02623 852247 | daklak@nso.gov.vn
Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam- Mở lối cho kỉ nguyên tăng trưởng mới
  •   31/07/2026 19:32

Phóng viên: Thưa ông, trong bối cảnh thế giới đang bước vào kỷ nguyên số và cạnh tranh ngày càng gay gắt dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, những yêu cầu đòi hỏi cấp thiết và mang tính thời đại nào để Việt Nam đổi mới mô hình phát triển?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Trước hết, để làm rõ yêu cầu khách quan của việc đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, tôi muốn khẳng định Nghị quyết số 19-NQ/TW là quyết sách chiến lược nhằm tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 và tạo nền tảng cho tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2130.Nhìn lại kết quả sau 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế có quy mô GDP chỉ khoảng 8 tỷ USD vào năm 1986, đến năm 2025 đã vượt 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 130 USD lên trên 5.000 USD và chính thức gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao.Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và hiệu quả của mô hình phát triển dựa trên mở cửa, hội nhập quốc tế, huy động mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư, thu hút FDI và phát huy lợi thế lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, bối cảnh và yêu cầu phát triển đã thay đổi căn bản. Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số; dư địa mở rộng lao động và khai thác các lợi thế chi phí thấp ngày càng thu hẹp. Để duy trì tăng trưởng 2 con số trong dài hạn, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, nền kinh tế không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực truyền thống mà phải chuyển sang các động lực có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao hơn.Thực tiễn cũng cho thấy mô hình phát triển dựa chủ yếu vào vốn, lao động và lợi thế chi phí thấp đang giảm dần hiệu quả; chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp; năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế. Giai đoạn 2021-2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội vẫn duy trì khoảng 32% GDP, hệ số ICOR ở mức khoảng 6,4; năng suất lao động chỉ tăng bình quân 5,2%/năm, thấp hơn mục tiêu 6,5%/năm. Năng suất lao động của Việt Nam hiện mới bằng khoảng 11,6% của Singapore; 23% của Hàn Quốc; 24,4% của Nhật Bản và khoảng 59% của Thái Lan. Đồng thời, khu vực FDI đóng góp khoảng 20,5% GDP, nhưng chiếm tới 77% kim ngạch xuất khẩu; riêng ngành điện tử, tỷ lệ nội địa hóa mới đạt khoảng 10%, cho thấy năng lực công nghệ nội sinh và giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế.Trong khi đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những thay đổi mang tính thời đại. Sự phát triển đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và cạnh tranh giữa các quốc gia. Đây vừa là cơ hội để các nước bứt phá, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình phát triển nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tự chủ chiến lược và thích ứng với bối cảnh mới.Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan phải đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam. Nghị quyết của Trung ương lần này đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy phát triển đất nước, chuyển từ định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng sang hoàn thiện mô hình phát triển Việt Nam, lấy năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đồng thời, Nghị quyết cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV, tạo lập khung thống nhất về mô hình phát triển đất nước và kết nối các chủ trương, nghị quyết lớn của Đảng đã ban hành trong thời gian qua, tạo nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 và tầm nhìn phát triển đến năm 2130.Phóng viên: Thưa ông, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV và xác lập mô hình phát triển Việt Nam cho giai đoạn phát triển mới. Xin ông cho biết những điểm mới mang tính đột phá và ý nghĩa của mô hình phát triển này?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Theo tôi, điểm mới quan trọng nhất của Nghị quyết không chỉ là xác định các động lực tăng trưởng mới, mà là hình thành một tư duy phát triển toàn diện cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Nghị quyết đã cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV, tạo lập khung thống nhất về mô hình phát triển Việt Nam, đồng thời kết nối các chủ trương, nghị quyết lớn của Đảng thành một chỉnh thể thống nhất nhằm hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2130.Thứ nhất, xác lập mô hình phát triển Việt Nam với nội hàm toàn diện hơn. Nghị quyết xác định mô hình phát triển Việt Nam theo hướng tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người là trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể của phát triển. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, chuyển từ trọng tâm đổi mới mô hình tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế thì mô hình mới hướng tới phát triển đồng bộ các trụ cột kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng trưởng kinh tế vẫn là nhiệm vụ trung tâm nhưng không còn là mục tiêu duy nhất; mục tiêu cao hơn là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có năng lực cạnh tranh cao, phát triển nhanh và bền vững.Thứ hai, chuyển đổi căn bản động lực phát triển. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, lao động và lợi thế chi phí thấp thì mô hình mới lấy năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu. Đây là bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, trong đó nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trở thành mục tiêu xuyên suốt và là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng của mô hình phát triển mới. TFP không chỉ phản ánh tiến bộ công nghệ mà còn phản ánh chất lượng thể chế, hiệu quả quản trị quốc gia và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.Thứ ba, hình thành lực lượng sản xuất mới và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Nghị quyết xác định phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới, hiện đại; đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu của tăng trưởng; coi dữ liệu là tư liệu sản xuất mới và tài nguyên chiến lược; phát triển trí tuệ nhân tạo thành hạ tầng trí tuệ và lực lượng sản xuất chất lượng cao. Đồng thời, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.Thứ tư, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia. Đây là một trong những nội dung đột phá của Nghị quyết. Mô hình phát triển mới được vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, Nhân dân làm chủ, phát huy hài hòa vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội. Đồng thời, chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển, phối hợp liên thông, dựa trên dữ liệu, phản ứng chính sách và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển. Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở dữ liệu và công nghệ số, cùng với việc lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.Có thể khẳng định, mô hình phát triển Việt Nam theo Nghị quyết không chỉ đổi mới các động lực tăng trưởng mà còn đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia nhằm tạo lập năng lực phát triển mới, nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, qua đó hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Phóng viên: Vậy theo ông, đâu là động lực cốt lõi của mô hình phát triển mới?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Một trong những điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc của Nghị quyết là xác định phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới, hiện đại và đưa lực lượng sản xuất mới trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đây không chỉ là sự phát triển mới về tư duy phát triển, mà còn phản ánh bước chuyển căn bản từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động và tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao.Nếu trong nền kinh tế nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu; trong nền kinh tế công nghiệp, vốn và lao động là các yếu tố quyết định tăng trưởng; thì trong nền kinh tế số, dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất mới và tài nguyên chiến lược; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; chuyển đổi số là phương thức phát triển; còn trí tuệ nhân tạo được phát triển thành hạ tầng trí tuệ và lực lượng sản xuất chất lượng cao. Đây chính là sự thay đổi căn bản của các yếu tố tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.Điểm cốt lõi của lực lượng sản xuất mới là làm thay đổi cơ chế tạo ra tăng trưởng kinh tế. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu được tạo ra bằng việc huy động thêm vốn, lao động và tài nguyên thì trong mô hình phát triển mới, tăng trưởng ngày càng được quyết định bởi năng suất lao động, tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khoa học, công nghệ tạo ra tri thức mới; đổi mới sáng tạo chuyển hóa tri thức thành giá trị; chuyển đổi số đổi mới phương thức sản xuất và quản trị; dữ liệu và trí tuệ nhân tạo tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chính sự cộng hưởng của các yếu tố này làm gia tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), tạo động lực căn bản cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.Phóng viên: Mỗi mô hình phát triển đều cần một hệ quy chiếu để đánh giá hiệu quả. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển sang mô hình phát triển mới lấy khoa học, công nghệ là nền tảng phát triển; đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng, theo ông, đâu sẽ là “thước đo” để đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển đổi này?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Đổi mới mô hình phát triển không chỉ nhằm thay đổi cơ cấu ngành hay tăng đầu tư cho khoa học, công nghệ, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng.Xét dưới góc độ kinh tế học, như tôi nói ở trên, thước đo thành công của mô hình phát triển mới chính là sự gia tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). TFP phản ánh phần tăng trưởng được tạo ra bởi tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khác với tăng trưởng dựa vào mở rộng vốn và lao động, tăng trưởng dựa trên TFP giúp tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực, qua đó nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng phát triển.Vì vậy, thành công của mô hình phát triển mới không nên chỉ được đánh giá bằng quy mô đầu tư cho khoa học, công nghệ hay số lượng doanh nghiệp công nghệ, mà quan trọng hơn phải được đo bằng những kết quả thực chất của quá trình chuyển đổi như: đóng góp của TFP ngày càng cao; năng suất lao động tăng nhanh hơn; hệ số ICOR giảm; tỷ lệ nội địa hóa và mức độ làm chủ công nghệ được nâng lên; tỷ trọng giá trị gia tăng trong nước trong xuất khẩu lớn hơn; năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế tiếp tục được cải thiện.Nói cách khác, nếu trước đây, mục tiêu chủ yếu là mở rộng quy mô GDP thông qua gia tăng các yếu tố đầu vào, thì trong giai đoạn phát triển mới, mục tiêu quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng trên cơ sở đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Quá trình này được phản ánh bằng sự gia tăng đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế. Đây cũng là điều kiện quyết định để Việt Nam duy trì tăng trưởng 2 con số trong dài hạn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững.Phóng viên: Theo ông, đâu là những đột phá có ý nghĩa quyết định để hiện thực hóa thành công mô hình phát triển Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore, Israel và gần đây là Trung Quốc cho thấy, không có quốc gia nào trở thành nước phát triển chỉ bằng tích lũy vốn và mở rộng lao động. Điểm chung của các nền kinh tế thành công là đều tạo được bước đột phá về thể chế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển doanh nghiệp trong nước đủ năng lực làm chủ công nghệ; đồng thời xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Theo tôi, để hiện thực hóa mô hình phát triển mới, Việt Nam cần tập trung vào ba nhóm giải pháp đột phá có ý nghĩa quyết định.Thứ nhất, đột phá về thể chế và quản trị quốc gia. Trọng tâm là xây dựng thể chế thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển; tạo môi trường pháp lý vượt trội cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bảo vệ và khai thác hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển, quản trị dựa trên dữ liệu, kết quả và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.Thứ hai, đột phá về huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia. Cần ưu tiên đầu tư cho hạ tầng số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và các ngành công nghệ chiến lược; đồng thời đổi mới chính sách thu hút đầu tư theo hướng lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, gắn với chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Quan trọng hơn, phải chuyển từ tư duy phân bổ nguồn lực sang kiến tạo và phát huy hiệu quả nguồn lực, lấy hiệu quả và tác động phát triển làm thước đo trong huy động, phân bổ và sử dụng mọi nguồn lực của quốc gia.Thứ ba, đột phá về phát triển doanh nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Tập trung hình thành đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp đầu chuỗi, có năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ lõi, từng bước tham gia vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, dữ liệu, sở hữu trí tuệ và thương hiệu trong chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời phát triển hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.Ba nhóm giải pháp này có mối quan hệ hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau. Thể chế và quản trị quốc gia là khâu mở đường; nguồn lực là điều kiện bảo đảm; còn doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp chuyển hóa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.Có thể khẳng định, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển sang một mô hình phát triển mới để thực hiện khát vọng trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã xác lập định hướng chiến lược cho quá trình chuyển đổi đó, với trọng tâm là tạo lập năng lực phát triển mới trên nền tảng thể chế hiện đại, quản trị quốc gia tiên tiến, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và lực lượng sản xuất mới. Nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả, Nghị quyết sẽ tạo động lực mạnh mẽ để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ chiến lược, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.Nguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn/emagazine-doi-moi-mo-hinh-phat-trien-viet-nam-mo-loi-cho-ky-nguyen-tang-truong-moi-163323.html

Thông cáo báo chí tình hình Kinh tế - Xã hội 6 tháng đầu năm 2026
  •   09/07/2026 11:24

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, sự điều hành quyết liệt của UBND tỉnh và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá. Sản xuất nông nghiệp phát triển, các sản phẩm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng tiếp tục phát huy lợi thế. Sản xuất công nghiệp phục hồi tích cực. Thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng. Công tác thu, chi ngân sách được điều hành chủ động, chặt chẽ. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước; tình hình thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc, có nhiều nhà đầu tư đến tìm hiểu đầu tư trên địa bàn tỉnh. Đầu tư công và phát triển kết cấu hạ tầng được tập trung chỉ đạo quyết liệt, nhất là công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án trọng điểm. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, triển khai hiệu quả. Công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền và sắp xếp tổ chức bộ máy được thực hiện đồng bộ. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau: I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh (giá so sánh 2020) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 79.499,8 tỷ đồng, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 20.024,2 tỷ đồng, tăng 5,98%, vượt KB 0,36 điểm phần trăm (KB tăng 5,62%), đóng góp 1,53 điểm tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng đạt 18.472,6 tỷ đồng, tăng 11,12%, thấp hơn KB 3,21 điểm phần trăm (KB tăng 14,33%), đóng góp 2,51 điểm; Khu vực Dịch vụ đạt 37.196,7 tỷ đồng, tăng 7,34%, thấp hơn KB 1,75 điểm phần trăm (KB tăng 9,09%), đóng góp lớn nhất với 3,45 điểm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 3.806,3 tỷ đồng, tăng 7,3%, vượt KB 1,8 điểm phần trăm (KB tăng 5,5%), đóng góp 0,35 điểm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực Dịch vụ giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp lớn nhất vào mức tăng GRDP của tỉnh. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch tăng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Xét về mức độ đóng góp của các ngành trong khu vực Dịch vụ như sau: Bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,72% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp là 1,16 điểm phần trăm; Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 7,55%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; Giáo dục và đào tạo tăng 6,16%, đóng góp 0,38 điểm; Hoạt động của đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội tăng 6,34%, đóng góp 0,25 điểm; Hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,58%, đóng góp là 0,29 điểm. Mặc dù không có ngành nào tăng trưởng âm, tuy nhiên một số ngành còn lại tăng thấp hoặc đóng góp ít như: Hoạt động kinh doanh bất động sản chỉ tăng 3,23%, đóng góp 0,11 điểm; ngành nghệ thuật vui chơi, giải trí tuy tăng 7,21% nhưng chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế... Trong khu vực Công nghiệp và Xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cao, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,51%, đóng góp 2,09 điểm phần trăm. Một số ngành có mức tăng trưởng tích cực trong ngành công nghiệp chính là: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,44%, đóng góp 0,98 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,06%, đóng góp 1,03 điểm là do trong quý II, tỉnh có 02 dự án điện gió Cư Né 1, Cư Né 2 đi vào hoạt động và phát điện thương mại, ngành khai khoáng tăng 9,59%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,47%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành Xây dựng tăng 7,19%, đóng góp 0,42 điểm phần trăm. Trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh và phục vụ xuất khẩu. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 6,12% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 1,33 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,02% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 5,26%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm. So với cùng kỳ năm trước, Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng cao, tăng 7,3%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm, chủ yếu là do thuế giá trị gia tăng và các loại thuế sản phẩm khác còn lại tăng 7,39%, đóng góp 0,35 điểm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Nhìn chung, GRDP 6 tháng đầu năm duy trì mức tăng khá, song vẫn chưa đạt kịch bản tăng trưởng của tỉnh. Nguyên nhân chủ yếu là khu vực Công nghiệp - Xây dựng và khu vực Dịch vụ đều tăng thấp hơn mức tăng theo kịch bản đề ra. Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 (theo giá hiện hành): Giá trị tổng sản phẩm ước đạt 100.145,3 tỷ đồng, đạt 39,44% KH năm. Trong đó: Khu vực Nông lâm, nghiệp và thủy sản ước đạt 25.607,2 tỷ đồng, đạt 27,03% kế hoạch, chiếm 25,57% trong giá trị tổng sản phẩm, giảm 0,53 điểm phần trăm so với tỷ trọng nền kinh tế cùng kỳ năm trước; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 22.209,4 tỷ đồng, đạt 46,05% so kế hoạch, chiếm 22,18%, tăng 0,47 điểm phần trăm; Khu vực Dịch vụ đạt 47.533,7 tỷ đồng, đạt 46,75% kế hoạch, chiếm 47,46%, tăng 0,08 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt gần 4.795 tỷ đồng, đạt 51,59% kế hoạch năm, chiếm 4,79%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm trước. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục phát triển, sản lượng lúa Đông Xuân tăng so với cùng kỳ năm trước, sản lượng cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Số lượng đầu con chăn nuôi tuy giảm nhưng sản lượng thịt hơi tăng đáp ứng nhu cầu thực phẩm của người dân. Diện tích rừng trồng mới tăng cao, hoạt động khai thác gỗ được đẩy mạnh do nhu cầu xuất khẩu gỗ tăng cao. Hoạt động sản xuất thủy sản đạt kết quả tích cực, đặc biệt nuôi tôm hùm và khai thác hải sản, nhất là cá ngừ đại dương. a) Nông nghiệp Diện tích gieo trồng lúa Đông Xuân trên địa bàn tỉnh đạt 76.956 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Đến nay, lúa vụ Đông xuân đã thu hoạch xong với năng suất ước đạt 76 tạ/ha, giảm 0,93 tạ/ha; Sản lượng ước đạt 584.866 tấn, tăng 0,08% so với vụ Đông xuân năm trước. Tính đến ngày 20/6, toàn tỉnh gieo trồng được 23.700 ha lúa hè thu, tăng 0,77% so với cùng kỳ năm trước; hơn 52.248 ha lúa mùa, tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Cũng tại thời điểm trên, các địa phương trên toàn tỉnh đã gieo trồng được: Ngô 37.600 ha, tăng 0,56%, sản lượng ước đạt 35.646 tấn, tăng 5,93%; khoai lang 3.720 ha, tăng 0,35%, sản lượng ước đạt 64.210 tấn, tăng 16,54%; đậu tương 218 ha, tăng 1,40%, sản lượng ước đạt 58 tấn, giảm 4,92%; lạc 2.090 ha, tăng 0,34%, sản lượng ước đạt 1.750 tấn, tăng 14,53%; rau các loại 14.010 ha, tăng 1,17%, sản lượng ước đạt 187.201 tấn, tăng 5,38%; đậu các loại 8.500 ha, tăng 0,71%, sản lượng ước đạt 2.693 tấn, tăng 8,33% so với cùng kỳ năm trước. Ước 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng lương thực có hạt đạt 620.512 tấn, tăng 0,39% so với chính thức năm trước. Diện tích cây lâu năm toàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 ước tính 392.169 ha, tăng 0,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích một số cây công nghiệp lâu năm chủ yếu là điều 26.250 ha, giảm 0,6%; cà phê 217.700 ha, tăng 0,02%; cao su 33.200 ha, tăng 0,15%; hồ tiêu 28.643 ha, giảm 0,56%. Sản lượng thu hoạch điều 40.850 tấn, tăng 4,8%; mủ cao su 24.200 tấn, tăng 4,21%; hồ tiêu 82.450 tấn, tăng 4,74%. Sản lượng một số cây ăn quả tăng so với cùng kỳ năm trước: Xoài 6.710 tấn, tăng 4,78%; chuối 50.899 tấn, tăng 6,52%; sầu riêng 72.969 tấn, tăng 13,27%; chanh leo 13.600 tấn, tăng 1,85%... Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước([1]). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát([2]). Ước số lượng đàn trâu 28.779 con, giảm 4,11% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 385.314 con, giảm 3,11%; đàn lợn 1.015.663 con, giảm 0,41%; đàn gia cầm 22.638 nghìn con, giảm 2,67%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng: Trâu 1.837 tấn, tăng 4,49%; bò 20.788 tấn, tăng 3,37%; lợn 124.223 tấn, tăng 6,24%; gia cầm 518.573 tấn, tăng 5,94%; trứng gia cầm 451,66 triệu quả, tăng 5,68%. b) Lâm nghiệp  Diện tích rừng trồng mới tập trung 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.725 ha, tăng 5,05%. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 1,5 nghìn cây, tăng 7,1%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 827.982 m³, tăng 5,05%. Sản lượng củi đạt 467.395 ste, tăng 5,0%. Diện tích rừng bị thiệt hại của cả tỉnh 6 tháng đầu năm là 76,14 ha, giảm 37,88% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích rừng bị chặt, phá là 76,14 ha, giảm 37,88%; diện tích rừng bị cháy là 0 ha. Toàn tỉnh đã xảy ra 429 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 275 vụ phá rừng. Tang vật vi phạm gồm: Phương tiện, máy móc, công cụ tạm giữ 117 loại; gỗ các loại 145,9 m3. c) Thủy sản Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 67.108 tấn, tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 52.305 tấn, tăng 3,36%; tôm đạt 7.430 tấn, tăng 6,92%; thuỷ sản khác đạt 7.373 tấn, tăng 26,92%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm ước đạt 16.978 tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 9.029 tấn, tăng 5,42%, tôm đạt 6.965 tấn, tăng 5,38%; thuỷ sản khác đạt 985 tấn, tăng 5,42%. Sản lượng thủy sản khai thác được 50.130 tấn, tăng 6,08%, bao gồm: Cá đạt 43.277 tấn, tăng 2,94%; tôm đạt 465 tấn, tăng 37,06%; thuỷ sản khác đạt 6.388 tấn, tăng 31,04%. d) Phát triển nông thôn Đến nay, lũy kế toàn tỉnh có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới; qua rà soát sơ bộ tại 88 xã, toàn tỉnh đạt 224/880 tiêu chí, bình quân 2,55 tiêu chí/xã([3]). Chương trình OCOP tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông thôn và quảng bá sản phẩm đặc trưng của tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 762 sản phẩm OCOP của 374 chủ thể; trong đó có 02 sản phẩm 5 sao, 60 sản phẩm 4 sao, 603 sản phẩm 3 sao và 97 sản phẩm hết hạn. 3. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 ước tính tăng 14,04% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 12,82%; Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,72%; Chỉ số ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,81%; Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,90%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu so với cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng khác đạt 1.170,3 nghìn m³, tăng 15,17%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên đạt 844,8 triệu viên, tăng 33,52%; vỏ bào, dăm gỗ đạt 102.341,0 tấn, tăng 9,98%; cá ngừ đóng hộp đạt 4.003,1 tấn, tăng 27,23%; cà phê bột các loại đạt 31.835,8 tấn, tăng 24,59%; hạt điều khô đạt 50.949,6 tấn, tăng 6,25%; bia đóng chai đạt 39.859,8 nghìn lít, tăng 5,56%; gạch xây dựng bằng đất sét nung đạt 112.255,6 nghìn viên, tăng 15,56%; bộ com-lê, quần áo đồng bộ… đạt 9.655,9 nghìn cái, tăng 9,85%; điện sản xuất đạt 4.840,2 triệu kWh, tăng 27,83%([4]); điện thương phẩm đạt 2.122,8 triệu kWh, tăng 5,73%; nước uống được đạt 31.608,0 nghìn m³, tăng 10,59%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế đạt 78.057,6 triệu đồng, tăng 5,39%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm 2026 tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2026 tăng 6,36% so với tháng trước và giảm 4,51% so với cùng thời điểm năm trước. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 giảm 0,32% so với cùng kỳ năm trước. 4. Số lượng đăng ký doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng cao nhờ “động lực” của Nghị quyết 68 và Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 1.991 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 16.200 tỷ đồng (tăng 34,53% về số doanh nghiệp nhưng giảm 28,92% về số vốn so với cùng kỳ năm trước), có 442 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 29,62%). Bình quân 01 tháng có 406 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 33,61% so với cùng kỳ năm trước  Bên cạnh đó, có 428 doanh nghiệp giải thể (tăng 98,15%) và 1.209 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 12,26%) so với cùng kỳ năm trước. Bình quân một tháng có 273 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 26,60% so với cùng kỳ năm trước. b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 cho thấy có 42,22% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh thuận lợi hơn so với quý trước; 42,22% số doanh nghiệp cho rằng tình hình ổn định và 15,56% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn. Dự kiến quý III/2026, có 34,44% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ thuận lợi hơn so với quý II/2026; 47,78% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh ổn định và 17,78% số doanh nghiệp cho rằng sẽ gặp khó khăn hơn. 5. Hoạt động thương mại, vận tải, du lịch 6 tháng đầu năm nay duy trì đà tăng trưởng khá, thị trường hàng hóa ổn định, nguồn cung dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng. Nhiều chương trình khuyến mại, hội chợ và sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch được tổ chức, góp phần kích cầu tiêu dùng và thu hút du khách. Đặc biệt, việc Buôn Ma Thuột được National Geographic vinh danh là một trong 15 điểm đến ẩm thực tuyệt vời nhất thế giới năm 2026 đã góp phần nâng cao hình ảnh và sức hút du lịch của tỉnh. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 105.130,4 tỷ đồng, tăng 15,74% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 86.912,4 tỷ đồng, tăng 15,05%; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 11.903,6 tỷ đồng, tăng 19,78%; Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch đạt 85,5 tỷ đồng, tăng 41,37%; Dịch vụ khác đạt 6.228,9 tỷ đồng, tăng 17,70% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 5.796,5 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách đạt 1.656,7 tỷ đồng, tăng 16,01%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 3.462,8 tỷ đồng, tăng 14,32%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 361,5 tỷ đồng, tăng 18,95%; bưu chính chuyển phát đạt 315,5 tỷ đồng, tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển và luân chuyển hành khách ước đạt 15.034 ngàn lượt hành khách và 2.031 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,67% về khối lượng vận chuyển và tăng 14,23% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 9.196 nghìn tấn và 2.858 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,23% về khối lượng vận chuyển và tăng 12,12% về khối lượng luân chuyển. Tổng lượt khách du lịch đến Đắk Lắk 6 tháng đầu năm nay ước đạt 5.330.000 lượt khách, tăng 37,19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: có 78.500 lượt khách quốc tế, tăng 34,65%([5]). Riêng số lượt khách do các cơ sở lưu trú trên địa bàn phục vụ đạt 3.447.425 lượt, tăng 21,33%, trong đó lượt khách ngủ qua đêm là 2.481.834 lượt, tăng 21,72%; khách trong ngày là 965.591 lượt, tăng 20,33%. Lượt khách theo tour do đơn vị du lịch lữ hành phục vụ là 22.671 lượt, tăng 85,58%, trong đó khách đi trong nước là 22.671 lượt, tăng 108,22%. 6. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 27.174,5 tỷ đồng, tăng 2,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn nhà nước đạt 8.588,6 tỷ đồng, giảm 5,14%; vốn ngoài nhà nước đạt 18.297,8 tỷ đồng, tăng 11,38%([6]); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 288,1 tỷ đồng, giảm 73,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến hết ngày 30/6/2026, các đơn vị, chủ đầu tư đã giải ngân 2.664,6 tỷ đồng, đạt 27,91% KH địa phương giao, đạt 28,92% KH Thủ tướng Chính phủ giao. Tỉnh đã công bố danh mục 257 dự án thu hút đầu tư giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn đầu tư khoảng 1.032 nghìn tỷ đồng, tạo cơ sở để các nhà đầu tư nghiên cứu, khảo sát và đề xuất phương án đầu tư phù hợp. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 29 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 25.808 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 33 dự án, trong đó có 09 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký tăng thêm hơn 1.133,4 tỷ đồng, góp phần huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, bổ sung năng lực sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 7. Các hoạt động xây dựng của tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị, thủy lợi và hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; đồng thời đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân các công trình, dự án trọng điểm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất (giá so sánh 2020) đạt 15.754,7 tỷ đồng, tăng 7,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xây dựng nhà các loại đạt 6.749,3 tỷ đồng, giảm 0,02% so với cùng kỳ năm trước; xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng đạt 8.216,0 tỷ đồng, tăng 9,51% và hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 789,4 tỷ đồng, tăng 74,97%. Một số công trình trọng điểm đóng góp lớn vào giá trị sản xuất ngành xây dựng 6 tháng đầu năm nay: Dự án thành phần 3 cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột giai đoạn 1, tuyến đường Cảng Bãi Gốc – KKT Nam Phú Yên – QL1 – KKT Vân Phong; tiểu dự án WEIDAP-ADB8, hồ chứa nước Yên Ngựa, hệ thống trạm bơm và thủy lợi Dur Kmăl, hồ Krông Pắc thượng giai đoạn 2 và hệ thống kênh mương hồ Ea H’Leo 1… 8. Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước; chi ngân sách Nhà nước giảm 13,17%, cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 8.945,7 tỷ đồng, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa đạt 8.846,0 tỷ đồng, tăng 3,19%, chiếm 98,89% tổng thu; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 87,4 tỷ đồng, giảm 8,78%; thu viện trợ đạt 12,3 tỷ đồng, tăng 12,42%. Tổng chi ngân sách Nhà nước ước đạt 23.078,6 tỷ đồng, giảm 13,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi thường xuyên đạt 15.184,0 tỷ đồng, giảm 7,47%, chiếm 65,79% tổng chi; chi đầu tư phát triển đạt 7.891,5 tỷ đồng, giảm 22,38%, chiếm 34,19% tổng chi. 9. Các hoạt động ngân hàng, tín dụng có tốc độ tăng trưởng tốt, đáp ứng nhu cầu huy động vốn và cho vay kịp thời phát triển kinh tế tại địa phương. Tỷ lệ tham gia BHYT duy trì ở mức cao, gần hoàn thành kế hoạch năm. Tổng nguồn vốn huy động 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 177.350 tỷ đồng, tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; dư nợ cho vay ước đạt 281.300 tỷ đồng, tăng 16,00%; nợ xấu toàn tỉnh ước khoảng 2.800 tỷ đồng, dưới 1% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 15.850 tỷ đồng, tăng 15,42% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.218,0 tỷ đồng, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi từ BHXH, BHYT, BHTN là 5.281,3 tỷ đồng, tăng 7,19%. Ước số người tham gia bảo hiểm y tế là 2.695.000 người, đạt 99,10%, tăng 5,44%. 10. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 6 tháng năm 2026 ước đạt 2.157 triệu USD, tăng 6,35%; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 997 triệu USD, giảm 1,32% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.577 triệu USD, đạt 53,99% kế hoạch, tăng 3,80% so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản duy trì ở mức cao, góp phần làm kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, vượt kế hoạch đề ra. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 580 triệu USD, đạt 66,67% kế hoạch, tăng 13,95% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất. 11. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do ảnh hưởng của kinh tế thế giới, giá xăng dầu biến động liên tục đã làm tăng chi phí vận chuyển, giá nguyên vật liệu sản xuất kéo theo giá tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu tăng; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở, đặc biệt là cát, đá, gạch tăng cao do nguồn cung giảm. a) Chỉ số giá tiêu dùng Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,99%. Có 10/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 12,18%. Chỉ có 01 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyền thông giảm 1,50% so với cùng kỳ năm trước. b) Chỉ số giá vàng, giá đô la Mỹ Giá vàng trong nước 6 tháng đầu năm 2026 biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá đô la tăng là do tình hình chính trị căng thẳng ở một số quốc gia lớn trên thế giới. Sức mua của loại hàng hóa này cũng ở mức bình thường. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, giá vàng tăng 61,28%; giá đô la Mỹ tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước. II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước 6 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước, thị trường lao động của tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực. Cùng với sự phục hồi của hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự phát triển của các ngành kinh tế, số người có việc làm đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp vẫn có xu hướng tăng, phản ánh áp lực của thị trường lao động trong bối cảnh nguồn cung lao động tăng nhanh và quá trình chuyển dịch việc làm diễn ra mạnh mẽ. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.642,92 nghìn người, tăng 30,40 nghìn người (tăng 1,89%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lực lượng lao động khu vực thành thị chiếm 27,45%, tăng 6,78%; khu vực nông thôn tăng 0,15%. Chia theo giới tính, lực lượng lao động nam chiếm 53,51%, tăng 1,00%; lực lượng lao động nữ tăng 2,92%. Số người có việc làm từ 15 tuổi trở lên ước đạt 1.610,99 nghìn người, tăng 25,26 nghìn người (tăng 1,59%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lao động có việc làm ở khu vực thành thị chiếm 27,27%, tăng 7,07%; khu vực nông thôn giảm 0,32%. Chia theo giới tính, lao động nam chiếm 53,40%, giảm 0,16%; lao động nữ tăng 3,68%. Cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, với tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm, trong khi tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng so với cùng kỳ năm trước. Lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 58,63% tổng số lao động có việc làm, giảm 3,29 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 14,09%, tăng 0,75 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 27,28%, tăng 2,54 điểm phần trăm. Thu nhập bình quân tháng của người lao động làm công hưởng lương ước 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8.353 nghìn đồng, tăng 367 nghìn đồng (tăng 4,60%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động nam có thu nhập bình quân gấp 1,14 lần mức thu nhập bình quân của lao động nữ; lao động làm việc tại khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân gấp 1,22 lần so với khu vực nông thôn. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động 6 tháng đầu năm ước đạt 1,94%, tăng 0,28 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình trạng thiếu việc làm vẫn còn xảy ra ở một bộ phận lao động nông thôn, lao động thời vụ và lao động chưa qua đào tạo nghề. Bên cạnh đó, sự chênh lệch giữa yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và trình độ, kỹ năng của người lao động, cùng với khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của một số doanh nghiệp, tiếp tục ảnh hưởng đến việc làm của người lao động. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các chính sách về lao động, việc làm, góp phần hỗ trợ tạo việc làm và phát triển thị trường lao động. Ước tính toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 27.600 người, tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó có khoảng 1.750 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tăng 16,66%. Công tác hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm tiếp tục phát huy hiệu quả. Ngân hàng Chính sách xã hội đã giải quyết cho 12.306 dự án vay vốn hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm với tổng số tiền 880,1 tỷ đồng, góp phần tạo việc làm cho 12.306 lao động (trong đó có 5.612 lao động nữ); đồng thời hỗ trợ 41 người vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với tổng số tiền 3,2 tỷ đồng. Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp được triển khai hiệu quả. Trung tâm Dịch vụ việc làm đã tư vấn việc làm, nghề nghiệp và chính sách cho 43.670 lượt người, giới thiệu việc làm cho 3.850 lượt người; tham mưu ban hành 7.955 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền chi trả hơn 161 tỷ đồng, đồng thời hỗ trợ đào tạo nghề cho 750 người. 2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Đời sống của các hộ dân cư trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định; các chính sách an sinh xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Công tác bảo trợ xã hội, chăm sóc các nhóm yếu thế và bảo vệ trẻ em tiếp tục được thực hiện đúng đối tượng. Duy trì trợ giúp xã hội thường xuyên cho 157.814 đối tượng, kinh phí gần 110,7 tỷ đồng/tháng. Toàn tỉnh quản lý hơn 128 nghìn hồ sơ người có công; hơn 17 nghìn lượt đối tượng hưởng trợ cấp hằng tháng với kinh phí hơn 52 tỷ đồng/tháng. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã thăm, tặng quà người có công và gia đình chính sách với tổng kinh phí hơn 43,4 tỷ đồng. Đồng thời, thực hiện tặng quà cho 169.000 đối tượng bảo trợ xã hội, hưởng trợ cấp hưu trí xã hội và các đối tượng khác với tổng kinh phí hơn 71,2 tỷ đồng. Bên cạnh đó, hoàn thành “Chiến dịch Quang Trung”, sửa chữa 892/892 nhà hư hỏng nặng và xây dựng mới 606/606 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi bảo đảm người dân có nhà ở ổn định để đón Tết. UBND tỉnh tổ chức Lễ khởi công xây dựng 100 nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp phòng tránh lũ giai đoạn 1, phấn đấu hoàn thành trước ngày 15/9/2026, kịp thời phục vụ công tác ứng phó trong mùa mưa lũ. 3. Giáo dục - Đào tạo Lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục được tỉnh quan tâm chỉ đạo, triển khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả tích cực. Chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được khẳng định với 114 học sinh đạt giải tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT năm học 2025 – 2026([7]). Tỉnh đã tổ chức khởi công xây dựng các Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở (tại xã Ea Rốk và xã Ea Bung).  Hệ thống cơ sở giáo dục do địa phương quản lý gồm 1.378 cơ sở([8]), với 38.089 cán bộ quản lý, giáo viên và 711.235 học sinh, học viên. Tính đến tháng 6/2026, tỉnh có 838/1.351 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 62%, tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt khoảng 83,5%. Các chỉ tiêu huy động học sinh đến trường tiếp tục duy trì ở mức cao([9]). Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2026 trên địa bàn tỉnh có 64 điểm thi chính thức, 55 điểm thi dự phòng; 1.500 phòng thi chính thức phân bổ đều tại các địa phương. Tổng số thí sinh đăng ký dự thi là 35.500 thí sinh, bao gồm: 33.857 thí sinh lớp 12 và 1.643 thí sinh tự do. 4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Trong 6 tháng đầu năm 2026, các cơ sở y tế đã khám hơn 1,5 triệu lượt người, điều trị nội trú cho gần 187 nghìn lượt và điều trị ngoại trú cho hơn 56 nghìn lượt. Số giường bệnh đạt 31,5 giường/vạn dân; số bác sĩ đạt 9,06 bác sĩ/vạn dân. Công tác y tế dự phòng tiếp tục được triển khai; toàn tỉnh ghi nhận 1.284 ca mắc bệnh tay chân miệng, 872 ca mắc bệnh sốt xuất huyết, 217 ca mắc bệnh thủy đậu, 04 ca mắc bệnh sởi, 02 ca mắc viêm não mô cầu (trong đó có 01 trường hợp tử vong), 02 ca mắc bệnh dại (02 trường hợp tử vong) và không có ca mắc viêm não Nhật Bản. Tích lũy đến nay (kể từ khi phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên trên địa bàn tỉnh) có 2.418 ca nhiễm HIV, trong đó 722 bệnh nhân HIV tử vong. Đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc cho người dân giai đoạn 2026 – 2030([10]) thực hiện tại 4 địa phương trong tháng 6/2026 và triển khai đồng loạt từ ngày 01/7/2026. Về ngộ độc thực phẩm, trong 6 tháng đã xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm với 92 người mắc và nhập viện điều trị, không có trường hợp tử vong; so với cùng kỳ năm trước, giảm 01 vụ nhưng tăng 78 người mắc. 5. Các hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, sôi nổi, bám sát nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng của đất nước và của tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động phục vụ Tết Nguyên đán, kỷ niệm các ngày lễ lớn, tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; đồng thời tổ chức các chương trình nghệ thuật, triển lãm chuyên đề, hoạt động trải nghiệm văn hóa. Tỉnh đang tập trung chuẩn bị tổ chức Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 và Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 10 năm 2027. Thể thao thành tích cao tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Tỉnh duy trì đào tạo, huấn luyện 18 môn với 478 vận động viên; tính đến ngày 03/6/2026, các vận động viên của tỉnh đạt 102 huy chương (gồm 20 huy chương vàng, 31 huy chương bạc và 51 huy chương đồng) tại các giải quốc tế, quốc gia và khu vực.                 6. Tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục giảm ở cả ba tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương Tính chung từ ngày 16/12/2025 đến ngày 15/6/2026, toàn tỉnh xảy ra 223 vụ tai nạn giao thông, làm 176 người chết, 104 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 21,48%; số người chết giảm 15,79% và số người bị thương giảm 40,91%. 7. Thiên tai, vi phạm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương. Thiệt hại do thiên tai: Tính đến ngày 25/6/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ thiên tai; làm 01 người chết, 01 người bị thương; 85 căn nhà bị hư hại; 29 ha lúa và 11,8 ha hoa màu bị thiệt hại. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai ước tính khoảng 2.859 triệu đồng. Các địa phương đã chủ động triển khai các phương án phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai; kịp thời hỗ trợ người dân ổn định đời sống và khôi phục sản xuất tại các khu vực bị ảnh hưởng. Vi phạm môi trường: Tính chung từ 16/12/2025 đến ngày 15/6/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 70 vụ vi phạm môi trường, xử lý 65 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.319,0 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm được phát hiện tăng 18,64%; số vụ đã xử lý tăng 44,44%; số tiền xử phạt giảm 54,15%. Cháy, nổ: Tính chung từ ngày 16/12/2025 đến ngày 15/6/2026, toàn tỉnh xảy ra 22 vụ cháy, nổ, làm 04 người chết, 01 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 4.145,9 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ gấp 2,4 lần, số người chết tăng 04 người, số người bị thương không thay đổi, giá trị tài sản thiệt hại gấp 4,5 lần./. THỐNG KÊ TỈNH ĐẮK LẮK [1] Do chịu tác động của giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, chi phí sản xuất tăng và dịch bệnh trên vật nuôi còn tiềm ẩn, chăn nuôi trâu, bò lấy thịt có hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả thu hẹp. [2] Lũy kế từ đầu năm đến nay, dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 111 hộ, 53 thôn, buôn, 28 xã, phường, đã làm chết và tiêu huỷ 8.515 con lợn (khối lượng tiêu huỷ là 446.861 kg). [3] Trong đó có 02 xã đạt 8 tiêu chí, 01 xã đạt 7 tiêu chí, 07 xã đạt 6 tiêu chí, 08 xã đạt 5 tiêu chí, 08 xã đạt 4 tiêu chí, 10 xã đạt 3 tiêu chí, 22 xã đạt 2 tiêu chí, 13 xã đạt 1 tiêu chí và 17 xã chưa đạt tiêu chí nào. [4] Nhà máy điện gió Cư Né 2 và Cư Né 1 với công suất 50MW/nhà máy đã đi vào hoạt động vận hành thương mại, tạo thêm động lực cho ngành sản xuất và phân phối điện. [5] Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk  [6] Trong đó, vốn đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 6.094,4 tỷ đồng, tăng 7,42% so với cùng kỳ năm trước do nhiều công trình chuyển tiếp tiếp tục được thi công, một số dự án được đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Vốn đầu tư của dân cư đạt 12.203,4 tỷ đồng, tăng 13,47% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở và mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh của các hộ cá thể tăng. [7] Cụ thể: 03 giải Nhất, 21 giải Nhì, 34 giải Ba, 56 giải Khuyến khích. [8] Gồm: 452 trường mầm non, 456 trường tiểu học, 349 trường trung học cơ sở, 94 trường trung học phổ thông, 24 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX), 01 trường Cao đẳng Sư phạm và 02 trường Trung cấp. Ngoài ra, trên địa bàn còn có 07 trường đại học, 01 học viện, 11 trường cao đẳng và 03 trường trung cấp thuộc các bộ, ngành. [9] Trong đó: Trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,98%; trẻ từ 11 - 14 tuổi vào lớp 6 đạt 99,97%; học sinh 15 tuổi vào lớp 10 đạt 76,01%. [10] Nhằm triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, tỉnh đã ban hành Kế hoạch.

Thống kê tỉnh tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026
  •   09/07/2026 11:15

Sáng ngày 06/7/2026, Thống kê tỉnh đã tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội (KTXH) tháng đầu năm 2026 của tỉnh Đắk Lắk. Ông Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê tỉnh Đắk Lắk, chủ trì buổi họp báo.Ông Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê, chủ trì buổi Họp báo Tham dự họp báo còn có ông Nguyễn Quang Phước, ông Cao Thanh Sơn Phó Trưởng Thống kê; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương; lãnh đạo, quản lý các Phòng nghiệp vụ và toàn thể công chức văn phòng Thống kê tỉnh tham dự. Tại buổi họp báo, Ông Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê đã thông tin khái quát về bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026, trong đó nhấn mạnh những thuận lợi, khó khăn đan xen khi kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều biến động phức tạp, thiên tai, biến đổi khí hậu diễn biến bất thường. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh cùng sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, tình hình KTXH của tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực. Theo đó, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh theo giá so sánh năm 2020 ước đạt 79.499,8 tỷ đồng, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng chính, đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế; khu vực công nghiệp - xây dựng duy trì đà phục hồi tích cực; sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển ổn định.Các phóng viên chụp ảnh đưa tin Lĩnh vực nông nghiệp tiếp tục phát huy vai trò trụ đỡ của nền kinh tế với nhiều sản phẩm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng duy trì tăng trưởng và khẳng định vị thế trên thị trường. Trong khi đó, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,04% so với cùng kỳ năm trước, nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo ghi nhận mức tăng trưởng khá. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế địa phương. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt hơn 105 nghìn tỷ đồng, tăng 15,74% so với cùng kỳ năm trước. Tổng lượt khách du lịch đến Đắk Lắk đạt khoảng 5,33 triệu lượt, tăng hơn 37%, trong đó khách quốc tế tăng gần 35%. Công tác thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp đạt nhiều kết quả tích cực. Trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh có gần 2.000 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 16.200 tỷ đồng; đồng thời tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 29 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 25.800 tỷ đồng. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm triển khai hiệu quả. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương. Bên cạnh những kết quả đạt được, Trưởng Thống kê tỉnh cũng thẳng thắn nhìn nhận một số khó khăn, thách thức như tăng trưởng khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chưa đạt kịch bản đề ra; giải ngân vốn đầu tư công còn thấp; thiên tai, cháy nổ và vi phạm môi trường vẫn ảnh hưởng đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh tại một số địa phương.Phóng viên Kim Bảo - Cổng thông tin điện tử tỉnh đặt câu hỏi Buổi họp báo cũng dành thời gian trao đổi, giải đáp các câu hỏi của phóng viên báo đài về tình hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, vốn đầu tư thực hiện, các dự án công trình, trọng điểm, thiệt hại do thiên tai, động lực phát triển kinh tế năm 6 tháng đầu năm 2026. Các câu hỏi của các phóng viên được Trưởng Thống kê tỉnh trả lời rất rõ ràng, cụ thể. Bên cạnh đó, lãnh đạo các Sở, ban ngành trên địa bàn tỉnh đã cùng với ngành thống kê trả lời câu hỏi của các phóng viên báo, đài.Ông Võ Đình Tiến, Phó Giám đốc Sở Tài chính trả lời câu hỏi của phóng viên. Kết thúc buổi họp báo, ông Hồ Ngọc Quang, chủ trì buổi họp báo cho biết, trong 6 tháng cuối năm 2026, tỉnh sẽ tiếp tục tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra. Trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ và phát huy tiềm năng, lợi thế của các ngành hàng chủ lực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành kế hoạch tăng trưởng cả năm 2026. Từ những ý nghĩa trên, buổi họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 không chỉ là hoạt động thông tin - truyền thông thường niên, mà còn góp phần quan trọng vào việc hoạch định chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn tiếp theo./.Nguồn: Phòng Thống kê Tổng Hợp

Hệ Thống ngành sản phẩm Việt Nam (theo QĐ số 32/2026/QĐ-TTG ngày 29/6/2026)
  •   08/07/2026 07:17

HỆ THỐNG NGÀNH SẢN PHẨM VIỆT NAM Mỗi sản phẩm trong nền kinh tế đều có một “mã ngành sản phẩm” để phục vụ công tác thống kê.Nhằm chuẩn hóa việc phân loại sản phẩm, nâng cao chất lượng thông tin thống kê và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2026/QĐ-TTg ngày 29/6/2026 về Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 14/8/2026.

Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh Đắk Lắk mở rộng và đánh giá chất lượng Đảng viên quý II năm 2026
  •   03/07/2026 11:21

Ngày 03 tháng 7 năm 2026 tại tỉnh Đắk Lắk, Đảng bộ Thống kê tỉnh đã trang trọng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh Đắk Lắk mở rộng và đánh giá chất lượng Đảng viên quý II năm 2026, đồng chí Hồ Ngọc Quang, Bí thư Đảng ủy chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Quang Phước, Phó Bí thư đảng ủy; đồng chí Cao Thanh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ, chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy; các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, cấp ủy các chi bộ trực thuộc, các thành viên Ủy ban Kiểm tra đảng ủy; lãnh đạo, quản lý các phòng nghiệp vụ, các Thống kê cơ sở. Phát biểu khai mạc hội nghị, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong quý II/2026, thời điểm khởi động các nhiệm vụ thống kê trọng yếu của cả năm. Đồng chí đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của các chi bộ, đảng viên, qua đó góp phần bảo đảm tiến độ thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác chuyên môn của ngành. Tại hội nghị, đồng chí Võ Trường Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ đảng ủy đã triển khai công tác rà soát, quy hoạch các chức danh thuộc Ban Thường vụ, Ban Chấp hành và Ủy ban Kiểm tra nhiệm kỳ 2025-2030, nhiêm kỳ 2030-2035; đồng thời tổ chức bỏ phiếu lựa chọn, giới thiệu nhân sự đối với các chức danh theo đúng quy định và hướng dẫn của Đảng ủy cấp trên. Quá trình rà soát, quy hoạch và giới thiệu nhân sự được thực hiện bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch và khách quan. Các đại biểu tham dự hội nghị đã phát huy tinh thần trách nhiệm, nghiên cứu kỹ lưỡng và tham gia đóng góp ý kiến, bỏ phiếu với sự thống nhất cao. Kết quả hội nghị là cơ sở quan trọng để cấp ủy xem xét, hoàn thiện phương án nhân sự theo đúng quy trình, quy định hiện hành.Toàn cảnh Hội nghị   Hội nghị cũng đã được nghe đồng chí Cao Thanh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm UBKT Đảng ủy trình bày báo cáo về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy Thống kê tỉnh trong thời gian qua. Báo cáo đã đánh giá toàn diện những kết quả đạt được trong việc triển khai thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát theo kế hoạch đề ra; đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cần khắc phục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó, đồng chí cũng nhấn mạnh vai trò của công tác kiểm tra, giám sát trong việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng. Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, hội nghị đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong 6 tháng cuối năm 2026. Các giải pháp tập trung vào việc tăng cường công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót, góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được giao. Trong phần thảo luận, các đại biểu đã tập trung phân tích những kết quả đạt được, đồng thời chỉ rõ những tồn tại cần khắc phục như: Công tác nghiệm thu Tổng điều tra Kinh tế 2026; biên soạn tính toán chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm cấp xã; công tác sinh hoạt chi bộ có nơi chưa thật sự đổi mới, việc triển khai học tập nghị quyết ở một số chi bộ còn hạn chế. Nhiều giải pháp được đề xuất, nhất là nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý đảng viên và nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong thực thi nhiệm vụ. Hội nghị cũng triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý III năm 2026, trong đó Đảng ủy yêu cầu các chi bộ bám sát kế hoạch của Đảng ủy cấp trên, tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền nhiệm vụ thống kê, triển khai hiệu quả các cuộc điều tra lớn, tăng cường công tác kiểm tra giám sát theo chương trình năm, và phát huy vai trò của đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Hội nghị cũng đã tổ chức thảo luận, đánh giá, phân loại đảng viên quý II năm 2026 theo đúng quy định và hướng dẫn của cấp trên. Các ý kiến tại hội nghị đã tập trung đánh giá toàn diện kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao của từng đảng viên. Việc đánh giá, phân loại được thực hiện trên tinh thần dân chủ, khách quan, công khai và đúng thực chất. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, phát huy những ưu điểm, đồng thời kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, tồn tại trong quá trình công tác và sinh hoạt Đảng. Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Bí thư Đảng ủy đề nghị toàn thể cấp ủy, đảng viên tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, chủ động trong công việc; đồng thời yêu cầu các chi bộ cụ thể hóa nghị quyết hội nghị thành chương trình hành động, góp phần xây dựng Đảng bộ Thống kê tỉnh Đắk Lắk ngày càng trong sạch, vững mạnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh Đắk Lắk mở rộng và đánh giá chất lượng Đảng viên quý II năm 2026 đã diễn ra trong không khí nghiêm túc, dân chủ, phát huy tinh thần trách nhiệm cao của các đại biểu tham dự và hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra, thành công tốt đẹp./.

Mô hình tăng trưởng mới: Mở đường băng cho khát vọng tăng trưởng 2 con số
  •   24/06/2026 19:28

Phóng viên: Thưa ông, thời gian qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhiều chuyên gia kinh tế nhắc đến nhiều câu chuyện nền kinh tế Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ tăng trưởng kinh tế theo quy mô chiều rộng sang tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Vậy xin ông cho biết rõ hơn về khái niệm giữa hai mô hình tăng trưởng này?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Có thể hiểu một cách ngắn gọn, tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động và khai thác tài nguyên; còn tăng trưởng theo chiều sâu là tăng trưởng dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.Trong giai đoạn đầu phát triển, hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đều trải qua mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Nhờ huy động mạnh mẽ vốn đầu tư, tận dụng lợi thế lao động dồi dào, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài. Đây cũng là mô hình đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ một nước nghèo trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và quy mô kinh tế thuộc nhóm lớn trong khu vực với quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỷ USD xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN.Tuy nhiên, mô hình này có những giới hạn nhất định. Khi lao động giá rẻ dần mất đi do già hóa dân số, tài nguyên ngày càng hạn chế và hiệu quả đầu tư giảm dần, việc tiếp tục duy trì tăng trưởng cao chỉ bằng cách tăng vốn và lao động sẽ ngày càng khó khăn. Đây là thách thức mà nhiều quốc gia đang phát triển đã gặp phải khi bước vào giai đoạn thu nhập trung bình.Trong khi đó, tăng trưởng theo chiều sâu tập trung vào nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Cùng một lượng vốn và lao động nhưng nền kinh tế có thể tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn nhờ ứng dụng công nghệ mới và đổi mới phương thức sản xuất.Xét về bản chất, sự khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình nằm ở vai trò của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Nếu tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn và lao động thì tăng trưởng theo chiều sâu dựa nhiều hơn vào TFP, tức là phần tăng trưởng được tạo ra từ tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hiệu quả phân bổ nguồn lực.Đối với Việt Nam, việc chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu là yêu cầu khách quan và cấp thiết để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới. Đây cũng là lý do Đại hội XIV của Đảng xác định cần xây dựng mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu.Phóng viên: Ông có thể nói gì về quá trình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam trong thời gian qua? Mô hình tăng trưởng này của Việt Nam chủ yếu dựa vào những động lực nào, đâu là dấu hiệu cho thấy mô hình đó đã tới hạn và những rủi ro sẽ phải đối mặt nếu chúng ta tiếp tục duy trì thực hiện?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Sau Đổi mới, Việt Nam là một trong những quốc gia vận dụng khá thành công mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Trong điều kiện xuất phát điểm thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ và hạ tầng còn yếu kém, việc huy động tối đa các nguồn lực sẵn có đã giúp nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ba động lực chính của mô hình này là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mở rộng đầu tư của Nhà nước và khai thác lợi thế lao động giá rẻ. Nhờ đó, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7%/năm trong giai đoạn 1990-2010 và chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình từ năm 2008.Tuy nhiên, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần suy giảm hiệu quả và bộc lộ những giới hạn khách quan của giai đoạn phát triển mới. Hiệu quả sử dụng vốn có xu hướng giảm khi hệ số ICOR tăng từ khoảng 4 lần lên trên 6 lần, thậm chí có giai đoạn vượt 8 lần; nghĩa là nền kinh tế phải bỏ ra nhiều vốn hơn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng. Trong khi đó, đóng góp của TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2001-2010 chỉ khoảng 10%, cho thấy tăng trưởng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào vốn và lao động.Bên cạnh đó, khu vực FDI đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam; tuy nhiên, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước và lan tỏa công nghệ còn chưa tương xứng với tiềm năng. Năng lực công nghệ nội sinh, hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và khả năng tham gia vào các khâu có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Đồng thời, lợi thế lao động giá rẻ đang giảm dần khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số, còn dư địa mở rộng đầu tư ngày càng thu hẹp. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực cũ, nền kinh tế sẽ khó duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và đối mặt với nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Đây chính là lý do Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.Phóng viên: Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam xác định chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Ông có thể nói rõ hơn về các động lực tăng trưởng của mô hình mới thay thế mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động giá rẻ?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Xét dưới góc độ kinh tế học, bản chất của mô hình tăng trưởng mới là chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Thành công của mô hình tăng trưởng mới sẽ được phản ánh tập trung thông qua sự gia tăng của TFP. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn, lao động, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.Nếu mô hình tăng trưởng trước đây hướng tới mở rộng quy mô nguồn lực thì mô hình mới hướng tới tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực thông qua tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Động lực trung tâm của mô hình này là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khoa học công nghệ tạo ra tri thức và công nghệ mới; đổi mới sáng tạo chuyển các tri thức đó thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới; còn chuyển đổi số giúp lan tỏa nhanh hơn các thành tựu công nghệ vào toàn bộ nền kinh tế. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực sản xuất mới; trí tuệ nhân tạo đang trở thành lực lượng sản xuất mới; còn đổi mới sáng tạo đang trở thành phương thức chủ yếu để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định trong việc hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ. Cùng với đó là các dòng vốn chất lượng cao gắn với nghiên cứu phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước.Mục tiêu của mô hình tăng trưởng mới không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn mà là nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Đây chính là nền tảng để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Phóng viên: Theo ông, làm thế nào để Việt Nam có thể tận dụng hiệu quả các động lực tăng trưởng mới để Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030? Việt Nam có thể học được những bài học kinh nghiệm gì từ các quốc gia châu Á chuyển đổi nền kinh tế thành công, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và gia nhập vào nhóm quốc gia phát triển?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Để khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp trọng tâm.Thứ nhất, tiếp tục đột phá về thể chế, trong nền kinh tế tri thức, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà còn là một nguồn lực phát triển. Cần xây dựng khung pháp lý thuận lợi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.Thứ hai, ưu tiên nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những lĩnh vực trực tiếp tạo ra năng suất mới và nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng.Thứ ba, chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D), các ngành bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ xanh và các dự án có khả năng liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước.Thứ tư, phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, hình thành các doanh nghiệp có năng lực làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, công nghệ lõi và xây dựng thương hiệu trong chuỗi giá trị toàn cầu.Mặc dù có những con đường phát triển khác nhau, nhưng các nền kinh tế thành công ở châu Á đều có một điểm chung là chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên huy động nguồn lực sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo. Hàn Quốc thành công nhờ đầu tư mạnh cho R&D và phát triển các tập đoàn công nghệ toàn cầu; Đài Loan (Trung Quốc) lựa chọn đúng các ngành công nghệ mũi nhọn để tập trung nguồn lực phát triển; Singapore xây dựng thể chế minh bạch, môi trường kinh doanh thuận lợi và nguồn nhân lực chất lượng cao; Israel phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới; còn Trung Quốc đang chuyển mạnh từ “Made in China” sang “Created in China”, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, xe điện và kinh tế số.Đối với Việt Nam, bài học quan trọng nhất là phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp sang từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu, thiết kế và thương hiệu.Xét đến cùng, bản chất của đổi mới mô hình tăng trưởng là nâng cao đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây cũng chính là con đường để tạo ra năng suất mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, duy trì tăng trưởng cao, bền vững trong những thập niên tới và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Nguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn

Đoàn Kiểm tra của Ban chính sách, chiến lược và dữ liệu thống kê làm việc với Thống kê tỉnh
  •   24/06/2026 18:26

Từ ngày 22-23/6/2026, Đoàn Kiểm tra của Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê, Cục Thống kê làm việc tại Thống kê tỉnh Đắk Lắk nhằm kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện công tác thống kê trên địa bàn và lấy ý kiến phục vụ xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã. Theo chương trình làm việc, sáng ngày 22/6, Đoàn đã tổ chức Hội thảo khảo sát nhu cầu thông tin thống kê phục vụ xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã. Tham dự hội thảo có lãnh đạo, công chức Thống kê tỉnh cùng đại diện các sở, ban, ngành và UBND xã, phường liên quan. Tại hội thảo, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận về nhu cầu khai thác, sử dụng thông tin thống kê trong công tác quản lý, điều hành và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đồng thời góp ý đối với dự thảo hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã. Toàn cảnh buổi Hội thảo Chiều cùng ngày, Đoàn tiến hành kiểm tra công tác phương pháp, chế độ thống kê; tình hình thực hiện hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh, cấp xã và công tác bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Qua kiểm tra, Đoàn đã ghi nhận những kết quả đạt được trong công tác tổ chức thực hiện các cuộc điều tra thống kê, thu thập, tổng hợp và phổ biến thông tin thống kê, đồng thời trao đổi, hướng dẫn một số nội dung chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thống kê tại địa phương.Buổi làm việc với Thống kê tỉnh Ngày 23/6, Đoàn đã làm việc trực tiếp tại UBND xã Krông Bông để khảo sát nhu cầu thông tin thống kê cấp xã và lấy ý kiến đối với dự thảo hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã. Qua khảo sát, Đoàn đã thu thập thêm các ý kiến thực tiễn từ cơ sở nhằm hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn mới. Buổi làm việc với UBND xã Krông Bông Chiều ngày 23/6, Đoàn làm việc với Thống kê tỉnh để thông báo một số kết quả khảo sát, kiểm tra chủ yếu và kết luận đợt kiểm tra. Đoàn đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự phối hợp chặt chẽ của đơn vị trong quá trình triển khai các nhiệm vụ thống kê, đồng thời đề nghị tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng dữ liệu thống kê và bảo đảm an toàn thông tin trong hoạt động chuyên môn. Chương trình làm việc tại Đắk Lắk là một trong những hoạt động quan trọng nhằm đánh giá thực trạng công tác thống kê tại địa phương, đồng thời thu thập thông tin phục vụ hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã, góp phần nâng cao chất lượng thông tin thống kê phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế - xã hội./. Nguồn: Phòng Thống kê Tổng hợp

Hội thảo xin ý kiến Dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thông kê cấp tỉnh, cấp xã
  •   23/06/2026 19:47

Sáng ngày 22/6/2026, tại tỉnh Đắk Lắk, Thống kê tỉnh tổ chức Hội thảo xin ý kiến Dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã. Đồng chí Dương Thị Kim Nhung, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê, Cục Thống kê, đồng chí chí Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê tỉnh đồng chủ trì và chỉ đạo hội nghị. Tham dự Hội nghị có đồng chí Nguyễn Quang Phước, đồng chí Cao Thanh Sơn, Phó Trưởng Thống kê tỉnh; đoàn công tác của Cục Thống kê; đại diện lãnh đạo các Sở ban ngành trên địa bàn tỉnh; Lãnh đạo UBND phường Buôn Ma Thuột, UBND xã Krông Ana; lãnh đạo, quản lý và toàn thể công chức văn phòng Thống kê tỉnh; Lãnh đao TKCS Buôn Ma Thuột với tổng số người tham dự là 39 người. Đồng chí Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu và thông qua Báo cáo công tác tham mưu, tổ chức Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã tại địa phương từ khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Hồ Ngọc Quang nhấn mạnh, việc xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm nguồn thông tin thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời, phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời khẳng định, hội thảo là diễn đàn để các cơ quan quản lý nhà nước, các sở, ngành và địa phương cùng trao đổi, đóng góp ý kiến nhằm xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi cao và đáp ứng yêu cầu quản lý trong giai đoạn mới. Tại hội thảo, đồng chí Hồ Ngọc Quang đã trình bày báo cáo về công tác tham mưu, tổ chức, chỉ đạo và phân công thực hiện Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã trên địa bàn tỉnh kể từ khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, Thống kê tỉnh đã chủ động tham mưu triển khai thực hiện hệ thống chỉ tiêu theo các quy định hiện hành; tích cực tham gia góp ý Dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã năm 2025 và Dự thảo Thông tư quy định Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã năm 2026; đồng thời tham mưu UBND tỉnh sử dụng hai bộ chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội phục vụ xây dựng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và giao 09 chỉ tiêu tăng trưởng cho các xã, phường làm cơ sở theo dõi, đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Báo cáo cũng cho thấy, trong thời gian qua, Thống kê tỉnh đã tăng cường phối hợp với các sở, ngành trong khai thác dữ liệu hành chính phục vụ công tác thống kê. Trong tháng 4 và tháng 5/2026, Thống kê tỉnh đã ký kết Quy chế phối hợp trao đổi, cung cấp và chia sẻ thông tin thống kê với Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Y tế và Sở Giáo dục và Đào tạo; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các quy chế phối hợp với các sở, ngành còn lại theo chỉ đạo của UBND tỉnh. Việc ký kết các quy chế phối hợp góp phần nâng cao chất lượng nguồn thông tin đầu vào, giảm trùng lặp trong thu thập số liệu và thúc đẩy khai thác hiệu quả dữ liệu hành chính phục vụ biên soạn các chỉ tiêu thống kê.    Toàn thể Hội thảo Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo cũng tập trung về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Hệ thống chỉ tiêu thống kê sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc thay đổi đầu mối tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và địa giới hành chính đã ảnh hưởng đến tính liên tục của chuỗi số liệu thống kê; một số chỉ tiêu theo hệ thống hiện hành không còn phù hợp với mô hình tổ chức mới; việc chia sẻ dữ liệu hành chính giữa một số cơ quan vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để bảo đảm tính kịp thời và đầy đủ của thông tin thống kê. Tiếp đó, bà Dương Thị Kim Nhung, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê đã trình bày những nội dung cơ bản của Dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã; giới thiệu các điểm mới, nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu, phương pháp tính, nguồn thông tin và định hướng tổ chức thực hiện trong thời gian tới.Đồng chí Dương Thị Kim Nhung, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê trình bày Dự thảo Hệ Thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã Theo Dự thảo quy định về Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã thì danh mục hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh có 183 chỉ tiêu liên quan đến đất đai, dân số, lao động, việc làm, doanh nghiệp, cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp… Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã gồm 55 chỉ tiêu thuộc các lĩnh vực đất đai, dân số, kinh tế, xã hội, môi trường… Đồng chí Hà Đức Hậu, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội thảo luận đóng góp ý kiến Trong phần thảo luận, đại diện các sở, ngành và địa phương đã tích cực đóng góp 12 ý kiến đối với dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã, trong đó tập trung các chỉ tiêu tổng giá trị sản phẩm, dân số; xây dựng, dịch vụ, du lịch, thuế, ngân hàng, bảo hiểm xã hội… cách thức thu thập thông tin, tính toán số liệu… ; đồng thời đề nghị cơ quan Thống kê tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị bảo đảm chính xác, hiệu quả.Đồng chí Nguyễn Trọng Dũng, Trưởng phòng Nông nghiệp và Xã hội thảo luận đóng góp ý kiến Phát biểu kết luận hội thảo, Trưởng đoàn công tác của Cục Thống kê ghi nhận và đánh giá cao tinh thần trách nhiệm cùng những ý kiến đóng góp thiết thực của các đại biểu. Các ý kiến sẽ được tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu để tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành và đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Hội thảo diễn ra trong không khí nghiêm túc, trách nhiệm và cởi mở, góp phần tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thống kê với các sở, ngành và địa phương trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đồng bộ, hiện đại, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu chuyển đổi số của ngành Thống kê./.

Lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh gặp mặt, trao đổi với Thống kê tỉnh về một số động lực tăng trưởng kinh tế và mục tiêu tăng trưởng hai con số
  •   02/06/2026 15:56

Sáng ngày 02/6/2026, Lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Đắk Lắk đã có buổi gặp mặt và trao đổi một số nội dung với Thống kê tỉnh Đắk Lắk nhằm đánh giá, dự báo tình hình tăng trưởng kinh tế trên địa bàn, rà soát các động lực tăng trưởng của từng khu vực kinh tế và thảo luận các giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong thời gian tới. Tham dự buổi gặp mặt có ông Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, ông Đỗ Hữu Huy, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND tỉnh; ông Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê tỉnh; ông Nguyễn Quang Phước, ông Cao Thanh Sơn Phó Trưởng Thống kê tỉnh; ông Võ Trường Sơn, Trưởng phòng Tổ chức – Hành chính; ông Nguyễn Trọng Dũng, Trưởng phòng Thống kê Nông nghiệp và Xã hội; ông Lê Đức Bài, Trưởng phòng Thống kê Dịch vụ và Giá; ông Võ Đăng Khoa, quản lý phòng Công nghiệp và Xây dựng. Quang cảnh buổi gặp mặt, trao đổi Tại buổi gặp, lãnh đạo Thống kê tỉnh đã báo cáo kết quả đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội và những yếu tố tác động đến tăng trưởng GRDP của tỉnh. Theo đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò là nền tảng quan trọng của nền kinh tế Đắk Lắk. Tỉnh có lợi thế về diện tích đất sản xuất lớn, khí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, cao su và cây ăn quả. Những năm gần đây, giá nhiều mặt hàng nông sản chủ lực duy trì ở mức cao, đặc biệt là cà phê và sầu riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và nâng cao thu nhập của người dân. Tuy nhiên, khu vực nông nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như biến đổi khí hậu, hạn hán cục bộ, thời tiết cực đoan, chi phí vật tư đầu vào tăng cao và sự phụ thuộc lớn vào biến động của thị trường xuất khẩu. Quy mô sản xuất còn phân tán, liên kết chuỗi giá trị chưa thực sự bền vững, ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng ổn định trong dài hạn. Đối với khu vực công nghiệp và xây dựng, đây được xác định là một trong những động lực quan trọng về tăng trưởng kinh tế trong những năm tới. Tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông sản, năng lượng tái tạo và vật liệu xây dựng. Nhiều dự án đầu tư đang được thu hút và triển khai, cùng với việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và các khu, cụm công nghiệp đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng của khu vực này. Bên cạnh những thuận lợi, khu vực công nghiệp - xây dựng vẫn gặp một số khó khăn như quy mô công nghiệp còn nhỏ, số lượng doanh nghiệp chế biến sâu chưa nhiều, hạ tầng một số khu công nghiệp chưa đồng bộ, công tác giải phóng mặt bằng ở một số dự án còn chậm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp địa phương còn hạn chế, trong khi việc thu hút các dự án đầu tư quy mô lớn chưa có bước đột phá. Đối với khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, tài chính, ngân hàng, du lịch và các dịch vụ tiêu dùng tiếp tục duy trì đà phục hồi và tăng trưởng tích cực. Sức mua của người dân tăng, hoạt động lưu thông hàng hóa diễn ra sôi động. Đắk Lắk có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, văn hóa và du lịch cộng đồng gắn với bản sắc Tây Nguyên, đặc biệt sau khi sáp nhập, phường Buôn Ma Thuột và phường Tuy Hòa từng bước khẳng định vai trò trung tâm tại 2 cực của tỉnh và tiến tới là trung tâm của vùng. Tỉnh đang có định hướng kết hợp độc đáo giữa Lễ hội Sầu riêng và các tuần lễ ẩm thực Cá ngừ đại dương chính là "thỏi nam châm" mới, tạo bước ngoặt thu hút khách du lịch đến với Đắk Lắk. Sự giao thoa văn hóa - ẩm thực mang tính đột phá này vừa phát huy tối đa lợi thế của thủ phủ nông sản bản địa, vừa khơi gợi sự tò mò mạnh mẽ cho du khách thông qua trải nghiệm hương vị "Biển bạc – Rừng xanh" độc nhất vô nhị giữa lòng cao nguyên. Đây không chỉ là đòn bẩy kích cầu chuỗi dịch vụ, thương mại và kinh tế đêm của tỉnh, mà còn định vị Đắk Lắk thành một điểm đến năng động, giàu bản sắc và đầy bất ngờ trên bản đồ du lịch hành trình di sản Tây Nguyên. Tuy nhiên, dịch vụ của tỉnh vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, nhất là trong lĩnh vực du lịch chất lượng cao và logistics. Hạ tầng du lịch chưa đồng bộ, sản phẩm du lịch còn thiếu tính đa dạng, thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách còn thấp. Một số ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao phát triển chưa tương xứng với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Qua buổi gặp và trao đổi, lãnh đạo tỉnh ghi nhận và đánh giá cao vai trò của ngành Thống kê trong công tác thu thập, tổng hợp, phân tích và dự báo số liệu kinh tế - xã hội. Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh rằng việc phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đòi hỏi phải có hệ thống thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, khách quan và kịp thời để phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành. Lãnh đạo tỉnh yêu cầu Thống kê tỉnh tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành và địa phương trong việc rà soát các chỉ tiêu tăng trưởng, đánh giá đúng thực chất các động lực phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực; tăng cường công tác phân tích, dự báo và cảnh báo sớm những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, cần tập trung đánh giá kỹ các dư địa tăng trưởng của ba khu vực kinh tế, đề xuất các giải pháp, kiến nghị khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra. Đây là dịp để lãnh đạo tỉnh và ngành Thống kê thống nhất các nội dung trọng tâm trong công tác đánh giá, theo dõi và dự báo tăng trưởng, tạo cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các kịch bản điều hành phù hợp, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và đạt mức tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới./. Chùm ảnh buổi gặp mặt và trao đổi giữa lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh với Thống kê tỉnh.Nguồn: Phòng Thống kê Tổng hợp

Văn phòng UBND tỉnh làm việc với Thống kê tỉnh về kịch bản tăng trưởng 02 con số năm 2026
  •   28/05/2026 09:42

Sáng ngày 27/5/2026, tại Thống kê tỉnh Đắk Lắk, Văn phòng UBND tỉnh đã có buổi làm việc với Thống kê tỉnh nhằm trao đổi, rà soát và xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế 02 con số của tỉnh năm 2026; ông Ngô Đình Thiện, Chánh văn phòng UBND tỉnh và ông Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê tỉnh đồng chủ trì buổi làm việc. Tham dự buổi làm việc còn có ông Dương Bá Toàn, Phó Chánh văn phòng phụ trách công tác thống kê, ông Nguyễn Quang Phước, Phó Trưởng Thông kê tỉnh; ông Võ Trưởng Sơn, Trưởng phòng TC-HC Thống kê tỉnh cùng tập thể lãnh đạo quản lý các phòng nghiệp vụ thuộc Thống kê tỉnh. Quang cảnh buổi làm việc Tại buổi làm việc, ông Hồ Ngọc Quang, đại diện ngành Thống kê đã báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội, kết quả thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng của tỉnh thời gian qua; đồng thời phân tích các động lực tăng trưởng, các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế (GRDP) của tỉnh năm 2026. Trên cơ sở số liệu thống kê, dự báo xu hướng phát triển của từng ngành, lĩnh vực, Thống kê tỉnh đã đề xuất các giải pháp, kiến nghị và đánh giá khả năng thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Phát biểu tại buổi làm việc, Ông Ngô Đình Thiện, Chánh văn phòng UBND tỉnh đề nghị Thống kê tỉnh tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, địa phương cập nhật đầy đủ số liệu, hoàn thiện các kịch bản tăng trưởng bảo đảm sát với tình hình thực tiễn, có tính khả thi cao và bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời, tăng cường công tác phân tích, dự báo để kịp thời tham mưu UBND tỉnh các giải pháp điều hành phù hợp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng 02 con số năm 2026. Các đại biểu đã tập trung thảo luận về các động lực tăng trưởng của các khu vực kinh tế từng, tháng, quý, năm 2026, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng, thương mại - dịch vụ; đồng thời phân tích những khó khăn, thách thức có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của tỉnh trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các ý kiến cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, phát triển kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế địa phương. Thay mặt lãnh đạo UBND tỉnh, ông Ngô Đình Thiện, Chánh Văn phòng UBND tỉnh ghi nhận và đánh giá cao sự chủ động của Thống kê tỉnh trong công tác thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu và tham mưu xây dựng các kịch bản tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Đồng thời nhấn mạnh, trong bối cảnh tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026, công tác thống kê, dự báo phải bảo đảm tính chính xác, kịp thời, phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế, làm cơ sở quan trọng cho công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh. Kết luận buổi làm việc, các bên thống nhất tiếp tục hoàn thiện kịch bản tăng trưởng GRDP năm 2026; rà soát các chỉ tiêu kinh tế trọng yếu, xác định rõ động lực tăng trưởng của từng ngành, lĩnh vực. Thống kê tỉnh phối hợp với các đơn vị liên quan hoàn thiện báo cáo tiến độ thực hiện các động lực tăng trưởng kinh tế hàng tháng, quý, năm tham mưu UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo; đồng thời định kỳ hằng quý báo cáo tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh theo quy định của Chính phủ./. Nguồn: Phòng Thống kê Tổng hợp