02623 852247 | daklak@nso.gov.vn

Tình hình Kinh tế xã hội tháng 10 và 10 tháng tỉnh Đắk Lắk năm 2024

04/11/2024 10:22

Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 10 và 10 tháng năm 2024 nhìn chung ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung vào việc gieo trồng vụ Thu Đông và thu hoạch vụ Hè thu. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng tiếp tục được triển khai đều khắp ở các địa phương. Chỉ số sản xuất công nghiệp duy trì được đà tăng trưởng; Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng so với cùng kỳ năm trước. Các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch thường xuyên được tổ chức. Đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh ổn định, an ninh trật tự xã hội được đảm bảo. Tiến độ gieo trồng vụ Thu đông còn chậm. Thu hút đầu tư, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công vẫn còn đạt thấp so với kế hoạch do chưa khắc phục được những khó khăn trong cơ chế, chính sách; tai nạn giao thông tiếp tục tăng cả 03 tiêu chí đặc biệt số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông. Dịch bệnh bệnh sốt xuất huyết ở người có chiều hướng gia tăng, bệnh dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn xảy ra rải rác ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh.

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng 10/2024 tập trung vào việc gieo trồng Vụ Đông và thu hoạch các cây trồng vụ Hè Thu; chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát; Sản xuất lâm nghiệp tập trung vào công tác trồng rừng; Nguồn nước dồi dào tạo điều kiện tốt cho công tác nuôi trồng thủy sản.

1.1 . Sản xuất nông nghiệp (Vụ Đông xuân + Vụ Mùa) Tính đến ngày 23/10, tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 303.163 ha, giảm 1,45% so với cung kỳ năm trước, trong đó diện tích lúa là 112.137 ha, giảm 2,58% so với cùng kỳ năm trước; ngô là 74.612 ha, giảm 1,68%; khoai lang 5.361 ha, tăng 0,56%; sắn 39.002 ha, giảm 2,87%; mía 14.190 ha, tăng 5,53%; lạc 3.894 ha, giảm 39,22%; đậu tương 969 ha, giảm 34,62%; rau các loại 11.176 ha, tăng 1,92%; đậu các loại 20.476 ha, tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng toàn tỉnh giảm so với cùng kỳ chủ yếu giảm ở diện tích cây lúa, ngô, sắn, lạc và đậu tương..

- Sản xuất vụ Mùa 20241: Tính đến ngày 23/10, tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 233.989 ha, đạt 91,79% KH. Trong đó, lúa mùa 64.672 ha, vượt 7,79% KH, giảm 3,32% so với cùng kỳ năm trước(2); ngô 70.737 ha, đạt 88,65 KH, giảm 2,16% so với cùng kỳ năm trước; khoai lang 3.157 ha, đạt 76,44% KH, giảm 2,98%; sắn 37.453 ha, đạt 91,35% KH, giảm 2,31%; đậu lạc 3.704 ha, đạt 78,80% KH, giảm 40,77%; đậu tương 939, đạt 60,58% KH, giảm 35,64%; mía 13.077 ha, vượt 2,97% KH, tăng 5,96%; đậu các loại 19.009 ha, vượt 14,17% KH, tăng 1,49%; rau các loại 5.559 ha, vượt 0,07% KH, giảm 0,59%... 

Thu hoạch vụ Mùa 2024 (vụ hè thu): Hiện này, trên địa bàn tỉnh đã và đang tập trung thu hoạch các loại cây trồng, trong đó diện tích lúa đã thu hoạch đạt 52.311 ha, đạt 80,89% diện tích gieo trồng; sản lượng cây ngô ước đạt 310.015 tấn, giảm 0,70% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng cây khoai lang đạt 41.042 tấn, tăng 11,20%; sắn đạt 963.733 tấn, giảm 0,25%; mía đạt 947.052, tăng 7,30%; đậu tương đạt 723 tấn, giảm 25,39%; đậu lạc đạt 4.137 tấn, giảm 11,19%; đậu các loại đạt 15.411 tấn, tăng 0,24%; rau các loại đạt 112.050 tấn, tăng 0,91% so với cùng kỳ năm trước.

Hiện nay, các địa phương đang khẩn trương tập trung gieo tỉa hết số diện tich cây màu vụ Thu đông còn lại và thu hoạch tiếp các cây màu vụ Hè thu. Dự báo năng suất các loại cây trồng năm nay ổn định và không có nhiều biến động so với cùng kỳ năm trước. 

Nhìn chung các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, các loại sâu bệnh được người dân quan tâm, theo dõi và chủ động phòng ngừa nhằm không gây ảnh hưởng đến sản lượng và năng suất các loại cây trồng(3). Mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp tăng cường theo dõi dịch bệnh của các loại cây trồng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả, chỉ đạo các địa phương cùng các cơ quan ban ngành tăng cường công tác kiểm tra giám sát mua bán thuốc BVTV, cử cán bộ hướng dẫn cho bà con cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường.

1.2. Cây lâu năm Cây cà phê: Hiện nay, các địa phương đang tập trung nguồn lực và nhân lực chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch cà phê niên vụ 2024. Một số diện tích cà phê chín sớm đã và đang được người thu hoạch nhằm tránh tình trạng rụng quả, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Thời tiết hiện nay nhìn chung nắng đẹp, khô ráo tạo điều kiện để công tác thu hoạch và phơi cà phê đạt hiệu quả cao. 

Cây cao su: Sản lượng mủ cao su khai thác tháng 10/2024 ước đạt 2.872 tấn, giảm 3,69% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 10 tháng năm 2024, sản lượng cao su khai thác là 31.790 tấn, tăng 3,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu sản lượng của 3 công ty cao su. 

Cây tiêu: Các địa phương đã thu hoạch tiêu xong và đang bước vào giai đoạn chăm sóc sau khi cho sản phẩm như làm cỏ, vun gốc, bón phân, công tác phòng trừ bệnh được chú trọng. Ước sản lượng Tiêu thu hoạch năm nay đạt 77.100 tấn, tăng 3,31% so với chính thức năm trước. Sản lượng tiêu tăng do diện tích cho sản phẩm tăng cùng với đó giá thu mua tiêu hạt năm nay được giá nên người trồng tiêu đã có lợi nhuận. Dự báo trong thời gian sắp tới diện tích trồng và diện tích cho sản phẩm cây tiêu sẽ tăng do giá thu mua tiêu hạt năm nay tăng mạnh và duy trì ổnđịnh nên người trồng tiêu có lợi nhuận. Vì thế ngành nông nghiệp tỉnh phải phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc hoạch định phát triển diện tích trồng cây tiêu của người dân, tránh trường hợp diện tích cây tiêu tăng quá nhanh và phá vỡ cơ cấu diện tích cây lâu năm trên địa bàn tỉnh.

Cây lâu năm khác: Diện tích bơ toàn tỉnh là 4.874 ha. Hiện nay, cây bơ đã cơ bản thu hoạch xong. Việc tiêu thụ trái bơ năm nay gặp nhiều khó khăn, giá cả vẫn ở mức trung bình, giá bán trái bơ 034, trái bơ thường, trái bơ sáp Trịnh Mười tại vườn chỉ giao động từ 10.000 -12.000 đồng/kg tuỳ từng chủng loại. Tương tự cây sầu riêng đã thu hoạch xong, trái ngược với cây bơ, giá sầu riêng năm nay nhìn chung vẫn duy trì được giá cao và sản lượng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước đã góp phần rất lớn tạo thu nhập ổn định cho người dân. Dự báo trong những năm tiếp theo sản lượng và diện tích sầu riêng của tỉnh sẽ tăng do yếu tố lợi nhuận.

1.3. Công tác chăn nuôi, thú y Tình hình chăn nuôi trong tháng 10/2024 như sau: Ước số lượng đàn trâu là 29.268 con, tăng 0,17% so với cùng kỳ năm trước. Ước số con xuất chuồng là 879 con, tăng 4,02%; Sản lượng thịt trâu xuất chuồng ước đạt 259 tấn, tăng 1,57%. Tính chung 10 tháng năm 2024 sản lượng thịt trâu xuất chuồng là 2.595 tấn, tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước;

Đàn bò hiện có 250.069 con, tăng 0,02% so với cùng kỳ năm trước là do nguồn thức ăn dồi dào, người dân tranh thủ tái đàn. Ước số con xuất chuồng trong tháng 10/2024 là 6.372 con, tăng 1,51%; Sản lượng thịt bò xuất chuồng là 1.692 tấn, tăng 1,26%. Tính chung 10 tháng năm 2024, sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 17.609 tấn, tăng 3,09% so với cùng kỳ năm trước;  

Đàn lợn hiện có 1.061.249 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,02%. Ước số con xuất chuồng trong tháng 10/2024 là 177.109 con, tăng 4,73% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng là 16.680 tấn, tăng 3,10%. Tính chung 10 tháng năm 2024, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 164.976 tấn, tăng 2,99% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay bà con nông dân đang tập trung vào công tác tái đàn nhằm chuẩn bị nguồn thực phẩm cho những dịp lễ, tết cuối năm.

Đàn gia cầm hiện có 16.997 nghìn con gia cầm, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,61%. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng trong tháng 10/2024 đạt gần 7.300 tấn, tăng 7,36%. Tính chung 10 tháng năm 2024, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng là 46.253 tấn, tăng 3,30%; sản lượng trứng gia cầm đạt 461.492,4 ngàn quả, tăng 12,80% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh đến nay vẫn ổn định, dịch bệnh chỉ xảy ra rải rác ở một vài nơi, diễn biến ở mức độ nhẹ4. Tuy vậy, các ngành, các cấp có liên quan vẫn tích cực chỉ đạo chính quyền địa phương và nhân dân thực hiện tốt công tác giám sát trong thời điểm giao mùa, nhằm phát hiện, điều trị và xử lý kịp thời, tránh để dịch bệnh lây lan, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân, tăng cường công tác phòng chống dịch ở các chốt kiểm dịch đầu mối ra vào tỉnh và công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn. 

Công tác kiểm dịch: Trong tháng 10/2024, Chi cục thú y các cấp đã kiểm dịch xuất tỉnh được 689.722 con gia súc, gia cầm. Trong đó: trâu 25 con, bò 177 con, heo 67.945 con, gà 577.384 con, vịt và ngan 43.900 con...Tính chung 10 tháng năm 2024 xuất tỉnh được 8.824.061 con gia súc, gia cầm. 

Kiểm dịch nhập tỉnh trong tháng 10/2024 là 1.471.437 con gia súc, gia cầm. Trong đó, trâu 46 con, bò 13 con, heo 52.234 con, gà 1.073.404 con, vịt và ngan 345.740 con…Tính chung 10 tháng năm 2024 nhập tỉnh được 13.942.123 con gia súc, gia cầm.  

.......

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp 10 tháng năm 2024 tăng 6,43% so cùng kỳ năm trước, trong đó 4/4 ngành công nghiệp chính đều tăng. Sau nhiều kỳ tăng trưởng âm, ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt đã có sự tăng trưởng trở lại (+0,50) đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10/2024 tỉnh Đắk Lắk tăng 6,60% so với tháng trước và tăng 14,09% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,81% so với tháng trước và tăng 84,48% so cùng kỳ; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,91% so với tháng trước và tăng 20,85% so cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 4,44% so tháng trước và tăng 8,83% so cùng kỳ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,25% so tháng trước, tăng 34,93% so cùng kỳ năm 2023. 

Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Đắk Lắk 10 tháng năm 2024 tăng 6,43% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 15,90% so cùng kỳ, sản phẩm đá xây dựng đạt 1.308,3 ngàn m3, tăng 15,96% là do các công ty khai thác đá hoạt động ổn định, nhu cầu phục vụ xây dựng của các dự án tăng. 

Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,92% so cùng kỳ. Có 11/15 ngành sản phẩm tác động tích cực đến việc tăng chỉ số của ngành công nghiệp chế biến chế tạo như: Sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 369,70%, sản phẩm neo, móc các bộ phận rời bằng sắt hoặc thép tăng 28,26%; tiếp đến là sản xuất trang phục tăng 54,25%, sản phẩm quần áo tăng 306,71% do đơn đặt hàng của công ty Able joy tăng; ngành chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nữa tăng 45,93%, sản phẩm vỏ bào, dăm gỗ tăng 72,07%; ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 26,38%, sản phẩm giày dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 35,16%; sản xuất đồ uống tăng 25,97%, sản phẩm bia đóng chai tăng 21,56%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,33%, sản phẩm cà phê bột tăng 16,71%, đường RS tăng 18,49%; tinh bột sắn tăng 67,36%... Bên cạnh đó, có 03/15 ngành có sự sụt giảm, trong đó giảm mạnh nhất là ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 43,84%, sản phẩm cấu kiện nhà lắp sẵn giảm 61,52%; tiếp đến là ngành sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 31,19%; ngành sản xuất giường tủ, bàn ghế tiếp tục giảm 17,62%, sản phẩm ghế gỗ giảm 15,50%;...đã tác động tiêu cực đến chỉ số sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo 10 tháng năm 2024. Kể từ tháng 7/2024 đến nay, trên địa bàn tỉnh có phát sinh thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác với sản phẩm tóc giả, râu giả, lông mi giả và các loại tương tự...với sản lượng 2.984 kg. 

...