HỘI THAO CÁC THỐNG KÊ TỈNH CỤM THI ĐUA SỐ 7 LẦN THỨ I, NĂM 2026 THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP
- 25/08/2026 19:06
Trong hai ngày 22 - 23/8/2026, tại Nhà Văn hóa Lao động tỉnh Đắk Lắk, Cụm thi đua số 7 tổ chức Hội thao các Thống kê tỉnh lần thứ I, năm 2026, do Thống kê tỉnh Đắk Lắk - Cụm trưởng Cụm thi đua số 7 đăng cai tổ chức. Hội thao là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026); đồng thời tạo sân chơi lành mạnh, tăng cường giao lưu, đoàn kết, trao đổi kinh nghiệm và đẩy mạnh phong trào rèn luyện thể dục, thể thao trong đội ngũ công chức, người lao động các đơn vị thuộc Cụm thi đua số 7. Hội thao các Thống kê tỉnh Cụm thi đua số 7 lần thứ I, năm 2026 Tham dự Hội thao có 09 đoàn với 139 vận động viên đến từ Thống kê các tỉnh: Đắk Lắk, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Gia Lai, Lâm Đồng và Khánh Hòa. Các vận động viên tranh tài ở 17 nội dung thuộc 04 môn thi đấu gồm cầu lông, bóng bàn, pickleball và nhảy bao bố. Các đoàn vận động viên tham dự Lễ khai mạc Hội thao Lễ khai mạc được tổ chức trang trọng vào sáng ngày 22/8/2026 với sự tham dự của đại diện lãnh đạo Cục Thống kê, lãnh đạo Thống kê 09 tỉnh trong Cụm cùng toàn thể vận động viên. Tại Lễ khai mạc, các đoàn đã thực hiện nghi thức diễu hành; đại diện vận động viên và trọng tài tuyên thệ, thể hiện quyết tâm thi đấu trung thực, đoàn kết và cao thượng. Đồng chí Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê tỉnh Đắk Lắk đại diện đơn vị đăng cai phát biểu khai mạc Hội thao Ngay sau Lễ khai mạc, các nội dung thi đấu diễn ra sôi nổi và hấp dẫn. Với sự chuẩn bị nghiêm túc cùng tinh thần thi đấu hết mình, các vận động viên đã mang đến nhiều trận đấu quyết liệt, những pha bóng đẹp và nhiều khoảnh khắc đáng nhớ. Bên cạnh các môn cầu lông, bóng bàn và pickleball đòi hỏi kỹ thuật, thể lực, nội dung nhảy bao bố đồng đội đã tạo nên không khí vui tươi, sôi động, thu hút sự cổ vũ nhiệt tình của các đoàn. Các vận động viên thi đấu môn cầu lông Trong 02 ngày, Tổ Trọng tài đã điều hành 110 trận đấu, gồm 37 trận cầu lông, 34 trận bóng bàn và 39 trận pickleball. Công tác tổ chức và điều hành thi đấu được thực hiện đúng Điều lệ, bảo đảm khách quan, công bằng, an toàn; không có trận đấu nào phải hoãn hoặc tổ chức lại và không phát sinh khiếu nại về chuyên môn. Các cổ động viên cổ vũ nhiệt tình Kết thúc Hội thao, Ban Tổ chức đã trao 63 giải, gồm 17 giải Nhất, 17 giải Nhì và 29 giải Ba cho các đôi, đội đạt thành tích xuất sắc ở 17 nội dung thi đấu. Đáng chú ý, Thống kê tỉnh Đắk Lắk - đơn vị đăng cai Hội thao - đã thi đấu tích cực và đạt 02 Huy chương Vàng, 05 Huy chương Bạc, 06 Huy chương Đồng, với tổng số 95 điểm, giành giải Nhì toàn đoàn. Trong đó, đoàn Đắk Lắk giành giải Nhất ở nội dung Pickleball đôi lãnh đạo và Nhảy bao bố đồng đội. Trao giải cho các vận động viên đạt thành tích tại Hội thao Kết quả chung cuộc, Thống kê tỉnh Lâm Đồng giành giải Nhất toàn đoàn với 108 điểm; Thống kê tỉnh Đắk Lắk giành giải Nhì toàn đoàn với 95 điểm; Thống kê tỉnh Nghệ An giành giải Ba toàn đoàn với 65 điểm. Hai giải Khuyến khích thuộc về Thống kê tỉnh Gia Lai với 54 điểm và Thống kê tỉnh Thanh Hóa với 51 điểm. Ban Tổ chức trao giải Nhất, Nhì, Ba và Khuyến khích toàn đoàn Không chỉ là nơi tranh tài thể thao, Hội thao còn thực sự trở thành ngày hội giao lưu của công chức, người lao động trong Cụm thi đua số 7. Bên lề các nội dung thi đấu, các đoàn có dịp gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm công tác; đặc biệt, Đêm Gala giao lưu với 12 tiết mục văn nghệ do các đoàn chuẩn bị đã góp phần tạo không khí vui tươi, gần gũi, thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết giữa các đơn vị. Các đại biểu và vận động viên chụp ảnh lưu niệm Hội thao các Thống kê tỉnh Cụm thi đua số 7 lần thứ I, năm 2026 đã khép lại trong không khí vui tươi, đoàn kết và phấn khởi, bảo đảm an toàn, đúng Điều lệ và thành công tốt đẹp. Thành công của Hội thao không chỉ được thể hiện qua những thành tích thi đấu mà còn góp phần lan tỏa phong trào rèn luyện thể dục, thể thao, xây dựng môi trường làm việc đoàn kết, năng động; tạo động lực để công chức, người lao động các đơn vị trong Cụm tiếp tục nỗ lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao./. Chùm ảnh tại Hội thao Nguồn: Phòng Thống kê Tổng hợp
Hội nghị tập huấn Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn Hệ số chi phí trung gian năm 2026
- 16/08/2026 20:37
Trong tháng 8/2026, Thống kê tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị tập huấn Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026. Hội nghị được tổ chức tại 02 địa điểm: Lớp 01 tổ chức tại Hội trường Thống kê tỉnh (từ ngày 4-7/8/2026); Lớp 02 tổ chức tại Cơ sở 2 của Thống kê tỉnh (từ ngày 10-13/8/2026). Đồng chí Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì Hội nghị. Tham dự hội nghị tập huấn tại hai lớp có các đồng chí lãnh đạo Thống kê tỉnh, lãnh đạo, quản lý và toàn thể công chức các phòng nghiệp vụ thuộc Thống kê tỉnh, đại diện lãnh đạo và công chức của 15 đơn vị Thống kê cơ sở, điều tra viên. Tổng số đại biểu tham dự ở 2 lớp là 196 người.Đồng chí Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì và phát biểu chỉ đạo Hội nghị Phát biểu khai mạc hội nghị tại hai lớp, đồng chí Trưởng Thống kê cho biết: Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành (IO) có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực và các thành phần của nền kinh tế. Thông qua kết quả điều tra, các thông tin về quá trình sản xuất, sử dụng sản phẩm, chi phí trung gian và tiêu dùng cuối cùng được thu thập, tổng hợp, phục vụ việc xây dựng bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian. Trưởng Thống kê đề nghị các đại biểu tham dự với tinh thần trách nhiệm cao, tập trung lắng nghe, chủ động trao đổi, thảo luận, chia sẻ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời yêu cầu các đơn vị nghiêm túc triển khai thu thập thông tin đúng phương án điều tra, đặc biệt đối với các phiếu điều tra doanh nghiệp. Đối với các giảng viên, cần truyền đạt đầy đủ, chính xác nội dung chuyên môn; hướng dẫn chi tiết việc khai báo trên Webform; trao đổi các tình huống thực tiễn có thể phát sinh và giải đáp kịp thời các vướng mắc để các đại biểu nắm vững phương pháp thực hiện, bảo đảm công tác điều tra doanh nghiệp được triển khai thuận lợi, đồng bộ và chính xác.Toàn cảnh Hội nghị Đồng chí Trưởng Thống kê tỉnh cũng nhấn mạnh, chất lượng thông tin thu thập được có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả của toàn bộ cuộc điều tra. Vì vậy, mỗi công chức, điều tra viên cần nắm chắc nội dung phương án, hiểu rõ yêu cầu của từng loại phiếu, thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ và nâng cao tinh thần trách nhiệm trong quá trình tiếp cận, hướng dẫn đơn vị cung cấp thông tin. Sau khi đồng chí Hồ Ngọc Quang trình bày Phương án điều tra IO năm 2026, các giảng viên đã hướng dẫn cách ghi phiếu thu thập thông tin đối với phiếu 01/IO-DN: Phiếu thu thập thông tin về doanh nghiệp không thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; Phiếu 02/IO-DN: Phiếu thu thập thông tin đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm; Phiếu 03/IO-HCSN: Phiếu thu thập thông tin về đơn vị hành chính, sự nghiệp, hiệp hội; Phiếu 04/IO-CT: Phiếu thu thập thông tin về cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản; Phiếu 05/IO-NLTS: Phiếu thu thập thông tin về hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản. Phiếu 06/IO-TDCC: Phiếu thu thập thông tin về chi tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư’ Phiếu 07/IO-VVL: Phiếu thu thập thông tin về đơn vị vô vị lợi. Bên cạnh đó, hội nghị tập trung làm rõ các điểm mới về xác định mã ngành IO tương ứng với các loại chi phí của đơn vị điều tra; các giảng viên cũng hướng dẫn sử dụng Trang web điều tra phiếu IO Doanh nghiệp; Thực hành và thao tác trên thiết bị CAPI điều tra IO hộ cá thể, nông lâm nghiệp thủy sản, hộ tiêu dùng cuối cùng và các tổ chức vô vị lợi.Đồng chí Lê Thị Tố Loan, Trưởng phòng Thống kê Tổng hợp hướng dẫn cài đặt Capi phiếu IO 06,07, Điểm nổi bật của chương trình tập huấn là phương pháp “học đi đôi với hành”. Sau khi được giới thiệu nội dung và hướng dẫn cách ghi phiếu, các đại biểu trực tiếp thực hành, thao tác trên phần mềm, cùng trao đổi và xử lý các tình huống có thể phát sinh trong thực tế. Qua đó, những nội dung chuyên môn được cụ thể hóa, giúp đại biểu dễ tiếp cận và chủ động hơn khi triển khai nhiệm vụ tại cơ sở. Với tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm và cầu thị, các đại biểu đã tích cực tham gia trao đổi, đặt câu hỏi và thảo luận về những vấn đề còn khó khăn trong quá trình thu thập thông tin. Nhiều tình huống nghiệp vụ thực tế được đưa ra để cùng phân tích, làm rõ, qua đó góp phần thống nhất cách xử lý và nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Hội nghị tập huấn không chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ công chức và điều tra viên mà còn góp phần tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của các đơn vị tham gia cuộc điều tra. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nhân lực, nghiệp vụ và phương tiện hỗ trợ, Thống kê tỉnh Đắk Lắk quyết tâm triển khai Điều tra IO năm 2026 bảo đảm đúng phương án, đúng tiến độ, đầy đủ và chính xác thông tin, góp phần nâng cao chất lượng số liệu thống kê phục vụ công tác quản lý, điều hành và đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Phát biểu bế mạc hội nghị, Trưởng Thống kê yêu cầu các Thống kê cơ sở và điều tra viên triển khai điều tra đúng thời đúng phương án quy định, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo Kế hoạch mà Thống kê tỉnh đã đề ra./. Nguồn: Phòng Thống kê Tổng hợp, Thống kê tỉnh
Điều tra Thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn Hệ số chi phí trung gian năm 2026
- 15/08/2026 07:05
Từ ngày 15/8-30/9/2026, Thống kê tỉnh Đắk Lắk tổ chức thực hiện kế hoạch Điều tra IO năm 2026. Công tác thu thập thông tin, lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh đầy đủ, chính xác bức tranh của nền kinh tế.Với 4 mục tiêu chính: lập Bảng cân đối liên ngành năm 2025 của Việt Nam theo 181 ngành sản phẩm; biên soạn hệ số chi phí trung gian và các hệ số tài khoản quốc gia; phân tích, đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh và sự thay đổi của cơ cấu kinh tế; tính toán các chỉ tiêu thống kê quốc gia, ASEAN và phát triển bền vững Việt Nam, cuộc Điều tra IO năm 2026 là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm và đồng hành của các đơn vị điều tra, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có liên quan.Mỗi thông tin cung cấp đầy đủ, trung thực, chính xác và kịp thời sẽ góp phần tạo nên nguồn dữ liệu thống kê tin cậy, phục vụ công tác quản lý, hoạch định chính sách, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Thông tin chính xác – Hợp tác đầy đủ – Vì bức tranh kinh tế toàn diện!Hãy tích cực phối hợp, cung cấp thông tin đúng thời gian, đúng yêu cầu và cùng chung tay góp phần vào thành công của Điều tra IO năm 2026
Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
- 11/08/2026 13:47
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.Ngày 20/5/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã có buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế, các ban, bộ, ngành Trung ương về phát triển ngành y học cổ truyền Việt Nam. Kết luận buổi làm việc được Văn phòng Trung ương Đảng thông báo tại Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026.Thông báo khẳng định Việt Nam có nền y học cổ truyền đặc sắc, được kết tinh từ tri thức, văn hóa và kinh nghiệm của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử. Từ tư tưởng “Nam dược trị nam nhân” của Đại danh y Tuệ Tĩnh đến di sản y học của Hải Thượng Lãn Ông, cha ông ta đã để lại một kho tàng y học cổ truyền quý giá. Y học cổ truyền không chỉ có vai trò chữa bệnh mà còn coi trọng dưỡng sinh, điều hòa khí huyết, cân bằng âm dương và nâng cao khả năng tự phục hồi của cơ thể.Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về chăm sóc sức khỏe Nhân dân, trong đó đề cao việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Hệ thống khám, chữa bệnh y học cổ truyền tiếp tục được củng cố; nhiều bài thuốc, phương pháp điều trị được phát huy; công tác phát triển dược liệu, đào tạo nhân lực và kết hợp Đông - Tây y có bước tiến bộ. Tuy nhiên, tiềm năng của y học cổ truyền vẫn chưa được khai thác đầy đủ, chưa tạo được hệ sinh thái phát triển, thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia tương xứng.Thông báo nhấn mạnh, y học cổ truyền không chỉ liên quan đến bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.Để thực hiện mục tiêu trên, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp được yêu cầu tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:Một là, đặt phát triển y học cổ truyền trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước giai đoạn mới. Chuyển mạnh tư duy từ “quản lý chuyên môn y tế” sang “phát triển hệ sinh thái y học cổ truyền quốc gia”, gắn với phát triển kinh tế sức khỏe và sức mạnh mềm quốc gia. Phát huy lợi thế về đa dạng sinh học, nguồn dược liệu, tri thức dân gian và văn hóa dưỡng sinh; nghiên cứu phát triển các trung tâm du lịch chăm sóc sức khỏe, khu dưỡng sinh, làng và vùng dược liệu gắn với sinh kế, giảm nghèo bền vững, du lịch sinh thái và bảo tồn văn hóa.Hai là, chuyển mạnh từ tư duy “chữa bệnh” sang “chăm sóc sức khỏe toàn diện”. Phát huy thế mạnh của y học cổ truyền trong phòng bệnh, dưỡng sinh, nâng cao thể trạng, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi, điều trị bệnh mạn tính và chăm sóc sức khỏe tinh thần. Chuẩn hóa các mô hình chăm sóc sức khỏe không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt tại xã, phường và khuyến khích lan tỏa những biện pháp chăm sóc sức khỏe hiệu quả không dùng thuốc.Ba là, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Khẩn trương số hóa kho tàng bài thuốc gia truyền, tri thức y học dân tộc; xây dựng và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về y học cổ truyền; tăng cường nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng, chuẩn hóa bài thuốc, vị thuốc và phương pháp điều trị. Đồng thời, hỗ trợ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu quốc gia cho các bài thuốc, sản phẩm có giá trị và củng cố các trung tâm y học cổ truyền mạnh tầm quốc gia, khu vực.Bốn là, phát triển công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế chiến lược quốc gia. Xây dựng đồng bộ chuỗi giá trị từ giống, vùng trồng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc đến chiết xuất, bào chế, sản xuất, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu. Quy hoạch vùng trồng dược liệu trọng điểm theo tiêu chuẩn GAP, đẩy mạnh chế biến sâu theo tiêu chuẩn GMP quốc tế, kiểm soát chất lượng, khắc phục tình trạng dược liệu giả, kém chất lượng và phụ thuộc nhập khẩu.Năm là, tạo đột phá trong phát triển mô hình y học tích hợp Đông - Tây y theo hướng y học thực chứng. Xây dựng các phác đồ điều trị tích hợp được chuẩn hóa trên cơ sở khoa học và thực tiễn lâm sàng; tăng cường nghiên cứu, kiểm chứng hiệu quả điều trị bằng bằng chứng khoa học và xây dựng đội ngũ thầy thuốc có khả năng kết hợp hài hòa y lý cổ truyền với thành tựu y học hiện đại.Sáu là, phát triển đồng bộ hệ sinh thái y dược cổ truyền và nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời giữ gìn y đức. Nhà nước giữ vai trò định hướng, hoàn thiện thể chế và kiểm soát chất lượng; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực của doanh nghiệp và khu vực tư nhân. Tăng cường quản lý hoạt động hành nghề, chất lượng dược liệu, thuốc và quảng cáo; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, trục lợi trên sức khỏe Nhân dân. Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ thầy thuốc vừa giỏi chuyên môn, am hiểu y học hiện đại, vừa giữ vững y đức, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Lương y phải như từ mẫu”.Bảy là, đẩy mạnh xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam, gắn với kinh tế sức khỏe, du lịch chữa bệnh, xuất khẩu sản phẩm và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.Tám là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về y học cổ truyền. Đảng ủy Bộ Y tế được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham mưu trình Chính phủ, Quốc hội; đồng thời xây dựng, trình Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, hoàn thành trong năm 2026; rà soát, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản chỉ đạo của Ban Bí thư về lĩnh vực y học cổ truyền.Việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trên nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị quý báu của y học cổ truyền, đồng thời đưa y học cổ truyền Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, khoa học, hội nhập, trở thành nguồn lực quan trọng trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân, phát triển kinh tế và quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam. Tổ Truyền thông và Thư viện, Văn phòng Cục Thống kê
Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam- Mở lối cho kỉ nguyên tăng trưởng mới
- 31/07/2026 19:32
Phóng viên: Thưa ông, trong bối cảnh thế giới đang bước vào kỷ nguyên số và cạnh tranh ngày càng gay gắt dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, những yêu cầu đòi hỏi cấp thiết và mang tính thời đại nào để Việt Nam đổi mới mô hình phát triển?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Trước hết, để làm rõ yêu cầu khách quan của việc đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, tôi muốn khẳng định Nghị quyết số 19-NQ/TW là quyết sách chiến lược nhằm tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 và tạo nền tảng cho tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2130.Nhìn lại kết quả sau 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế có quy mô GDP chỉ khoảng 8 tỷ USD vào năm 1986, đến năm 2025 đã vượt 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 130 USD lên trên 5.000 USD và chính thức gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao.Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và hiệu quả của mô hình phát triển dựa trên mở cửa, hội nhập quốc tế, huy động mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư, thu hút FDI và phát huy lợi thế lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, bối cảnh và yêu cầu phát triển đã thay đổi căn bản. Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số; dư địa mở rộng lao động và khai thác các lợi thế chi phí thấp ngày càng thu hẹp. Để duy trì tăng trưởng 2 con số trong dài hạn, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, nền kinh tế không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực truyền thống mà phải chuyển sang các động lực có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao hơn.Thực tiễn cũng cho thấy mô hình phát triển dựa chủ yếu vào vốn, lao động và lợi thế chi phí thấp đang giảm dần hiệu quả; chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp; năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế. Giai đoạn 2021-2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội vẫn duy trì khoảng 32% GDP, hệ số ICOR ở mức khoảng 6,4; năng suất lao động chỉ tăng bình quân 5,2%/năm, thấp hơn mục tiêu 6,5%/năm. Năng suất lao động của Việt Nam hiện mới bằng khoảng 11,6% của Singapore; 23% của Hàn Quốc; 24,4% của Nhật Bản và khoảng 59% của Thái Lan. Đồng thời, khu vực FDI đóng góp khoảng 20,5% GDP, nhưng chiếm tới 77% kim ngạch xuất khẩu; riêng ngành điện tử, tỷ lệ nội địa hóa mới đạt khoảng 10%, cho thấy năng lực công nghệ nội sinh và giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế.Trong khi đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những thay đổi mang tính thời đại. Sự phát triển đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và cạnh tranh giữa các quốc gia. Đây vừa là cơ hội để các nước bứt phá, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình phát triển nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tự chủ chiến lược và thích ứng với bối cảnh mới.Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan phải đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam. Nghị quyết của Trung ương lần này đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy phát triển đất nước, chuyển từ định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng sang hoàn thiện mô hình phát triển Việt Nam, lấy năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đồng thời, Nghị quyết cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV, tạo lập khung thống nhất về mô hình phát triển đất nước và kết nối các chủ trương, nghị quyết lớn của Đảng đã ban hành trong thời gian qua, tạo nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 và tầm nhìn phát triển đến năm 2130.Phóng viên: Thưa ông, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV và xác lập mô hình phát triển Việt Nam cho giai đoạn phát triển mới. Xin ông cho biết những điểm mới mang tính đột phá và ý nghĩa của mô hình phát triển này?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Theo tôi, điểm mới quan trọng nhất của Nghị quyết không chỉ là xác định các động lực tăng trưởng mới, mà là hình thành một tư duy phát triển toàn diện cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Nghị quyết đã cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV, tạo lập khung thống nhất về mô hình phát triển Việt Nam, đồng thời kết nối các chủ trương, nghị quyết lớn của Đảng thành một chỉnh thể thống nhất nhằm hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2130.Thứ nhất, xác lập mô hình phát triển Việt Nam với nội hàm toàn diện hơn. Nghị quyết xác định mô hình phát triển Việt Nam theo hướng tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người là trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể của phát triển. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, chuyển từ trọng tâm đổi mới mô hình tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế thì mô hình mới hướng tới phát triển đồng bộ các trụ cột kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng trưởng kinh tế vẫn là nhiệm vụ trung tâm nhưng không còn là mục tiêu duy nhất; mục tiêu cao hơn là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có năng lực cạnh tranh cao, phát triển nhanh và bền vững.Thứ hai, chuyển đổi căn bản động lực phát triển. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, lao động và lợi thế chi phí thấp thì mô hình mới lấy năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu. Đây là bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, trong đó nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trở thành mục tiêu xuyên suốt và là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng của mô hình phát triển mới. TFP không chỉ phản ánh tiến bộ công nghệ mà còn phản ánh chất lượng thể chế, hiệu quả quản trị quốc gia và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.Thứ ba, hình thành lực lượng sản xuất mới và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Nghị quyết xác định phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới, hiện đại; đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu của tăng trưởng; coi dữ liệu là tư liệu sản xuất mới và tài nguyên chiến lược; phát triển trí tuệ nhân tạo thành hạ tầng trí tuệ và lực lượng sản xuất chất lượng cao. Đồng thời, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.Thứ tư, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia. Đây là một trong những nội dung đột phá của Nghị quyết. Mô hình phát triển mới được vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, Nhân dân làm chủ, phát huy hài hòa vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội. Đồng thời, chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển, phối hợp liên thông, dựa trên dữ liệu, phản ứng chính sách và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển. Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở dữ liệu và công nghệ số, cùng với việc lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.Có thể khẳng định, mô hình phát triển Việt Nam theo Nghị quyết không chỉ đổi mới các động lực tăng trưởng mà còn đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia nhằm tạo lập năng lực phát triển mới, nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, qua đó hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Phóng viên: Vậy theo ông, đâu là động lực cốt lõi của mô hình phát triển mới?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Một trong những điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc của Nghị quyết là xác định phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới, hiện đại và đưa lực lượng sản xuất mới trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đây không chỉ là sự phát triển mới về tư duy phát triển, mà còn phản ánh bước chuyển căn bản từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động và tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao.Nếu trong nền kinh tế nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu; trong nền kinh tế công nghiệp, vốn và lao động là các yếu tố quyết định tăng trưởng; thì trong nền kinh tế số, dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất mới và tài nguyên chiến lược; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; chuyển đổi số là phương thức phát triển; còn trí tuệ nhân tạo được phát triển thành hạ tầng trí tuệ và lực lượng sản xuất chất lượng cao. Đây chính là sự thay đổi căn bản của các yếu tố tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.Điểm cốt lõi của lực lượng sản xuất mới là làm thay đổi cơ chế tạo ra tăng trưởng kinh tế. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu được tạo ra bằng việc huy động thêm vốn, lao động và tài nguyên thì trong mô hình phát triển mới, tăng trưởng ngày càng được quyết định bởi năng suất lao động, tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khoa học, công nghệ tạo ra tri thức mới; đổi mới sáng tạo chuyển hóa tri thức thành giá trị; chuyển đổi số đổi mới phương thức sản xuất và quản trị; dữ liệu và trí tuệ nhân tạo tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chính sự cộng hưởng của các yếu tố này làm gia tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), tạo động lực căn bản cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.Phóng viên: Mỗi mô hình phát triển đều cần một hệ quy chiếu để đánh giá hiệu quả. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển sang mô hình phát triển mới lấy khoa học, công nghệ là nền tảng phát triển; đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng, theo ông, đâu sẽ là “thước đo” để đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển đổi này?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Đổi mới mô hình phát triển không chỉ nhằm thay đổi cơ cấu ngành hay tăng đầu tư cho khoa học, công nghệ, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng.Xét dưới góc độ kinh tế học, như tôi nói ở trên, thước đo thành công của mô hình phát triển mới chính là sự gia tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). TFP phản ánh phần tăng trưởng được tạo ra bởi tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khác với tăng trưởng dựa vào mở rộng vốn và lao động, tăng trưởng dựa trên TFP giúp tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực, qua đó nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng phát triển.Vì vậy, thành công của mô hình phát triển mới không nên chỉ được đánh giá bằng quy mô đầu tư cho khoa học, công nghệ hay số lượng doanh nghiệp công nghệ, mà quan trọng hơn phải được đo bằng những kết quả thực chất của quá trình chuyển đổi như: đóng góp của TFP ngày càng cao; năng suất lao động tăng nhanh hơn; hệ số ICOR giảm; tỷ lệ nội địa hóa và mức độ làm chủ công nghệ được nâng lên; tỷ trọng giá trị gia tăng trong nước trong xuất khẩu lớn hơn; năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế tiếp tục được cải thiện.Nói cách khác, nếu trước đây, mục tiêu chủ yếu là mở rộng quy mô GDP thông qua gia tăng các yếu tố đầu vào, thì trong giai đoạn phát triển mới, mục tiêu quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng trên cơ sở đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Quá trình này được phản ánh bằng sự gia tăng đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế. Đây cũng là điều kiện quyết định để Việt Nam duy trì tăng trưởng 2 con số trong dài hạn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững.Phóng viên: Theo ông, đâu là những đột phá có ý nghĩa quyết định để hiện thực hóa thành công mô hình phát triển Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore, Israel và gần đây là Trung Quốc cho thấy, không có quốc gia nào trở thành nước phát triển chỉ bằng tích lũy vốn và mở rộng lao động. Điểm chung của các nền kinh tế thành công là đều tạo được bước đột phá về thể chế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển doanh nghiệp trong nước đủ năng lực làm chủ công nghệ; đồng thời xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Theo tôi, để hiện thực hóa mô hình phát triển mới, Việt Nam cần tập trung vào ba nhóm giải pháp đột phá có ý nghĩa quyết định.Thứ nhất, đột phá về thể chế và quản trị quốc gia. Trọng tâm là xây dựng thể chế thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển; tạo môi trường pháp lý vượt trội cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bảo vệ và khai thác hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển, quản trị dựa trên dữ liệu, kết quả và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.Thứ hai, đột phá về huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia. Cần ưu tiên đầu tư cho hạ tầng số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và các ngành công nghệ chiến lược; đồng thời đổi mới chính sách thu hút đầu tư theo hướng lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, gắn với chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Quan trọng hơn, phải chuyển từ tư duy phân bổ nguồn lực sang kiến tạo và phát huy hiệu quả nguồn lực, lấy hiệu quả và tác động phát triển làm thước đo trong huy động, phân bổ và sử dụng mọi nguồn lực của quốc gia.Thứ ba, đột phá về phát triển doanh nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Tập trung hình thành đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp đầu chuỗi, có năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ lõi, từng bước tham gia vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, dữ liệu, sở hữu trí tuệ và thương hiệu trong chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời phát triển hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.Ba nhóm giải pháp này có mối quan hệ hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau. Thể chế và quản trị quốc gia là khâu mở đường; nguồn lực là điều kiện bảo đảm; còn doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp chuyển hóa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.Có thể khẳng định, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển sang một mô hình phát triển mới để thực hiện khát vọng trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã xác lập định hướng chiến lược cho quá trình chuyển đổi đó, với trọng tâm là tạo lập năng lực phát triển mới trên nền tảng thể chế hiện đại, quản trị quốc gia tiên tiến, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và lực lượng sản xuất mới. Nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả, Nghị quyết sẽ tạo động lực mạnh mẽ để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ chiến lược, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.Nguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn/emagazine-doi-moi-mo-hinh-phat-trien-viet-nam-mo-loi-cho-ky-nguyen-tang-truong-moi-163323.html
Thông cáo báo chí tình hình Kinh tế - Xã hội 6 tháng đầu năm 2026
- 09/07/2026 11:24
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, sự điều hành quyết liệt của UBND tỉnh và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá. Sản xuất nông nghiệp phát triển, các sản phẩm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng tiếp tục phát huy lợi thế. Sản xuất công nghiệp phục hồi tích cực. Thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng. Công tác thu, chi ngân sách được điều hành chủ động, chặt chẽ. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước; tình hình thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc, có nhiều nhà đầu tư đến tìm hiểu đầu tư trên địa bàn tỉnh. Đầu tư công và phát triển kết cấu hạ tầng được tập trung chỉ đạo quyết liệt, nhất là công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án trọng điểm. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, triển khai hiệu quả. Công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền và sắp xếp tổ chức bộ máy được thực hiện đồng bộ. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau: I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh (giá so sánh 2020) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 79.499,8 tỷ đồng, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 20.024,2 tỷ đồng, tăng 5,98%, vượt KB 0,36 điểm phần trăm (KB tăng 5,62%), đóng góp 1,53 điểm tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng đạt 18.472,6 tỷ đồng, tăng 11,12%, thấp hơn KB 3,21 điểm phần trăm (KB tăng 14,33%), đóng góp 2,51 điểm; Khu vực Dịch vụ đạt 37.196,7 tỷ đồng, tăng 7,34%, thấp hơn KB 1,75 điểm phần trăm (KB tăng 9,09%), đóng góp lớn nhất với 3,45 điểm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 3.806,3 tỷ đồng, tăng 7,3%, vượt KB 1,8 điểm phần trăm (KB tăng 5,5%), đóng góp 0,35 điểm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực Dịch vụ giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp lớn nhất vào mức tăng GRDP của tỉnh. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch tăng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Xét về mức độ đóng góp của các ngành trong khu vực Dịch vụ như sau: Bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,72% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp là 1,16 điểm phần trăm; Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 7,55%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; Giáo dục và đào tạo tăng 6,16%, đóng góp 0,38 điểm; Hoạt động của đảng cộng sản, tổ chức chính trị xã hội tăng 6,34%, đóng góp 0,25 điểm; Hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,58%, đóng góp là 0,29 điểm. Mặc dù không có ngành nào tăng trưởng âm, tuy nhiên một số ngành còn lại tăng thấp hoặc đóng góp ít như: Hoạt động kinh doanh bất động sản chỉ tăng 3,23%, đóng góp 0,11 điểm; ngành nghệ thuật vui chơi, giải trí tuy tăng 7,21% nhưng chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế... Trong khu vực Công nghiệp và Xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cao, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,51%, đóng góp 2,09 điểm phần trăm. Một số ngành có mức tăng trưởng tích cực trong ngành công nghiệp chính là: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,44%, đóng góp 0,98 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,06%, đóng góp 1,03 điểm là do trong quý II, tỉnh có 02 dự án điện gió Cư Né 1, Cư Né 2 đi vào hoạt động và phát điện thương mại, ngành khai khoáng tăng 9,59%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,47%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành Xây dựng tăng 7,19%, đóng góp 0,42 điểm phần trăm. Trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh và phục vụ xuất khẩu. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 6,12% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 1,33 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,02% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 5,26%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm. So với cùng kỳ năm trước, Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng cao, tăng 7,3%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm, chủ yếu là do thuế giá trị gia tăng và các loại thuế sản phẩm khác còn lại tăng 7,39%, đóng góp 0,35 điểm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Nhìn chung, GRDP 6 tháng đầu năm duy trì mức tăng khá, song vẫn chưa đạt kịch bản tăng trưởng của tỉnh. Nguyên nhân chủ yếu là khu vực Công nghiệp - Xây dựng và khu vực Dịch vụ đều tăng thấp hơn mức tăng theo kịch bản đề ra. Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 (theo giá hiện hành): Giá trị tổng sản phẩm ước đạt 100.145,3 tỷ đồng, đạt 39,44% KH năm. Trong đó: Khu vực Nông lâm, nghiệp và thủy sản ước đạt 25.607,2 tỷ đồng, đạt 27,03% kế hoạch, chiếm 25,57% trong giá trị tổng sản phẩm, giảm 0,53 điểm phần trăm so với tỷ trọng nền kinh tế cùng kỳ năm trước; Khu vực Công nghiệp - Xây dựng đạt 22.209,4 tỷ đồng, đạt 46,05% so kế hoạch, chiếm 22,18%, tăng 0,47 điểm phần trăm; Khu vực Dịch vụ đạt 47.533,7 tỷ đồng, đạt 46,75% kế hoạch, chiếm 47,46%, tăng 0,08 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt gần 4.795 tỷ đồng, đạt 51,59% kế hoạch năm, chiếm 4,79%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm trước. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục phát triển, sản lượng lúa Đông Xuân tăng so với cùng kỳ năm trước, sản lượng cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Số lượng đầu con chăn nuôi tuy giảm nhưng sản lượng thịt hơi tăng đáp ứng nhu cầu thực phẩm của người dân. Diện tích rừng trồng mới tăng cao, hoạt động khai thác gỗ được đẩy mạnh do nhu cầu xuất khẩu gỗ tăng cao. Hoạt động sản xuất thủy sản đạt kết quả tích cực, đặc biệt nuôi tôm hùm và khai thác hải sản, nhất là cá ngừ đại dương. a) Nông nghiệp Diện tích gieo trồng lúa Đông Xuân trên địa bàn tỉnh đạt 76.956 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Đến nay, lúa vụ Đông xuân đã thu hoạch xong với năng suất ước đạt 76 tạ/ha, giảm 0,93 tạ/ha; Sản lượng ước đạt 584.866 tấn, tăng 0,08% so với vụ Đông xuân năm trước. Tính đến ngày 20/6, toàn tỉnh gieo trồng được 23.700 ha lúa hè thu, tăng 0,77% so với cùng kỳ năm trước; hơn 52.248 ha lúa mùa, tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Cũng tại thời điểm trên, các địa phương trên toàn tỉnh đã gieo trồng được: Ngô 37.600 ha, tăng 0,56%, sản lượng ước đạt 35.646 tấn, tăng 5,93%; khoai lang 3.720 ha, tăng 0,35%, sản lượng ước đạt 64.210 tấn, tăng 16,54%; đậu tương 218 ha, tăng 1,40%, sản lượng ước đạt 58 tấn, giảm 4,92%; lạc 2.090 ha, tăng 0,34%, sản lượng ước đạt 1.750 tấn, tăng 14,53%; rau các loại 14.010 ha, tăng 1,17%, sản lượng ước đạt 187.201 tấn, tăng 5,38%; đậu các loại 8.500 ha, tăng 0,71%, sản lượng ước đạt 2.693 tấn, tăng 8,33% so với cùng kỳ năm trước. Ước 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng lương thực có hạt đạt 620.512 tấn, tăng 0,39% so với chính thức năm trước. Diện tích cây lâu năm toàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 ước tính 392.169 ha, tăng 0,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích một số cây công nghiệp lâu năm chủ yếu là điều 26.250 ha, giảm 0,6%; cà phê 217.700 ha, tăng 0,02%; cao su 33.200 ha, tăng 0,15%; hồ tiêu 28.643 ha, giảm 0,56%. Sản lượng thu hoạch điều 40.850 tấn, tăng 4,8%; mủ cao su 24.200 tấn, tăng 4,21%; hồ tiêu 82.450 tấn, tăng 4,74%. Sản lượng một số cây ăn quả tăng so với cùng kỳ năm trước: Xoài 6.710 tấn, tăng 4,78%; chuối 50.899 tấn, tăng 6,52%; sầu riêng 72.969 tấn, tăng 13,27%; chanh leo 13.600 tấn, tăng 1,85%... Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước([1]). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát([2]). Ước số lượng đàn trâu 28.779 con, giảm 4,11% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 385.314 con, giảm 3,11%; đàn lợn 1.015.663 con, giảm 0,41%; đàn gia cầm 22.638 nghìn con, giảm 2,67%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng: Trâu 1.837 tấn, tăng 4,49%; bò 20.788 tấn, tăng 3,37%; lợn 124.223 tấn, tăng 6,24%; gia cầm 518.573 tấn, tăng 5,94%; trứng gia cầm 451,66 triệu quả, tăng 5,68%. b) Lâm nghiệp Diện tích rừng trồng mới tập trung 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.725 ha, tăng 5,05%. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 1,5 nghìn cây, tăng 7,1%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 827.982 m³, tăng 5,05%. Sản lượng củi đạt 467.395 ste, tăng 5,0%. Diện tích rừng bị thiệt hại của cả tỉnh 6 tháng đầu năm là 76,14 ha, giảm 37,88% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích rừng bị chặt, phá là 76,14 ha, giảm 37,88%; diện tích rừng bị cháy là 0 ha. Toàn tỉnh đã xảy ra 429 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 275 vụ phá rừng. Tang vật vi phạm gồm: Phương tiện, máy móc, công cụ tạm giữ 117 loại; gỗ các loại 145,9 m3. c) Thủy sản Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 67.108 tấn, tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 52.305 tấn, tăng 3,36%; tôm đạt 7.430 tấn, tăng 6,92%; thuỷ sản khác đạt 7.373 tấn, tăng 26,92%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm ước đạt 16.978 tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 9.029 tấn, tăng 5,42%, tôm đạt 6.965 tấn, tăng 5,38%; thuỷ sản khác đạt 985 tấn, tăng 5,42%. Sản lượng thủy sản khai thác được 50.130 tấn, tăng 6,08%, bao gồm: Cá đạt 43.277 tấn, tăng 2,94%; tôm đạt 465 tấn, tăng 37,06%; thuỷ sản khác đạt 6.388 tấn, tăng 31,04%. d) Phát triển nông thôn Đến nay, lũy kế toàn tỉnh có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới; qua rà soát sơ bộ tại 88 xã, toàn tỉnh đạt 224/880 tiêu chí, bình quân 2,55 tiêu chí/xã([3]). Chương trình OCOP tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông thôn và quảng bá sản phẩm đặc trưng của tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 762 sản phẩm OCOP của 374 chủ thể; trong đó có 02 sản phẩm 5 sao, 60 sản phẩm 4 sao, 603 sản phẩm 3 sao và 97 sản phẩm hết hạn. 3. Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 ước tính tăng 14,04% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 12,82%; Chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,72%; Chỉ số ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,81%; Chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,90%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu so với cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng khác đạt 1.170,3 nghìn m³, tăng 15,17%; thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên đạt 844,8 triệu viên, tăng 33,52%; vỏ bào, dăm gỗ đạt 102.341,0 tấn, tăng 9,98%; cá ngừ đóng hộp đạt 4.003,1 tấn, tăng 27,23%; cà phê bột các loại đạt 31.835,8 tấn, tăng 24,59%; hạt điều khô đạt 50.949,6 tấn, tăng 6,25%; bia đóng chai đạt 39.859,8 nghìn lít, tăng 5,56%; gạch xây dựng bằng đất sét nung đạt 112.255,6 nghìn viên, tăng 15,56%; bộ com-lê, quần áo đồng bộ… đạt 9.655,9 nghìn cái, tăng 9,85%; điện sản xuất đạt 4.840,2 triệu kWh, tăng 27,83%([4]); điện thương phẩm đạt 2.122,8 triệu kWh, tăng 5,73%; nước uống được đạt 31.608,0 nghìn m³, tăng 10,59%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế đạt 78.057,6 triệu đồng, tăng 5,39%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm 2026 tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2026 tăng 6,36% so với tháng trước và giảm 4,51% so với cùng thời điểm năm trước. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 giảm 0,32% so với cùng kỳ năm trước. 4. Số lượng đăng ký doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng cao nhờ “động lực” của Nghị quyết 68 và Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 1.991 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 16.200 tỷ đồng (tăng 34,53% về số doanh nghiệp nhưng giảm 28,92% về số vốn so với cùng kỳ năm trước), có 442 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 29,62%). Bình quân 01 tháng có 406 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 33,61% so với cùng kỳ năm trước Bên cạnh đó, có 428 doanh nghiệp giải thể (tăng 98,15%) và 1.209 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 12,26%) so với cùng kỳ năm trước. Bình quân một tháng có 273 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 26,60% so với cùng kỳ năm trước. b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp chế biến, chế tạo Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 cho thấy có 42,22% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh thuận lợi hơn so với quý trước; 42,22% số doanh nghiệp cho rằng tình hình ổn định và 15,56% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn. Dự kiến quý III/2026, có 34,44% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ thuận lợi hơn so với quý II/2026; 47,78% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh ổn định và 17,78% số doanh nghiệp cho rằng sẽ gặp khó khăn hơn. 5. Hoạt động thương mại, vận tải, du lịch 6 tháng đầu năm nay duy trì đà tăng trưởng khá, thị trường hàng hóa ổn định, nguồn cung dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng. Nhiều chương trình khuyến mại, hội chợ và sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch được tổ chức, góp phần kích cầu tiêu dùng và thu hút du khách. Đặc biệt, việc Buôn Ma Thuột được National Geographic vinh danh là một trong 15 điểm đến ẩm thực tuyệt vời nhất thế giới năm 2026 đã góp phần nâng cao hình ảnh và sức hút du lịch của tỉnh. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 105.130,4 tỷ đồng, tăng 15,74% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 86.912,4 tỷ đồng, tăng 15,05%; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 11.903,6 tỷ đồng, tăng 19,78%; Dịch vụ lữ hành và hỗ trợ du lịch đạt 85,5 tỷ đồng, tăng 41,37%; Dịch vụ khác đạt 6.228,9 tỷ đồng, tăng 17,70% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 5.796,5 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách đạt 1.656,7 tỷ đồng, tăng 16,01%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 3.462,8 tỷ đồng, tăng 14,32%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 361,5 tỷ đồng, tăng 18,95%; bưu chính chuyển phát đạt 315,5 tỷ đồng, tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển và luân chuyển hành khách ước đạt 15.034 ngàn lượt hành khách và 2.031 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,67% về khối lượng vận chuyển và tăng 14,23% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển và luân chuyển hàng hóa ước đạt 9.196 nghìn tấn và 2.858 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,23% về khối lượng vận chuyển và tăng 12,12% về khối lượng luân chuyển. Tổng lượt khách du lịch đến Đắk Lắk 6 tháng đầu năm nay ước đạt 5.330.000 lượt khách, tăng 37,19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: có 78.500 lượt khách quốc tế, tăng 34,65%([5]). Riêng số lượt khách do các cơ sở lưu trú trên địa bàn phục vụ đạt 3.447.425 lượt, tăng 21,33%, trong đó lượt khách ngủ qua đêm là 2.481.834 lượt, tăng 21,72%; khách trong ngày là 965.591 lượt, tăng 20,33%. Lượt khách theo tour do đơn vị du lịch lữ hành phục vụ là 22.671 lượt, tăng 85,58%, trong đó khách đi trong nước là 22.671 lượt, tăng 108,22%. 6. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 27.174,5 tỷ đồng, tăng 2,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn nhà nước đạt 8.588,6 tỷ đồng, giảm 5,14%; vốn ngoài nhà nước đạt 18.297,8 tỷ đồng, tăng 11,38%([6]); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 288,1 tỷ đồng, giảm 73,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến hết ngày 30/6/2026, các đơn vị, chủ đầu tư đã giải ngân 2.664,6 tỷ đồng, đạt 27,91% KH địa phương giao, đạt 28,92% KH Thủ tướng Chính phủ giao. Tỉnh đã công bố danh mục 257 dự án thu hút đầu tư giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn đầu tư khoảng 1.032 nghìn tỷ đồng, tạo cơ sở để các nhà đầu tư nghiên cứu, khảo sát và đề xuất phương án đầu tư phù hợp. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 29 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 25.808 tỷ đồng; đồng thời điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 33 dự án, trong đó có 09 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký tăng thêm hơn 1.133,4 tỷ đồng, góp phần huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, bổ sung năng lực sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 7. Các hoạt động xây dựng của tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị, thủy lợi và hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; đồng thời đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân các công trình, dự án trọng điểm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất (giá so sánh 2020) đạt 15.754,7 tỷ đồng, tăng 7,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xây dựng nhà các loại đạt 6.749,3 tỷ đồng, giảm 0,02% so với cùng kỳ năm trước; xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng đạt 8.216,0 tỷ đồng, tăng 9,51% và hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 789,4 tỷ đồng, tăng 74,97%. Một số công trình trọng điểm đóng góp lớn vào giá trị sản xuất ngành xây dựng 6 tháng đầu năm nay: Dự án thành phần 3 cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột giai đoạn 1, tuyến đường Cảng Bãi Gốc – KKT Nam Phú Yên – QL1 – KKT Vân Phong; tiểu dự án WEIDAP-ADB8, hồ chứa nước Yên Ngựa, hệ thống trạm bơm và thủy lợi Dur Kmăl, hồ Krông Pắc thượng giai đoạn 2 và hệ thống kênh mương hồ Ea H’Leo 1… 8. Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước; chi ngân sách Nhà nước giảm 13,17%, cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 8.945,7 tỷ đồng, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa đạt 8.846,0 tỷ đồng, tăng 3,19%, chiếm 98,89% tổng thu; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 87,4 tỷ đồng, giảm 8,78%; thu viện trợ đạt 12,3 tỷ đồng, tăng 12,42%. Tổng chi ngân sách Nhà nước ước đạt 23.078,6 tỷ đồng, giảm 13,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi thường xuyên đạt 15.184,0 tỷ đồng, giảm 7,47%, chiếm 65,79% tổng chi; chi đầu tư phát triển đạt 7.891,5 tỷ đồng, giảm 22,38%, chiếm 34,19% tổng chi. 9. Các hoạt động ngân hàng, tín dụng có tốc độ tăng trưởng tốt, đáp ứng nhu cầu huy động vốn và cho vay kịp thời phát triển kinh tế tại địa phương. Tỷ lệ tham gia BHYT duy trì ở mức cao, gần hoàn thành kế hoạch năm. Tổng nguồn vốn huy động 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 177.350 tỷ đồng, tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; dư nợ cho vay ước đạt 281.300 tỷ đồng, tăng 16,00%; nợ xấu toàn tỉnh ước khoảng 2.800 tỷ đồng, dưới 1% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh ước đạt 15.850 tỷ đồng, tăng 15,42% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.218,0 tỷ đồng, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi từ BHXH, BHYT, BHTN là 5.281,3 tỷ đồng, tăng 7,19%. Ước số người tham gia bảo hiểm y tế là 2.695.000 người, đạt 99,10%, tăng 5,44%. 10. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 6 tháng năm 2026 ước đạt 2.157 triệu USD, tăng 6,35%; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 997 triệu USD, giảm 1,32% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.577 triệu USD, đạt 53,99% kế hoạch, tăng 3,80% so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản duy trì ở mức cao, góp phần làm kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, vượt kế hoạch đề ra. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 580 triệu USD, đạt 66,67% kế hoạch, tăng 13,95% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, cà phê hạt, phân bón, hàng rau quả, hạt điều và các mặt hàng khác để phục vụ kinh doanh, sản xuất. 11. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do ảnh hưởng của kinh tế thế giới, giá xăng dầu biến động liên tục đã làm tăng chi phí vận chuyển, giá nguyên vật liệu sản xuất kéo theo giá tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu tăng; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở, đặc biệt là cát, đá, gạch tăng cao do nguồn cung giảm. a) Chỉ số giá tiêu dùng Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,99%. Có 10/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở, điện, nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 12,18%. Chỉ có 01 nhóm hàng giảm giá đó là nhóm thông tin và truyền thông giảm 1,50% so với cùng kỳ năm trước. b) Chỉ số giá vàng, giá đô la Mỹ Giá vàng trong nước 6 tháng đầu năm 2026 biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá đô la tăng là do tình hình chính trị căng thẳng ở một số quốc gia lớn trên thế giới. Sức mua của loại hàng hóa này cũng ở mức bình thường. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, giá vàng tăng 61,28%; giá đô la Mỹ tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước. II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước 6 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước, thị trường lao động của tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực. Cùng với sự phục hồi của hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự phát triển của các ngành kinh tế, số người có việc làm đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp vẫn có xu hướng tăng, phản ánh áp lực của thị trường lao động trong bối cảnh nguồn cung lao động tăng nhanh và quá trình chuyển dịch việc làm diễn ra mạnh mẽ. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.642,92 nghìn người, tăng 30,40 nghìn người (tăng 1,89%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lực lượng lao động khu vực thành thị chiếm 27,45%, tăng 6,78%; khu vực nông thôn tăng 0,15%. Chia theo giới tính, lực lượng lao động nam chiếm 53,51%, tăng 1,00%; lực lượng lao động nữ tăng 2,92%. Số người có việc làm từ 15 tuổi trở lên ước đạt 1.610,99 nghìn người, tăng 25,26 nghìn người (tăng 1,59%) so với cùng kỳ năm trước. Chia theo khu vực, lao động có việc làm ở khu vực thành thị chiếm 27,27%, tăng 7,07%; khu vực nông thôn giảm 0,32%. Chia theo giới tính, lao động nam chiếm 53,40%, giảm 0,16%; lao động nữ tăng 3,68%. Cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, với tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm, trong khi tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng so với cùng kỳ năm trước. Lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 58,63% tổng số lao động có việc làm, giảm 3,29 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 14,09%, tăng 0,75 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 27,28%, tăng 2,54 điểm phần trăm. Thu nhập bình quân tháng của người lao động làm công hưởng lương ước 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8.353 nghìn đồng, tăng 367 nghìn đồng (tăng 4,60%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động nam có thu nhập bình quân gấp 1,14 lần mức thu nhập bình quân của lao động nữ; lao động làm việc tại khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân gấp 1,22 lần so với khu vực nông thôn. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động 6 tháng đầu năm ước đạt 1,94%, tăng 0,28 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình trạng thiếu việc làm vẫn còn xảy ra ở một bộ phận lao động nông thôn, lao động thời vụ và lao động chưa qua đào tạo nghề. Bên cạnh đó, sự chênh lệch giữa yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và trình độ, kỹ năng của người lao động, cùng với khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của một số doanh nghiệp, tiếp tục ảnh hưởng đến việc làm của người lao động. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các chính sách về lao động, việc làm, góp phần hỗ trợ tạo việc làm và phát triển thị trường lao động. Ước tính toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 27.600 người, tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó có khoảng 1.750 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tăng 16,66%. Công tác hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm tiếp tục phát huy hiệu quả. Ngân hàng Chính sách xã hội đã giải quyết cho 12.306 dự án vay vốn hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm với tổng số tiền 880,1 tỷ đồng, góp phần tạo việc làm cho 12.306 lao động (trong đó có 5.612 lao động nữ); đồng thời hỗ trợ 41 người vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với tổng số tiền 3,2 tỷ đồng. Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp được triển khai hiệu quả. Trung tâm Dịch vụ việc làm đã tư vấn việc làm, nghề nghiệp và chính sách cho 43.670 lượt người, giới thiệu việc làm cho 3.850 lượt người; tham mưu ban hành 7.955 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền chi trả hơn 161 tỷ đồng, đồng thời hỗ trợ đào tạo nghề cho 750 người. 2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Đời sống của các hộ dân cư trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định; các chính sách an sinh xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Công tác bảo trợ xã hội, chăm sóc các nhóm yếu thế và bảo vệ trẻ em tiếp tục được thực hiện đúng đối tượng. Duy trì trợ giúp xã hội thường xuyên cho 157.814 đối tượng, kinh phí gần 110,7 tỷ đồng/tháng. Toàn tỉnh quản lý hơn 128 nghìn hồ sơ người có công; hơn 17 nghìn lượt đối tượng hưởng trợ cấp hằng tháng với kinh phí hơn 52 tỷ đồng/tháng. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã thăm, tặng quà người có công và gia đình chính sách với tổng kinh phí hơn 43,4 tỷ đồng. Đồng thời, thực hiện tặng quà cho 169.000 đối tượng bảo trợ xã hội, hưởng trợ cấp hưu trí xã hội và các đối tượng khác với tổng kinh phí hơn 71,2 tỷ đồng. Bên cạnh đó, hoàn thành “Chiến dịch Quang Trung”, sửa chữa 892/892 nhà hư hỏng nặng và xây dựng mới 606/606 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi bảo đảm người dân có nhà ở ổn định để đón Tết. UBND tỉnh tổ chức Lễ khởi công xây dựng 100 nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp phòng tránh lũ giai đoạn 1, phấn đấu hoàn thành trước ngày 15/9/2026, kịp thời phục vụ công tác ứng phó trong mùa mưa lũ. 3. Giáo dục - Đào tạo Lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục được tỉnh quan tâm chỉ đạo, triển khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả tích cực. Chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được khẳng định với 114 học sinh đạt giải tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT năm học 2025 – 2026([7]). Tỉnh đã tổ chức khởi công xây dựng các Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở (tại xã Ea Rốk và xã Ea Bung). Hệ thống cơ sở giáo dục do địa phương quản lý gồm 1.378 cơ sở([8]), với 38.089 cán bộ quản lý, giáo viên và 711.235 học sinh, học viên. Tính đến tháng 6/2026, tỉnh có 838/1.351 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 62%, tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt khoảng 83,5%. Các chỉ tiêu huy động học sinh đến trường tiếp tục duy trì ở mức cao([9]). Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2026 trên địa bàn tỉnh có 64 điểm thi chính thức, 55 điểm thi dự phòng; 1.500 phòng thi chính thức phân bổ đều tại các địa phương. Tổng số thí sinh đăng ký dự thi là 35.500 thí sinh, bao gồm: 33.857 thí sinh lớp 12 và 1.643 thí sinh tự do. 4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Trong 6 tháng đầu năm 2026, các cơ sở y tế đã khám hơn 1,5 triệu lượt người, điều trị nội trú cho gần 187 nghìn lượt và điều trị ngoại trú cho hơn 56 nghìn lượt. Số giường bệnh đạt 31,5 giường/vạn dân; số bác sĩ đạt 9,06 bác sĩ/vạn dân. Công tác y tế dự phòng tiếp tục được triển khai; toàn tỉnh ghi nhận 1.284 ca mắc bệnh tay chân miệng, 872 ca mắc bệnh sốt xuất huyết, 217 ca mắc bệnh thủy đậu, 04 ca mắc bệnh sởi, 02 ca mắc viêm não mô cầu (trong đó có 01 trường hợp tử vong), 02 ca mắc bệnh dại (02 trường hợp tử vong) và không có ca mắc viêm não Nhật Bản. Tích lũy đến nay (kể từ khi phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên trên địa bàn tỉnh) có 2.418 ca nhiễm HIV, trong đó 722 bệnh nhân HIV tử vong. Đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc cho người dân giai đoạn 2026 – 2030([10]) thực hiện tại 4 địa phương trong tháng 6/2026 và triển khai đồng loạt từ ngày 01/7/2026. Về ngộ độc thực phẩm, trong 6 tháng đã xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm với 92 người mắc và nhập viện điều trị, không có trường hợp tử vong; so với cùng kỳ năm trước, giảm 01 vụ nhưng tăng 78 người mắc. 5. Các hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, sôi nổi, bám sát nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng của đất nước và của tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động phục vụ Tết Nguyên đán, kỷ niệm các ngày lễ lớn, tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; đồng thời tổ chức các chương trình nghệ thuật, triển lãm chuyên đề, hoạt động trải nghiệm văn hóa. Tỉnh đang tập trung chuẩn bị tổ chức Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 và Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 10 năm 2027. Thể thao thành tích cao tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Tỉnh duy trì đào tạo, huấn luyện 18 môn với 478 vận động viên; tính đến ngày 03/6/2026, các vận động viên của tỉnh đạt 102 huy chương (gồm 20 huy chương vàng, 31 huy chương bạc và 51 huy chương đồng) tại các giải quốc tế, quốc gia và khu vực. 6. Tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục giảm ở cả ba tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương Tính chung từ ngày 16/12/2025 đến ngày 15/6/2026, toàn tỉnh xảy ra 223 vụ tai nạn giao thông, làm 176 người chết, 104 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 21,48%; số người chết giảm 15,79% và số người bị thương giảm 40,91%. 7. Thiên tai, vi phạm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương. Thiệt hại do thiên tai: Tính đến ngày 25/6/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ thiên tai; làm 01 người chết, 01 người bị thương; 85 căn nhà bị hư hại; 29 ha lúa và 11,8 ha hoa màu bị thiệt hại. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai ước tính khoảng 2.859 triệu đồng. Các địa phương đã chủ động triển khai các phương án phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai; kịp thời hỗ trợ người dân ổn định đời sống và khôi phục sản xuất tại các khu vực bị ảnh hưởng. Vi phạm môi trường: Tính chung từ 16/12/2025 đến ngày 15/6/2026, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 70 vụ vi phạm môi trường, xử lý 65 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.319,0 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm được phát hiện tăng 18,64%; số vụ đã xử lý tăng 44,44%; số tiền xử phạt giảm 54,15%. Cháy, nổ: Tính chung từ ngày 16/12/2025 đến ngày 15/6/2026, toàn tỉnh xảy ra 22 vụ cháy, nổ, làm 04 người chết, 01 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 4.145,9 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ gấp 2,4 lần, số người chết tăng 04 người, số người bị thương không thay đổi, giá trị tài sản thiệt hại gấp 4,5 lần./. THỐNG KÊ TỈNH ĐẮK LẮK [1] Do chịu tác động của giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, chi phí sản xuất tăng và dịch bệnh trên vật nuôi còn tiềm ẩn, chăn nuôi trâu, bò lấy thịt có hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả thu hẹp. [2] Lũy kế từ đầu năm đến nay, dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 111 hộ, 53 thôn, buôn, 28 xã, phường, đã làm chết và tiêu huỷ 8.515 con lợn (khối lượng tiêu huỷ là 446.861 kg). [3] Trong đó có 02 xã đạt 8 tiêu chí, 01 xã đạt 7 tiêu chí, 07 xã đạt 6 tiêu chí, 08 xã đạt 5 tiêu chí, 08 xã đạt 4 tiêu chí, 10 xã đạt 3 tiêu chí, 22 xã đạt 2 tiêu chí, 13 xã đạt 1 tiêu chí và 17 xã chưa đạt tiêu chí nào. [4] Nhà máy điện gió Cư Né 2 và Cư Né 1 với công suất 50MW/nhà máy đã đi vào hoạt động vận hành thương mại, tạo thêm động lực cho ngành sản xuất và phân phối điện. [5] Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk [6] Trong đó, vốn đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 6.094,4 tỷ đồng, tăng 7,42% so với cùng kỳ năm trước do nhiều công trình chuyển tiếp tiếp tục được thi công, một số dự án được đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Vốn đầu tư của dân cư đạt 12.203,4 tỷ đồng, tăng 13,47% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở và mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh của các hộ cá thể tăng. [7] Cụ thể: 03 giải Nhất, 21 giải Nhì, 34 giải Ba, 56 giải Khuyến khích. [8] Gồm: 452 trường mầm non, 456 trường tiểu học, 349 trường trung học cơ sở, 94 trường trung học phổ thông, 24 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX), 01 trường Cao đẳng Sư phạm và 02 trường Trung cấp. Ngoài ra, trên địa bàn còn có 07 trường đại học, 01 học viện, 11 trường cao đẳng và 03 trường trung cấp thuộc các bộ, ngành. [9] Trong đó: Trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,98%; trẻ từ 11 - 14 tuổi vào lớp 6 đạt 99,97%; học sinh 15 tuổi vào lớp 10 đạt 76,01%. [10] Nhằm triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, tỉnh đã ban hành Kế hoạch.
Thống kê tỉnh tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026
- 09/07/2026 11:15
Sáng ngày 06/7/2026, Thống kê tỉnh đã tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội (KTXH) tháng đầu năm 2026 của tỉnh Đắk Lắk. Ông Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê tỉnh Đắk Lắk, chủ trì buổi họp báo.Ông Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê, chủ trì buổi Họp báo Tham dự họp báo còn có ông Nguyễn Quang Phước, ông Cao Thanh Sơn Phó Trưởng Thống kê; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương; lãnh đạo, quản lý các Phòng nghiệp vụ và toàn thể công chức văn phòng Thống kê tỉnh tham dự. Tại buổi họp báo, Ông Hồ Ngọc Quang, Trưởng Thống kê đã thông tin khái quát về bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026, trong đó nhấn mạnh những thuận lợi, khó khăn đan xen khi kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều biến động phức tạp, thiên tai, biến đổi khí hậu diễn biến bất thường. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh cùng sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, tình hình KTXH của tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực. Theo đó, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh theo giá so sánh năm 2020 ước đạt 79.499,8 tỷ đồng, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng chính, đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế; khu vực công nghiệp - xây dựng duy trì đà phục hồi tích cực; sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển ổn định.Các phóng viên chụp ảnh đưa tin Lĩnh vực nông nghiệp tiếp tục phát huy vai trò trụ đỡ của nền kinh tế với nhiều sản phẩm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng duy trì tăng trưởng và khẳng định vị thế trên thị trường. Trong khi đó, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,04% so với cùng kỳ năm trước, nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo ghi nhận mức tăng trưởng khá. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế địa phương. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt hơn 105 nghìn tỷ đồng, tăng 15,74% so với cùng kỳ năm trước. Tổng lượt khách du lịch đến Đắk Lắk đạt khoảng 5,33 triệu lượt, tăng hơn 37%, trong đó khách quốc tế tăng gần 35%. Công tác thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp đạt nhiều kết quả tích cực. Trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh có gần 2.000 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 16.200 tỷ đồng; đồng thời tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 29 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 25.800 tỷ đồng. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm triển khai hiệu quả. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương. Bên cạnh những kết quả đạt được, Trưởng Thống kê tỉnh cũng thẳng thắn nhìn nhận một số khó khăn, thách thức như tăng trưởng khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chưa đạt kịch bản đề ra; giải ngân vốn đầu tư công còn thấp; thiên tai, cháy nổ và vi phạm môi trường vẫn ảnh hưởng đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh tại một số địa phương.Phóng viên Kim Bảo - Cổng thông tin điện tử tỉnh đặt câu hỏi Buổi họp báo cũng dành thời gian trao đổi, giải đáp các câu hỏi của phóng viên báo đài về tình hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, vốn đầu tư thực hiện, các dự án công trình, trọng điểm, thiệt hại do thiên tai, động lực phát triển kinh tế năm 6 tháng đầu năm 2026. Các câu hỏi của các phóng viên được Trưởng Thống kê tỉnh trả lời rất rõ ràng, cụ thể. Bên cạnh đó, lãnh đạo các Sở, ban ngành trên địa bàn tỉnh đã cùng với ngành thống kê trả lời câu hỏi của các phóng viên báo, đài.Ông Võ Đình Tiến, Phó Giám đốc Sở Tài chính trả lời câu hỏi của phóng viên. Kết thúc buổi họp báo, ông Hồ Ngọc Quang, chủ trì buổi họp báo cho biết, trong 6 tháng cuối năm 2026, tỉnh sẽ tiếp tục tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra. Trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ và phát huy tiềm năng, lợi thế của các ngành hàng chủ lực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành kế hoạch tăng trưởng cả năm 2026. Từ những ý nghĩa trên, buổi họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 không chỉ là hoạt động thông tin - truyền thông thường niên, mà còn góp phần quan trọng vào việc hoạch định chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn tiếp theo./.Nguồn: Phòng Thống kê Tổng Hợp
Hệ Thống ngành sản phẩm Việt Nam (theo QĐ số 32/2026/QĐ-TTG ngày 29/6/2026)
- 08/07/2026 07:17
HỆ THỐNG NGÀNH SẢN PHẨM VIỆT NAM Mỗi sản phẩm trong nền kinh tế đều có một “mã ngành sản phẩm” để phục vụ công tác thống kê.Nhằm chuẩn hóa việc phân loại sản phẩm, nâng cao chất lượng thông tin thống kê và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2026/QĐ-TTg ngày 29/6/2026 về Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 14/8/2026.
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh Đắk Lắk mở rộng và đánh giá chất lượng Đảng viên quý II năm 2026
- 03/07/2026 11:21
Ngày 03 tháng 7 năm 2026 tại tỉnh Đắk Lắk, Đảng bộ Thống kê tỉnh đã trang trọng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh Đắk Lắk mở rộng và đánh giá chất lượng Đảng viên quý II năm 2026, đồng chí Hồ Ngọc Quang, Bí thư Đảng ủy chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Quang Phước, Phó Bí thư đảng ủy; đồng chí Cao Thanh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ, chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy; các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, cấp ủy các chi bộ trực thuộc, các thành viên Ủy ban Kiểm tra đảng ủy; lãnh đạo, quản lý các phòng nghiệp vụ, các Thống kê cơ sở. Phát biểu khai mạc hội nghị, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong quý II/2026, thời điểm khởi động các nhiệm vụ thống kê trọng yếu của cả năm. Đồng chí đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của các chi bộ, đảng viên, qua đó góp phần bảo đảm tiến độ thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác chuyên môn của ngành. Tại hội nghị, đồng chí Võ Trường Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ đảng ủy đã triển khai công tác rà soát, quy hoạch các chức danh thuộc Ban Thường vụ, Ban Chấp hành và Ủy ban Kiểm tra nhiệm kỳ 2025-2030, nhiêm kỳ 2030-2035; đồng thời tổ chức bỏ phiếu lựa chọn, giới thiệu nhân sự đối với các chức danh theo đúng quy định và hướng dẫn của Đảng ủy cấp trên. Quá trình rà soát, quy hoạch và giới thiệu nhân sự được thực hiện bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch và khách quan. Các đại biểu tham dự hội nghị đã phát huy tinh thần trách nhiệm, nghiên cứu kỹ lưỡng và tham gia đóng góp ý kiến, bỏ phiếu với sự thống nhất cao. Kết quả hội nghị là cơ sở quan trọng để cấp ủy xem xét, hoàn thiện phương án nhân sự theo đúng quy trình, quy định hiện hành.Toàn cảnh Hội nghị Hội nghị cũng đã được nghe đồng chí Cao Thanh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm UBKT Đảng ủy trình bày báo cáo về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy Thống kê tỉnh trong thời gian qua. Báo cáo đã đánh giá toàn diện những kết quả đạt được trong việc triển khai thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát theo kế hoạch đề ra; đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cần khắc phục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó, đồng chí cũng nhấn mạnh vai trò của công tác kiểm tra, giám sát trong việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng. Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, hội nghị đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong 6 tháng cuối năm 2026. Các giải pháp tập trung vào việc tăng cường công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót, góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được giao. Trong phần thảo luận, các đại biểu đã tập trung phân tích những kết quả đạt được, đồng thời chỉ rõ những tồn tại cần khắc phục như: Công tác nghiệm thu Tổng điều tra Kinh tế 2026; biên soạn tính toán chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm cấp xã; công tác sinh hoạt chi bộ có nơi chưa thật sự đổi mới, việc triển khai học tập nghị quyết ở một số chi bộ còn hạn chế. Nhiều giải pháp được đề xuất, nhất là nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý đảng viên và nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong thực thi nhiệm vụ. Hội nghị cũng triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý III năm 2026, trong đó Đảng ủy yêu cầu các chi bộ bám sát kế hoạch của Đảng ủy cấp trên, tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền nhiệm vụ thống kê, triển khai hiệu quả các cuộc điều tra lớn, tăng cường công tác kiểm tra giám sát theo chương trình năm, và phát huy vai trò của đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Hội nghị cũng đã tổ chức thảo luận, đánh giá, phân loại đảng viên quý II năm 2026 theo đúng quy định và hướng dẫn của cấp trên. Các ý kiến tại hội nghị đã tập trung đánh giá toàn diện kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao của từng đảng viên. Việc đánh giá, phân loại được thực hiện trên tinh thần dân chủ, khách quan, công khai và đúng thực chất. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, phát huy những ưu điểm, đồng thời kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, tồn tại trong quá trình công tác và sinh hoạt Đảng. Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Bí thư Đảng ủy đề nghị toàn thể cấp ủy, đảng viên tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, chủ động trong công việc; đồng thời yêu cầu các chi bộ cụ thể hóa nghị quyết hội nghị thành chương trình hành động, góp phần xây dựng Đảng bộ Thống kê tỉnh Đắk Lắk ngày càng trong sạch, vững mạnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh Đắk Lắk mở rộng và đánh giá chất lượng Đảng viên quý II năm 2026 đã diễn ra trong không khí nghiêm túc, dân chủ, phát huy tinh thần trách nhiệm cao của các đại biểu tham dự và hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra, thành công tốt đẹp./.
Mô hình tăng trưởng mới: Mở đường băng cho khát vọng tăng trưởng 2 con số
- 24/06/2026 19:28
Phóng viên: Thưa ông, thời gian qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhiều chuyên gia kinh tế nhắc đến nhiều câu chuyện nền kinh tế Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ tăng trưởng kinh tế theo quy mô chiều rộng sang tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Vậy xin ông cho biết rõ hơn về khái niệm giữa hai mô hình tăng trưởng này?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Có thể hiểu một cách ngắn gọn, tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động và khai thác tài nguyên; còn tăng trưởng theo chiều sâu là tăng trưởng dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.Trong giai đoạn đầu phát triển, hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đều trải qua mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Nhờ huy động mạnh mẽ vốn đầu tư, tận dụng lợi thế lao động dồi dào, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài. Đây cũng là mô hình đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ một nước nghèo trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và quy mô kinh tế thuộc nhóm lớn trong khu vực với quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỷ USD xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN.Tuy nhiên, mô hình này có những giới hạn nhất định. Khi lao động giá rẻ dần mất đi do già hóa dân số, tài nguyên ngày càng hạn chế và hiệu quả đầu tư giảm dần, việc tiếp tục duy trì tăng trưởng cao chỉ bằng cách tăng vốn và lao động sẽ ngày càng khó khăn. Đây là thách thức mà nhiều quốc gia đang phát triển đã gặp phải khi bước vào giai đoạn thu nhập trung bình.Trong khi đó, tăng trưởng theo chiều sâu tập trung vào nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Cùng một lượng vốn và lao động nhưng nền kinh tế có thể tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn nhờ ứng dụng công nghệ mới và đổi mới phương thức sản xuất.Xét về bản chất, sự khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình nằm ở vai trò của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Nếu tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn và lao động thì tăng trưởng theo chiều sâu dựa nhiều hơn vào TFP, tức là phần tăng trưởng được tạo ra từ tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hiệu quả phân bổ nguồn lực.Đối với Việt Nam, việc chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu là yêu cầu khách quan và cấp thiết để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới. Đây cũng là lý do Đại hội XIV của Đảng xác định cần xây dựng mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu.Phóng viên: Ông có thể nói gì về quá trình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam trong thời gian qua? Mô hình tăng trưởng này của Việt Nam chủ yếu dựa vào những động lực nào, đâu là dấu hiệu cho thấy mô hình đó đã tới hạn và những rủi ro sẽ phải đối mặt nếu chúng ta tiếp tục duy trì thực hiện?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Sau Đổi mới, Việt Nam là một trong những quốc gia vận dụng khá thành công mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Trong điều kiện xuất phát điểm thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ và hạ tầng còn yếu kém, việc huy động tối đa các nguồn lực sẵn có đã giúp nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ba động lực chính của mô hình này là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mở rộng đầu tư của Nhà nước và khai thác lợi thế lao động giá rẻ. Nhờ đó, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7%/năm trong giai đoạn 1990-2010 và chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình từ năm 2008.Tuy nhiên, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần suy giảm hiệu quả và bộc lộ những giới hạn khách quan của giai đoạn phát triển mới. Hiệu quả sử dụng vốn có xu hướng giảm khi hệ số ICOR tăng từ khoảng 4 lần lên trên 6 lần, thậm chí có giai đoạn vượt 8 lần; nghĩa là nền kinh tế phải bỏ ra nhiều vốn hơn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng. Trong khi đó, đóng góp của TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2001-2010 chỉ khoảng 10%, cho thấy tăng trưởng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào vốn và lao động.Bên cạnh đó, khu vực FDI đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam; tuy nhiên, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước và lan tỏa công nghệ còn chưa tương xứng với tiềm năng. Năng lực công nghệ nội sinh, hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và khả năng tham gia vào các khâu có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Đồng thời, lợi thế lao động giá rẻ đang giảm dần khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số, còn dư địa mở rộng đầu tư ngày càng thu hẹp. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực cũ, nền kinh tế sẽ khó duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và đối mặt với nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Đây chính là lý do Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.Phóng viên: Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam xác định chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Ông có thể nói rõ hơn về các động lực tăng trưởng của mô hình mới thay thế mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động giá rẻ?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Xét dưới góc độ kinh tế học, bản chất của mô hình tăng trưởng mới là chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Thành công của mô hình tăng trưởng mới sẽ được phản ánh tập trung thông qua sự gia tăng của TFP. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn, lao động, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.Nếu mô hình tăng trưởng trước đây hướng tới mở rộng quy mô nguồn lực thì mô hình mới hướng tới tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực thông qua tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Động lực trung tâm của mô hình này là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khoa học công nghệ tạo ra tri thức và công nghệ mới; đổi mới sáng tạo chuyển các tri thức đó thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới; còn chuyển đổi số giúp lan tỏa nhanh hơn các thành tựu công nghệ vào toàn bộ nền kinh tế. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực sản xuất mới; trí tuệ nhân tạo đang trở thành lực lượng sản xuất mới; còn đổi mới sáng tạo đang trở thành phương thức chủ yếu để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định trong việc hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ. Cùng với đó là các dòng vốn chất lượng cao gắn với nghiên cứu phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước.Mục tiêu của mô hình tăng trưởng mới không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn mà là nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Đây chính là nền tảng để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Phóng viên: Theo ông, làm thế nào để Việt Nam có thể tận dụng hiệu quả các động lực tăng trưởng mới để Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030? Việt Nam có thể học được những bài học kinh nghiệm gì từ các quốc gia châu Á chuyển đổi nền kinh tế thành công, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và gia nhập vào nhóm quốc gia phát triển?Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Để khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp trọng tâm.Thứ nhất, tiếp tục đột phá về thể chế, trong nền kinh tế tri thức, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà còn là một nguồn lực phát triển. Cần xây dựng khung pháp lý thuận lợi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.Thứ hai, ưu tiên nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những lĩnh vực trực tiếp tạo ra năng suất mới và nâng cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng.Thứ ba, chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D), các ngành bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ xanh và các dự án có khả năng liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước.Thứ tư, phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, hình thành các doanh nghiệp có năng lực làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, công nghệ lõi và xây dựng thương hiệu trong chuỗi giá trị toàn cầu.Mặc dù có những con đường phát triển khác nhau, nhưng các nền kinh tế thành công ở châu Á đều có một điểm chung là chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên huy động nguồn lực sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo. Hàn Quốc thành công nhờ đầu tư mạnh cho R&D và phát triển các tập đoàn công nghệ toàn cầu; Đài Loan (Trung Quốc) lựa chọn đúng các ngành công nghệ mũi nhọn để tập trung nguồn lực phát triển; Singapore xây dựng thể chế minh bạch, môi trường kinh doanh thuận lợi và nguồn nhân lực chất lượng cao; Israel phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới; còn Trung Quốc đang chuyển mạnh từ “Made in China” sang “Created in China”, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, xe điện và kinh tế số.Đối với Việt Nam, bài học quan trọng nhất là phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp sang từng bước làm chủ công nghệ, dữ liệu, thiết kế và thương hiệu.Xét đến cùng, bản chất của đổi mới mô hình tăng trưởng là nâng cao đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây cũng chính là con đường để tạo ra năng suất mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, duy trì tăng trưởng cao, bền vững trong những thập niên tới và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.Nguồn: https://tapchikinhtetaichinh.vn