chủ yếu do nhu cầu du lịch trọn gói tăng 0,41%. Nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07% là do các mặt hàng thiết bị gia dụng tăng[13]. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%[14].
Hình 12. Tốc độ tăng/giảm chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng,
chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2026 so với tháng trước (%)

Ở chiều ngược lai, nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,42% (làm cho CPI chung giảm 0,03 điểm %) chủ yếu giảm ở nhóm quần áo may sẵn, vải các loại[15]. Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,41% chủ yếu ở nhóm mặt hàng rượu bia giảm 0,87%. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,04% do điện thoại di động thông thường giảm 0,79%; ti vi màu giảm 1,16%; thiết bị âm thanh giảm 0,11%. Các mặt hàng này giảm do chi phí sản xuất, lắp ráp, các loại linh kiện, chi phí vận chuyển, nhập khẩu giảm. Các nhóm hàng giảm giá này đã tác động tích cực đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2026
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 4,66%. Có 10/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó: tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 11,04%; tiếp đến là nhóm giao thông tăng 6,35% do giá xăng dầu biến động; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 4,25% do nhu cầu tăng mạnh trong dịp lễ, Tết; nhóm giáo dục tăng 3,46%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 3,93%; nhóm may mặc giày dép và mũ nón tăng 4,03%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,55% (trong đó: thực phẩm tăng 3,44%, ăn uống ngoài gia đình tăng 7,53%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,20%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,77% là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh trong dịp lễ, Tết, chi phí đầu vào tiếp tục tăng, một số dịch vụ điều hành giá của nhà nước tăng, các mặt hàng trang sức như dây chuyền vàng, nhẫn vàng trên thị trường có xu hướng tăng cao; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,63%; nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,59%, trong đó dịch vụ y tế tăng 0,31% là do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng.
Ở một diễn biến khác, toàn tỉnh có 01/11 nhóm hàng giảm giá, đó là nhóm thông tin truyền thông giảm 1,55% đã tác động tích cực đến chỉ số giá bình quân 8 tháng năm 2026.
Hình 13. Chỉ số giá tiêu dùng, giá vàng, giá đô la Mỹ
bình quân 8 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số giá vàng tháng 8 giảm nhẹ 0,96% so với tháng trước, bình quân 8 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 50,47% là do giá vàng tăng theo giá thế giới.
Chỉ số giá Đô la Mỹ giảm 0,34% so với tháng trước, bình quân 8 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 1,50%. Sức mua của những mặt hàng này ở mức bình thường.
6.4. Hoạt động vận tải
Hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng 8 và 8 tháng năm 2026 tiếp tục ổn đinh, an toàn và thông suốt. Doanh thu vận tải và khối lượng luân chuyển, vận chuyển hành khách và hàng hóa tăng so với cùng kỳ do nhu cầu di chuyển, đi lại, sản xuất của người dân tăng, đặc biệt là trong các kỳ nghỉ lễ và Lễ hội sầu riêng 2026.
Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát tháng 8/2026 ước đạt 1.007,9 tỷ đồng, tăng 2,19% so với tháng trước, tăng 24,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách đạt 292,5 tỷ đồng, tăng 0,96% và tăng 39,05%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 571,9 tỷ đồng, tăng 3,43% và tăng 14,52%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 73,3 tỷ đồng, tăng 1,91% và tăng 33,42%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt 70,2 tỷ đồng, giảm 2,14% so tháng trước và tăng 56,65% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 8 tháng năm 2026 doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 7.791,0 tỷ đồng, tăng 16,77% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu của vận tải hành khách đạt 2.235,7 tỷ đồng, tăng 17,56%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 4.598 tỷ đồng, tăng 14,58%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 503,0 tỷ đồng, tăng 21,80%; dịch vụ bưu chính chuyển phát đạt gần 454,3 tỷ đồng, tăng 31,85% so với cùng kỳ năm trước.
Vận chuyển và luân chuyển hành khách trong tháng 8/2026 ước đạt 2.677 nghìn lượt khách và 366 triệu lượt khách.km, so với tháng trước tăng 1,14% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 2,85%; so với cùng kỳ năm trước tăng 30,01% về khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng 30,59%.
Vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 1.663 nghìn tấn và 504 triệu tấn.km, so với tháng trước tăng 1,90% về khối lượng vận chuyển và tăng 4,16% về khối lượng luân chuyển; so với cùng kỳ năm trước tăng 18,73% về khối lượng vận chuyển và tăng 15,55% về khối lượng luân chuyển.
Tính chung 8 tháng năm 2026, vận chuyển và luân chuyển hành khách đạt 20.527 nghìn lượt hành khách và 2.771 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,74% về khối lượng vận chuyển và tăng 16,71% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 12.591 nghìn tấn và 3.852 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,75% về khối lượng vận chuyển và tăng 13,25% về khối lượng luân chuyển.
7. Khoa học công nghệ và chuyển đổi số
Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tiếp tục được triển khai gắn với ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Trong tháng, tỉnh tổ chức nghiệm thu 08 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, kết quả đều đạt; lũy kế từ đầu năm đã nghiệm thu 18/18 nhiệm vụ kết thúc trong năm 2026, đạt 100%. Công tác tuyển chọn nhiệm vụ năm 2026 được tích cực triển khai, đã tiếp nhận 32 hồ sơ đăng ký thực hiện 22 nhiệm vụ và thành lập 22 Hội đồng tổ chức đánh giá hồ sơ theo quy định.
Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ được đẩy mạnh, trong đó đã chuyển giao kết quả ứng dụng viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) phục vụ quản lý, giám sát tại khu vực các xã biên giới. Tỉnh tiếp tục triển khai 14 mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ[16], 12 quy trình công nghệ và 04 mô hình trình diễn phục vụ sản xuất, kinh doanh; tổ chức kết nối cung - cầu công nghệ về chế biến sâu, nâng cao giá trị cà phê, góp phần thúc đẩy ứng dụng công nghệ vào các lĩnh vực có thế mạnh của tỉnh.
Hạ tầng số, Trung tâm dữ liệu, IOC, LGSP và các nền tảng dùng chung của tỉnh được duy trì vận hành ổn định 24/7, bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính; tỷ lệ sao lưu dữ liệu tự động định kỳ đạt 100%. Công tác kết nối, chuẩn hóa và khai thác dữ liệu tiếp tục được đẩy mạnh, trong đó hoàn thiện thu thập dữ liệu bản đồ quy hoạch, bản đồ địa chính của 34 xã, phường phía Đông để cập nhật lên Cổng thông tin và ứng dụng Đắk Lắk số. Trong kỳ, IOC ghi nhận 56.142 hồ sơ dịch vụ công và 534 phản ánh hiện trường, phục vụ theo dõi, phân tích chất lượng cung cấp dịch vụ công và công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh. Hoạt động chuyển đổi số tại cơ sở tiếp tục được đẩy mạnh, phát huy vai trò của Tổ Công nghệ số cộng đồng trong đưa kỹ năng số, dịch vụ số đến gần người dân; tổ chức tập huấn tại 102 điểm cầu cấp xã, đồng thời hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo tiếp cận, sử dụng VNeID, dịch vụ công trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt.
8. Một số vấn đề xã hội
8.1. An sinh xã hội
Công tác an sinh xã hội tiếp tục được triển khai kịp thời. Trong tháng, tỉnh thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội cho 160.620 đối tượng với tổng kinh phí 113.210,4 triệu đồng; trong đó, 129.957 đối tượng nhận trợ cấp qua tài khoản, chiếm 80,91%. Dữ liệu của 160.919 đối tượng bảo trợ xã hội và hưu trí xã hội đã được rà soát, cập nhật, đạt 100%.
Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, người khuyết tật và các nhóm yếu thế tiếp tục được quan tâm; tập trung phòng ngừa tai nạn, đuối nước, lao động trẻ em, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và hoàn thiện cơ sở dữ liệu trẻ em. Công tác phòng, chống mua bán người, phòng, chống mại dâm được triển khai; trong tháng đã kiểm tra liên ngành 04 cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện.
Các chế độ, chính sách đối với người có công và thân nhân người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Trong tháng, tỉnh tiếp nhận 279 hồ sơ đối tượng chính sách, giải quyết 274 hồ sơ đủ điều kiện và chuyển trả 05 hồ sơ để bổ sung theo quy định; quyết định điều dưỡng tại nhà cho 313 người có công với kinh phí 785,7 triệu đồng; phê duyệt trợ cấp thờ cúng liệt sĩ cho 6.013 trường hợp với kinh phí 8.418,2 triệu đồng. Đồng thời, tỉnh tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; quà của Chủ tịch nước được trao cho 27.026 đối tượng với tổng kinh phí 8.168,4 triệu đồng.
Công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ tiếp tục được quan tâm; Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh và Tổ thư ký giúp việc được kiện toàn.
8.2. Lao động việc làm
Công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm tiếp tục được triển khai. Từ ngày 15/7/2026 đến ngày 14/8/2026, có 154 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó có 08 lao động thời vụ; lũy kế từ đầu năm đến ngày 14/8/2026 có 1.964 người. Tỉnh tiếp tục theo dõi tình hình lao động thời vụ tại Hàn Quốc, đồng thời xây dựng các phương án phát triển nguồn nhân lực phục vụ các ngành, lĩnh vực trọng điểm và mục tiêu tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm được đẩy mạnh. Trong tháng, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh tổ chức 14 hoạt động tuyên truyền về việc làm và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tư vấn việc làm, nghề nghiệp và chính sách cho 8.425 lượt người; giới thiệu việc làm cho 1.380 lượt người, 850 lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp tự tạo được việc làm và quay lại thị trường lao động.
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện kịp thời; trong tháng đã thẩm định hồ sơ và ban hành 2.220 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng kinh phí chi trả trên 47 tỷ đồng; trong đó, 246 người tham gia đào tạo và được hỗ trợ kinh phí.
8.3. Hoạt động văn hóa, thể thao
Văn hóa: Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật trong tháng 8/2026 được tổ chức sôi nổi, gắn với tuyên truyền các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị quan trọng và Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026. Tỉnh tổ chức Chương trình nghệ thuật Đêm nhạc DJ “Đắk Lắk - Chào hè”, khai mạc trưng bày chuyên đề “Khát vọng tự do” tại Bảo tàng Đắk Lắk; đồng thời tiếp tục chuẩn bị chuỗi 17 hoạt động của Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026. Trong tháng, hệ thống thư viện phục vụ 36.077 lượt bạn đọc; các đơn vị nghệ thuật tổ chức 08 buổi biểu diễn và 73 buổi chiếu phim lưu động, phục vụ gần 11.000 lượt khán giả.
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được quan tâm. Tỉnh tổ chức các lớp truyền dạy kỹ năng thực hành cồng chiêng tại cộng đồng, phục dựng Lễ cúng cầu mùa của dân tộc Ba Na và triển khai các chương trình trải nghiệm văn hóa truyền thống; đồng thời xây dựng các đề án bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ và lập hồ sơ “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thiên Y A Na” đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Thể thao: Các hoạt động thể dục, thể thao tiếp tục được triển khai. Tỉnh tập trung chuẩn bị và tổ chức các nội dung thuộc Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Đắk Lắk lần thứ I năm 2026; phối hợp tổ chức Vòng chung kết Giải bóng đá Nhi đồng U11 toàn quốc với 24 đội tham gia; bế mạc Giải vô địch Võ cổ truyền với 15 đoàn và 221 vận động viên. Đồng thời, tỉnh chuẩn bị các điều kiện đăng cai Giải vô địch các Câu lạc bộ Karate quốc gia lần thứ XXVI, dự kiến có 70 câu lạc bộ và gần 1.400 người tham dự.
Thể thao thành tích cao tiếp tục đạt kết quả tích cực. Trong tháng, các đội tuyển của tỉnh tham gia 10 giải thể thao, đạt 78 huy chương, gồm 18 huy chương vàng, 18 huy chương bạc và 42 huy chương đồng. Lũy kế từ đầu năm, các đội tuyển của tỉnh tham gia 51 giải và đạt 284 huy chương, gồm 66 huy chương vàng, 82 huy chương bạc và 136 huy chương đồng.
8.4. Giáo dục - Đào tạo
Công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo tiếp tục được tăng cường; ngành Giáo dục tập trung chuẩn bị các điều kiện cho năm học mới 2026-2027. Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu ban hành kế hoạch thời gian năm học, hướng dẫn tuyển sinh vào các trường phổ thông nội trú tại xã biên giới; chỉ đạo các cơ sở giáo dục chuẩn bị đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và triển khai sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Toàn tỉnh đã rà soát nhu cầu sách giáo khoa của 574.993 học sinh, dự kiến hỗ trợ khoảng 34,31%, ưu tiên học sinh thuộc diện chính sách và có hoàn cảnh khó khăn.
Tiến độ xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới tiếp tục được đẩy nhanh. Các dự án tại xã Ia Rvê, Ia Lốp và Buôn Đôn đã hoàn thành 100% khối lượng thi công các hạng mục công trình, đang lắp đặt thiết bị, kiểm tra chất lượng và thực hiện nghiệm thu; dự án tại xã Ea Rốk đạt trên 90% khối lượng, phấn đấu hoàn thành trước ngày 30/8/2026. Ngành Giáo dục đang triển khai tuyển sinh, bố trí đội ngũ và chuẩn bị các điều kiện để đưa 04 trường vào hoạt động từ đầu năm học 2026-2027. Riêng dự án tại xã Ea Bung mới trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư; hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi đã cơ bản hoàn thành, đang chờ được bố trí kế hoạch vốn để làm cơ sở trình thẩm định, phê duyệt dự án theo quy định.
Công tác rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục được triển khai theo định hướng của Trung ương. Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu phương án sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp; dự kiến giảm 642/1.267 đầu mối, tương ứng 50,7%. Đồng thời, ngành tiếp tục xây dựng phương án bố trí cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên; đẩy mạnh bồi dưỡng chuyên môn, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và chuẩn bị các điều kiện triển khai Chương trình giáo dục phổ thông năm học 2026-2027.
8.5. Công tác Y tế
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được quan tâm; các cơ sở y tế trên địa bàn duy trì tốt công tác khám, chữa bệnh. Trong tháng 8/2026, tổng số lượt khám bệnh toàn tỉnh đạt 421.439 lượt; điều trị nội trú 50.804 lượt, điều trị ngoại trú 30.628 lượt và chuyển viện nội trú 2.274 trường hợp.
Ngành Y tế tiếp tục theo dõi, giám sát và xử lý các bệnh truyền nhiễm. Trong tháng, toàn tỉnh có 257 ca bệnh tay chân miệng; 1.339 ca sốt xuất huyết; 8 ca thủy đậu; 31 ca quai bị; 01 ca ho gà; không phát sinh ca mắc bệnh sởi, bệnh dại, bệnh Whitmore, viêm não mô cầu, viêm não Nhật Bản và sốt rét. Tính chung 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 1.813 ca tay chân miệng; 2.647 ca sốt xuất huyết; 239 ca thủy đậu; 263 ca quai bị; 04 ca bệnh sởi; 03 ca bệnh dại, đều tử vong; 03 ca bệnh Whitmore (trong đó 01 trường hợp tử vong); 02 ca viêm não mô cầu (trong đó 01 trường hợp tử vong); 03 ca ho gà; không có ca mắc viêm não Nhật Bản và sốt rét.
Chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục được triển khai; đến nay, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin đạt 43,6%.
Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm tiếp tục được tăng cường. Trong tháng, ngành Y tế đã kết thúc kiểm tra chuyên ngành tại 40 cơ sở, 100% cơ sở đạt yêu cầu; đồng thời thẩm định điều kiện an toàn thực phẩm tại 215 cơ sở, trong đó 134 cơ sở đạt yêu cầu, 80 cơ sở đang hoàn thiện và 01 cơ sở không đạt. Trong tháng đã xác minh 02 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 12 người mắc, không có trường hợp tử vong. Tính chung 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 132 người mắc, không có trường hợp tử vong.
Công tác khám sức khỏe toàn dân tiếp tục được triển khai. Đến thời điểm báo cáo, 102/102 xã, phường đã ban hành kế hoạch thực hiện. Lũy kế toàn tỉnh có 60.370 người được khám sức khỏe theo Quyết định số 1858/QĐ-UBND, đạt 3,79% số đối tượng thuộc kế hoạch.
8.6. Tình hình vi phạm môi trường
Từ ngày 16/7/2026 đến ngày 15/8/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 05 vụ vi phạm môi trường, xử lý 05 vụ, số tiền xử phạt 229,5 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm được phát hiện không thay đổi, số vụ đã xử lý gấp 2,50 lần và số tiền xử phạt gấp 5,74 lần. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm được phát hiện giảm 61,54%, số vụ đã xử lý giảm 16,67% và số tiền xử phạt giảm 46,38%.
Tính chung từ ngày 16/12/2025 đến ngày 15/8/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 80 vụ vi phạm môi trường, xử lý 72 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.588,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm được phát hiện giảm 11,11%, số vụ đã xử lý tăng 16,13% và số tiền xử phạt giảm 56,98%.
8.7. Tình hình thiên tai
Theo số liệu báo cáo của Chi cục Thủy lợi và Phòng chống thiên tai, từ ngày 21/7/2026 đến ngày 20/8/2026, toàn tỉnh xảy ra 02 vụ mưa dông kèm lốc, gây thiệt hại về người và nhà ở của người dân. Cụ thể, tại xã Liên Sơn Lắk, mưa dông kèm lốc làm tốc mái 02 căn nhà; tại phường Tân An, cây xanh ngã đổ trúng người đang tham gia giao thông, làm 01 người tử vong.
Tính chung từ ngày 21/12/2025 đến ngày 20/8/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 12 vụ thiên tai; tổng giá trị thiệt hại do thiên tai ước tính trên 2.859 triệu đồng.
8.8. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội
Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh cơ bản được giữ vững, ổn định. Các lực lượng chức năng chủ động nắm chắc tình hình; quản lý chặt chẽ các đối tượng, địa bàn và vụ việc có dấu hiệu phức tạp; kịp thời phát hiện, xử lý, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ hoặc hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Đồng thời, tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, góp phần bảo đảm an toàn cho Nhân dân và các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 16/7/2026 đến ngày 15/8/2026, toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, không có người chết và bị thương, thiệt hại tài sản ước tính 720 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ giảm 20,00%, giá trị thiệt hại giảm 62,85%; so với cùng kỳ năm trước, số vụ gấp 4 lần và giá trị thiệt hại gấp 9,73 lần. Tính chung từ ngày 16/12/2025 đến ngày 15/8/2026, toàn tỉnh xảy ra 31 vụ cháy, làm 04 người chết và 01 người bị thương, thiệt hại tài sản ước tính 6.803,9 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ gấp 3,10 lần và giá trị thiệt hại gấp 6,81 lần.
Tình hình tai nạn giao thông: Từ ngày 16/7/2026 đến ngày 15/8/2026, toàn tỉnh xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông, làm chết 28 người và bị thương 17 người. So với tháng trước, số vụ tăng 13,79%, số người chết tăng 33,33%, số người bị thương không thay đổi; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 2,94%, số người chết tăng 12,00% và số người bị thương giảm 39,29%. Tính chung từ ngày 16/12/2025 đến ngày 15/8/2026, toàn tỉnh xảy ra 285 vụ tai nạn giao thông, làm chết 225 người và bị thương 138 người; so với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 21,49%, số người chết giảm 16,97% và số người bị thương giảm 39,47%.
9. Đề xuất, kiến nghị trong thời gian tới
Nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 2 con số năm 2026, đề nghị tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm:
(1) Đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công: Rà soát cụ thể từng dự án, xác định nguyên nhân chậm giải ngân và xây dựng tiến độ theo từng tháng; tăng cường kiểm tra, đôn đốc thi công, nghiệm thu, thanh toán; kịp thời điều chuyển vốn từ các dự án không có khả năng giải ngân sang các dự án có tiến độ tốt, ưu tiên các dự án có quy mô lớn và sức lan tỏa cao.
(2) Thúc đẩy các dự án công nghiệp: Theo dõi sát tiến độ các dự án được xác định là động lực tăng trưởng, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và hỗ trợ doanh nghiệp sớm đưa các dự án chế biến, chế tạo đã hoàn thành vào vận hành, phát sinh doanh thu trong năm 2026.
(3) Phát huy động lực ngành điện: Tạo điều kiện để các dự án điện gió, thủy điện vận hành ổn định, phát huy tối đa công suất; thường xuyên cập nhật sản lượng điện và các yếu tố thời tiết, thủy văn để đánh giá chính xác đóng góp của ngành điện vào tăng trưởng.
(4) Phát triển công nghiệp chế biến gắn với nông nghiệp: Hỗ trợ doanh nghiệp nâng công suất chế biến, bảo quản và xuất khẩu nông sản, nhất là sầu riêng; tập trung tháo gỡ khó khăn về mặt bằng, thủ tục đầu tư, điện, nước và logistics.
(5) Phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch: Phát huy hiệu quả các sự kiện văn hóa, du lịch lớn; tăng cường quảng bá, kết nối điểm đến và nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời khai thác lợi thế từ các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của tỉnh.
(6) Tăng cường quản lý và khai thác nguồn thu ngân sách: Chống thất thu, đẩy mạnh thu hồi nợ đọng thuế, rà soát các nguồn thu còn dư địa và theo dõi sát tình hình sản xuất, kinh doanh để kịp thời điều hành, bảo đảm nguồn thu ngân sách phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế.
Trên đây là báo cáo tình hình Kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026 của Thống kê tỉnh Đắk Lắk./.
[1] Trên cây Lúa vụ Hè thu + Mùa: Chuột tỷ lệ hại (TLH) 2-10%, diện tích nhiễm (DTN) 84,6 ha (Ea Phê, Tân Tiến, Ea Kar, Phú Hòa 1...); ốc bươu vàng TLH 3-10 %, DTN 25 ha (Liên Sơn Lắk, Ea Súp, Krông Pắc…); bọ trĩ TLH 7-15%, DTN 10 ha (Ea Súp, Quảng Phú, Đắk Liêng…); bệnh khô vằn TLH 10-20%, DTN 12 ha (Tuy An Bắc, Đồng Xuân, Xuân Phước…).
[2] Cây cà phê: Rệp sáp TLH 15-30%, DTN 172,2 ha (Phú Xuân, Cư Pơng, Pơng Drang, Krông Búk, Ea Kar, Ea Ô, Ea Riêng...); mọt đục cành TLH 4-14%, DTN 30 ha (Dliê Ya, Cư Bao, Ea Khăl, Pơng Drang...); bệnh gỉ sắt TLH 3-15%, DTN 10 ha (Cư Bao, Ea Khăl, Ea Wy, Cư Pơng...); bọ cánh cứng ăn lá TLH 4-18%, DTN 75 ha (Cư Bao, Ea Khăl, Ea Wy, Cư Pơng, Pơng Drang...); bệnh khô cành TLH 5-20%, DTN 39,7 ha (Dliê Ya, Ea Drông, Cư Bao, Ea Khăl, Ea Wy...).
Cây hồ tiêu: Bệnh chết nhanh TLH 2-6%, DTN 12,5 ha (Ea Bá, Ea Ly, Ea Drăng, Ea H’leo, Ea Ô...); bệnh chết chậm TLH 1-12%, DTN 62,5 ha (Tam Giang, Ea Hiao, Krông Búk, Tân Tiến, Ea Phê, Sơn Thành...); rệp sáp TLH 5-16%, DTN 12 ha (Ea H’leo, Ea Wy, Ea Hiao, Krông Búk...); bọ xít lưới TLH 4-16%, DTN 89,4 ha (Krông Pắc, Tam Giang, Phú Xuân).
Cây cao su: Bệnh loét sọc mặt cạo TLH 7-15%, DTN 21 ha (Ea Hiao, Cuôr Đăng, Cư M’Gar, Ea Súp...); bệnh khô miệng cạo TLH 4-15%, DTN 4 ha (Phú Xuân, Cư Bao, Ea Khăl, Ea H’leo, Ea Hiao).
[3] Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh và tiêu huỷ 301 con (khối lượng tiêu huỷ 17.341 kg), tại 20 hộ, 06 thôn/buôn, 06 xã (Ea M'Droh, Cư M’Ta, Đắk Liêng, Ea Ktur, Phú Hòa 1, Phú hòa 2). Hiện nay, có 06 xã chưa qua 21 ngày. Luỹ kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh, dịch bệnh phát sinh tại 140 hộ, 65 thôn/buôn, 30 xã/phường, đã làm chết và tiêu huỷ 8.941 con (khối lượng 470.910 kg).
Bệnh Dại: Trong tháng không phát sinh ca bệnh mới. Lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 10 con chó, 01 con mèo mắc bệnh tại 8 hộ, 11 thôn/buôn và 10 xã/phường.
[4] Trong đó có 02 xã đạt 8 tiêu chí, 01 xã đạt 7 tiêu chí, 07 xã đạt 6 tiêu chí, 08 xã đạt 5 tiêu chí, 08 xã đạt 4 tiêu chí, 10 xã đạt 3 tiêu chí, 22 xã đạt 2 tiêu chí, 13 xã đạt 1 tiêu chí và 17 xã chưa đạt tiêu chí nào.
[5] Trong đó: 59 hợp tác xã; 73 doanh nghiệp; 188 hộ kinh doanh/cơ sở sản xuất.
[6] Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp II chủ yếu có chỉ số tăng khá: Sản xuất đồ uống tăng 49,08%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 34,64%; sản xuất trang phục tăng 32,55%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 22,59%.
[7] Trong đó: Ngân sách trung ương đã giải ngân 557,6 tỷ đồng, đạt 22,05% kế hoạch; ngân sách địa phương đã giải ngân 3.296,5 tỷ đồng, đạt 44,61% kế hoạch.
[8] Tổ theo dõi được thành lập theo Quyết định số 2155/QĐ-UBND ngày 08/7/2026 của UBND tỉnh.
[9] Dự toán địa phương phấn đấu theo NQ54
[10] Gạo tăng 0,84%; gạo tẻ thường tăng 0,88%; gạo tẻ ngon tăng 0,49%; gạo nếp tăng 0,91%; gạo lứt tẻ tăng 0,21%; bột mỳ và ngũ cốc khác tăng 0,43%, bột mỳ tăng 0,47%, ngô tăng 0,64%, sắn tăng 1,11% do không phải mùa vụ và ảnh hưởng chung của giá lương thực thế giới. Giá lương thực chế biến cũng tăng 0,67% do bún, bánh phở, bánh đa tăng 0,20%; mì sợi, mì, phở/cháo ăn liền tăng 1,24%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,11%; ngũ cốc khác tăng 0,86%.
[11] Giá thịt gia cầm tăng 0,42%; giá thịt gà tăng 0,48%; giá thịt gia cầm khác tăng 0,23% do gia cầm vào mùa tái đàn; Giá quả tươi, chế biến tăng 2,61%.
[12] Dịch vụ giáo dục tăng 0,16%, giáo dục mầm non tăng 1,28%, giáo dục không phân theo trình độ tăng 0,32%, giá dịch vụ giáo dục tăng do học phí dạy hè tăng. sản phẩm từ giấy tăng 0,43%, bút viết các loại tăng 0,39%, văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,39%.
[13] Đồ nhựa và cao su tăng 0,55%; hàng thuỷ tinh, sành sứ tăng 0,45%; hàng dệt trong nhà tăng 0,23%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,59%; vật phẩm tiêu dùng khác tăng 0,31%; sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,19%; dịch vụ trong gia đình tăng 0,09% do giá nhân công tăng, thuê người phục vụ tăng 0,02%, thuê đồ dùng trong gia đình tăng 0,56%.
[14] Giá thuốc các loại tăng 0,17%, dụng cụ y tế tăng 0,39% do giá nguyên vật liệu, giá nhập khẩu tăng.
[15] Nhóm may mặc giảm 0,55%, quần áo may sẵn giảm 0,66%; nhóm may mặc khác và mũ nón giảm 0,1%, may mặc khác giảm 0,21%; nhóm giày dép giảm 0,18%; nhóm dịch vụ may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,56%, dịch vụ may mặc giảm 0,56%, dịch vụ giày dép giảm 0,67%
[16] Gồm: 03 mô hình nuôi trùn quế; 07 mô hình sản xuất phân hữu cơ từ phế phụ phẩm nông nghiệp; 01 mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng; 03 mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh PYMIC để xử lý bã thải nấm phục vụ trồng trọt.
Tin khác